Gattaca
Gattaca
| |
|---|---|
Áp phích chiếu rạp của bộ phim | |
| Đạo diễn | Andrew Niccol |
| Tác giả | Andrew Niccol |
| Sản xuất | |
| Diễn viên | |
| Quay phim | Sławomir Idziak |
| Dựng phim | Lisa Zeno Churgin |
| Âm nhạc | Michael Nyman |
| Hãng sản xuất | |
| Phát hành | Sony Pictures Releasing |
Công chiếu |
|
Thời lượng | 106 phút |
| Quốc gia | Hoa Kỳ |
| Ngôn ngữ |
|
| Kinh phí | 36 triệu đô la Mỹ (USD) |
| Doanh thu | 12,5 triệu đô la Mỹ (chỉ tính nội địa) |
Gattaca là một bộ phim điện ảnh khoa học viễn tưởng đề tài phản địa đàng của Mỹ ra mắt năm 1997, do Andrew Niccol làm đạo diễn kiêm tác giả kịch bản, đánh dấu lần đầu ông chỉ đạo một tác phẩm điện ảnh. Phim có sự tham gia của Ethan Hawke và Uma Thurman trong vai chính, cùng các vai phụ do Jude Law, Loren Dean, Ernest Borgnine, Gore Vidal và Alan Arkin thủ diễn. Bộ phim khắc họa một xã hội tương lai bị chi phối bởi tư tưởng ưu sinh – nơi trẻ em được sinh ra thông qua quá trình lựa chọn gen nhân tạo nhằm đảm bảo chúng thừa hưởng những đặc tính di truyền tốt nhất từ cha mẹ. Nhân vật chính Vincent Freeman (do Hawke thủ vai) được thụ thai ngoài chương trình ưu sinh và phải vật lộn vượt qua sự kỳ thị di truyền để theo đuổi giấc mơ du hành vũ trụ.
Bộ phim đề cập đến những lo ngại về công nghệ sinh sản thúc đẩy thuyết ưu sinh, cùng những hệ quả tiềm ẩn của các tiến bộ công nghệ này đối với xã hội. Tác phẩm cũnɡ khai thác quan niệm về định mệnh và cách nó chi phối cuộc sống con người. Các nhân vật trong Gattaca không ngừng đấu tranh với xã hội và chính bản thân để tìm chỗ đứng trong thế giới, cũng như khám phá số phận được định đoạt bởi gen của họ.
Tựa phim được đặt dựa trên các chữ cái G, A, T và C – viết tắt của guanin, adenin, thymin và cytosine – bốn loại base nitơ cấu thành nên DNA. Năm 1997, phim từng được đề cử giải Oscar cho thiết kế sản xuất xuất sắc nhất và giải Quả cầu vàng cho nhạc phim hay nhất. Một phần phim truyền hình hậu truyện từng được phát triển cho kênh Showtime, nhưng đã bị hủy bỏ vào năm 2023.
Nội dung
[sửa | sửa mã nguồn]Trong một tương lai "không xa", chủ nghĩa ưu sinh trở nên phổ biến. Một cơ sở dữ liệu đăng ký di truyền sử dụng công nghệ sinh trắc học để phân loại những người được tạo ra theo phương pháp ưu sinh là "hợp chuẩn" (valids), trong khi những người được thụ thai tự nhiên với nguy cơ cao mắc các rối loạn di truyền bị xếp vào nhóm "không hợp chuẩn" (in-valids). Phân biệt đối xử dựa trên gen là bất hợp pháp nhưng trên thực tế, việc xét nghiệm kiểu gen được sử dụng để xác định người "hợp chuẩn" nhằm đủ điều kiện cho các công việc chuyên môn cao, còn người "không hợp chuẩn" bị gán cho những công việc tay chân vụn vặt.
Vincent Freeman được thụ thai tự nhiên và hồ sơ di truyền của anh cho thấy nguy cơ cao mắc nhiều chứng rối loạn cùng tuổi thọ dự đoán chỉ khoảng 30,2 năm. Hối tiếc vì quyết định trước đây, cha mẹ anh đã sử dụng phương pháp lựa chọn gen để sinh đứa con thứ hai – Anton Jr. Khi lớn lên, hai anh em thường chơi một trò "chọi nhau" bằng cách bơi ra biển xa nhất có thể, ai quay vào bờ trước sẽ thua; Vincent luôn là người thua cuộc. Vincent mơ ước được bay vào vũ trụ, nhưng luôn bị nhắc nhở về sự "kém cỏi" di truyền của mình. Một ngày nọ, Vincent thách Anton chơi trò bơi thi và lần đầu tiên đánh bại em trai. Anton bắt đầu chìm xuống nước và được Vincent cứu. Không lâu sau, Vincent rời khỏi nhà.
Nhiều năm sau, Vincent làm nghề dọn văn phòng, trong đó có tập đoàn hàng không vũ trụ Gattaca Aerospace Corporation. Anh có cơ hội đóng giả một người "hợp chuẩn" bằng cách sử dụng các mẫu tóc, da, máu và nước tiểu được hiến tặng từ cựu ngôi sao bơi lội Jerome Eugene Morrow – người đã bị liệt sau một tai nạn xe hơi. Với bộ gen của Jerome, Vincent được nhận vào làm việc tại Gattaca và được phân công làm hoa tiêu cho sứ mệnh sắp tới đến mặt trăng Titan của Sao Thổ. Để che giấu thân phận thật, Vincent phải cẩn thận vệ sinh cơ thể hằng ngày để loại bỏ vật liệu di truyền của chính mình, vượt qua các cuộc quét DNA và xét nghiệm nước tiểu hằng ngày bằng mẫu của Jerome, đồng thời giấu đi chứng tim bẩm sinh của mình.
Một tuần trước thời điểm phóng tàu dự kiến, một quản trị viên của Gattaca bị sát hại. Cảnh sát phát hiện một sợi lông mi của Vincent gần hiện trường, nhưng chỉ có thể xác định nó thuộc về một cá nhân "không hợp chuẩn" chưa đăng ký, từ đó mở cuộc điều tra truy tìm chủ nhân sợi lông mi. Trong thời gian này, Vincent trở nên thân thiết với đồng nghiệp Irene Cassini và yêu cô. Dù là người "hợp chuẩn", Irene có nguy cơ suy tim cao, điều này sẽ cản trở cô tham gia các sứ mệnh không gian sâu. Vincent cũng biết được rằng tình trạng liệt của Jerome là do tự gây ra: sau khi giành huy chương bạc tại Thế vận hội, Jerome đã lao mình trước một chiếc ô tô. Jerome khẳng định anh được thiết kế để trở thành người xuất sắc nhất, nhưng bằng cách nào đó lại không đạt được và đang phải chịu đựng vì điều này.
Vincent nhiều lần né tránh được cuộc điều tra. Cuối cùng, sự thật được tiết lộ: Giám đốc sứ mệnh của Gattaca – Josef chính là thủ phạm giết quản trị viên vì người này đe dọa hủy bỏ sứ mệnh. Vincent biết được rằng thanh tra đóng hồ sơ vụ án là em trai mình – Anton, do đó sự hiện diện của Vincent đã bị Anton phát hiện. Khi hai anh em gặp nhau, Anton cảnh báo Vincent về hành vi phi pháp của mình, nhưng Vincent khẳng định anh đã đạt đến vị trí này bằng chính năng lực của bản thân. Anton thách Vincent một trò bơi thi cuối cùng. Khi cả hai bơi ra ngoài khơi lúc đêm xuống, thể lực của Vincent khiến Anton kinh ngạc, Vincent tiết lộ rằng anh thắng bằng cách không dành sức để bơi về. Anton quay đầu và bắt đầu đuối sức, nhưng Vincent cứu anh và họ cùng bơi trở lại bờ.
Vào ngày phóng tàu, Jerome tiết lộ rằng anh đã tích trữ đủ mẫu DNA cho Vincent dùng trong hai đời người sau khi trở về và đưa cho anh một phong bì để mở khi đang trên chuyến bay. Sau khi từ biệt Irene, Vincent chuẩn bị lên tàu, nhưng phát hiện vẫn còn một bài kiểm tra di truyền cuối cùng và lúc này anh không có bất kỳ mẫu vật nào của Jerome. Anh ngạc nhiên khi bác sĩ Lamar – người giám sát kiểm tra lý lịch – tiết lộ rằng ông biết Vincent đang mạo danh một người "hợp chuẩn". Lamar thừa nhận con trai ông ngưỡng mộ Vincent và tự hỏi liệu con mình, dù được lựa chọn gen nhưng "không được như kỳ vọng", có thể vượt qua tiềm năng giới hạn như Vincent đã làm không. Vị bác sĩ thay đổi kết quả kiểm tra, tạo điều kiện để Vincent vượt qua.
Khi tên lửa cất cánh, Jerome đeo huy chương bơi lội của mình và thiêu mình trong lò hỏa táng tại nhà. Vincent mở mảnh giấy và tìm thấy một lọn tóc của Jerome.
Diễn viên
[sửa | sửa mã nguồn]- Ethan Hawke trong vai Vincent Freeman - người mạo danh Jerome Eugene Morrow
- Mason Gamble trong vai Vincent thời niên thiếu
- Chad Christ trong vai Vincent thời thanh niên
- Uma Thurman trong vai Irene Cassini
- Jude Law trong vai Jerome Eugene Morrow[1]
- Loren Dean trong vai Anton Freeman[1]
- Vincent Nielson trong vai Anton thời niên thiếu
- William Lee Scott trong vai Anton thời thanh niên
- Gore Vidal trong vai Giám đốc Josef[1]
- Xander Berkeley trong vai Bác sĩ Lamar
- Jayne Brook trong vai Marie Freeman
- Elias Koteas trong vai Antonio Freeman
- Maya Rudolph trong vai nữ hộ sinh
- Blair Underwood trong vai nhà di truyền học
- Ernest Borgnine trong vai Caesar[1]
- Tony Shalhoub trong vai German (người Đức)
- Alan Arkin trong vai Thám tử Hugo[1]
- Dean Norris trong vai cảnh sát tuần tra
- Ken Marino trong vai kỹ thuật viên giải trình tự gen
- Cynthia Martells trong vai Cavendish
- Gabrielle Reece trong vai huấn luyện viên tại Gattaca
Sản xuất
[sửa | sửa mã nguồn]Bộ phim được ghi hình với tựa sản xuất ban đầu là The Eighth Day – ám chỉ bảy ngày sáng thế trong Kinh Thánh. Tuy nhiên, vào thời điểm phát hành dự kiến vào mùa thu năm 1997, bộ phim Bỉ Le huitième jour đã được phát hành tại Mỹ dưới cùng tên tiếng Anh này. Do đó, bộ phim được đổi tên thành Gattaca,[2] lấy cảm hứng từ các chữ cái G, A, T, C – bốn ký tự bắt nguồn từ tên của các base nitơ cấu thành DNA: guanin, adenin, thymin và cytosine.[3]
Ghi hình
[sửa | sửa mã nguồn]Các ngoại cảnh (bao gồm cảnh trên mái nhà) và một số nội cảnh của khu liên hợp Gattaca được ghi hình tại Trung tâm Hành chính Hạt Marin (1960) của Frank Lloyd Wright ở San Rafael, California.[4] Hệ thống loa trong khu phức hợp phát các thông báo bằng cả tiếng Esperanto và tiếng Anh. Miko Sloper từ Hiệp hội Esperanto Bắc Mỹ đã đến phòng thu để đảm nhận phần tiếng Esperanto.[5]
Thiết kế
[sửa | sửa mã nguồn]Bộ phim sử dụng máy chạy bộ dưới nước (swimming treadmill) trong những phút đầu để nhấn mạnh chủ đề bơi lội và tương lai.[6] Thiết kế sản xuất sử dụng mạnh mẽ phong cách tương lai hoài cổ (retrofuturism): những chiếc xe hơi điện tương lai[7] được thiết kế dựa trên các mẫu xe thập niên 1960 như Rover P6, Citroën DS19 và Studebaker Avanti.[8]
Phần tựa đề mở đầu
[sửa | sửa mã nguồn]Phần tựa đề mở đầu (do Michael Riley thiết kế) đặc tả những cận cảnh các vật chất từ cơ thể (móng tay và tóc, sau đó được tiết lộ là do quá trình Vincent vệ sinh cơ thể hàng ngày) rơi xuống sàn kèm theo âm thanh lớn. Theo Riley, các mô hình móng tay và sợi tóc kích thước lớn đã được tạo ra để đạt hiệu ứng này.[9]
Âm nhạc
[sửa | sửa mã nguồn]Nhạc nền của phim Gattaca do Michael Nyman sáng tác. Đĩa soundtrack gốc được phát hành ngày 21 tháng 10 năm 1997.[10]
Phát hành
[sửa | sửa mã nguồn]Doanh thu phòng vé
[sửa | sửa mã nguồn]Gattaca được Columbia Pictures chọn phát hành tại các rạp chiếu phim Mỹ vào ngày 24 tháng 10 năm 1997 và mở màn ở vị trí thứ 5 trên bảng xếp hạng doanh thu phòng vé, xếp sau các phim I Know What You Did Last Summer, The Devil's Advocate, Kiss the Girls và Seven Years in Tibet.[11] Trong suốt tuần đầu công chiếu, bộ phim thu về 4,3 triệu USD. Kết thúc thời gian chiếu rạp, tổng doanh thu trong nước của phim đạt 12,5 triệu USD, so với kinh phí sản xuất được báo cáo là 36 triệu USD.[12]
Giải trí tại gia
[sửa | sửa mã nguồn]Gattaca được phát hành trên định dạng DVD vào ngày 1 tháng 7 năm 1998[13] và sau đó cũng được phát hành trên Superbit DVD.[14] Các phiên bản DVD Đặc biệt và Blu-ray được phát hành vào ngày 11 tháng 3 năm 2008.[15][16] Cả hai phiên bản này đều bao gồm một cảnh đã bị cắt, trong đó có sự xuất hiện của các nhân vật lịch sử như Einstein, Lincoln,... – những người được miêu tả là có khiếm khuyết về mặt di truyền.[12]
Gattaca đã được phát hành trên định dạng Ultra HD Blu-ray vào năm 2021.[17]
Đón nhận
[sửa | sửa mã nguồn]Đánh giá chuyên môn
[sửa | sửa mã nguồn]Gattaca nhận được những đánh giá tích cực từ các nhà phê bình. Bộ phim đạt tỷ lệ tán thành 82% trên Rotten Tomatoes dựa trên 66 bài đánh giá, đạt điểm trung bình 7,1/10. Các nhà phê bình trên trang web này nhất trí rằng: "[Với] sự thông minh và kích thích tư duy khoa học, Gattaca là một bộ phim khoa học viễn tưởng lôi cuốn, đặt ra những câu hỏi đạo đức quan trọng và thú vị về bản chất của khoa học."[18] Trên Metacritic, phim nhận được những đánh giá "nhìn chung tích cực" với số điểm 64/100, dựa trên 20 bài đánh giá.[19] Khán giả tham gia khảo sát của CinemaScore cho phim điểm trung bình "B-" trên thang điểm từ A+ đến F.[20]
Siskel và Ebert đã giơ hai ngón tay cái giới thiệu bộ phim trong chương trình của họ phát sóng ngày 25 tháng 10 năm 1997, khi Gene Siskel nhận xét rằng bộ phim có một "kịch bản thông minh".[21] Trong bài đánh giá khác của mình cho tờ Chicago Sun-Times, Roger Ebert nhận định: "Đây là một trong những bộ phim khoa học viễn tưởng thông minh và kích thích tư duy nhất, một tác phẩm ly kỳ chứa đựng nhiều ý tưởng."[22] James Berardinelli ca ngợi bộ phim vì "sức sống và sự sắc sảo", cùng "kịch bản giàu tính tư duy và sự phong phú về chủ đề."[23]
Dù được đánh giá cao về mặt chuyên môn, Gattaca không thành công về mặt doanh thu phòng vé, nhưng được cho là đã định hình rõ ràng cuộc tranh luận về chủ đề gây tranh cãi là công nghệ chỉnh sửa gen người.[24][25] Sự miêu tả phản địa đàng về "chủ nghĩa phân biệt gen" (genoism) trong phim đã được nhiều nhà đạo đức sinh học và công chúng trích dẫn để ủng hộ cho sự do dự hoặc phản đối của họ đối với thuyết ưu sinh và sự chấp nhận của xã hội với hệ tư tưởng quyết định luận di truyền có thể là nền tảng của nó.[26] Trong một bài đánh giá năm 1997 về bộ phim trên tạp chí Nature Genetics, nhà sinh học phân tử Lee M. Silver tuyên bố: "Gattaca là bộ phim mà tất cả các nhà di truyền học nên xem, nếu không vì lý do nào khác, thì để hiểu được cách nghề nghiệp của chúng ta được đông đảo công chúng nhìn nhận."[27]
Giải thưởng
[sửa | sửa mã nguồn]| Giải thưởng | Hạng mục | Tác phẩm/người nhận | Kết quả |
|---|---|---|---|
| Giải Oscar | Chỉ đạo nghệ thuật xuất sắc nhất | Jan Roelfs Nancy Nye |
Đề cử |
| Giải của Nghiệp đoàn chỉ đạo nghệ thuật | Thiết kế sản xuất xuất sắc | Jan Roelfs Sarah Knowles Natalie Richards |
Đề cử |
| Giải Bogeys | Giải Bogey | Đoạt giải | |
| Liên hoan phim Gérardmer | Giải Đặc biệt của ban giám khảo | Andrew Niccol | Đoạt giải |
| Giải Hài hước | Đoạt giải | ||
| Giải Quả cầu vàng | Nhạc phim hay nhất | Michael Nyman | Đề cử |
| Giải Hugo | Tác phẩm chuyển thể kịch tính dạng dài xuất sắc nhất | Andrew Niccol | Đề cử |
| Giải của Hiệp hội phê bình phim Luân Đôn | Biên kịch của năm | Đoạt giải | |
| Liên hoan phim Paris | Grand Prix | Đề cử | |
| Giải Vệ Tinh | Chỉ đạo nghệ thuật và thiết kế sản xuất xuất sắc nhất | Jan Roelfs | Đề cử |
| Giải Sao Thổ | Phục trang xuất sắc nhất | Colleen Atwood | Đề cử |
| Nhạc phim xuất sắc nhất | Michael Nyman | Đề cử | |
| Phát hành video tại gia xuất sắc nhất | Đề cử | ||
| Liên hoan phim quốc tế Sitges – Catalan |
Phim xuất sắc nhất | Andrew Niccol | Đoạt giải |
| Soundtrack gốc xuất sắc nhất | Michael Nyman | Đoạt giải | |
Phần tiếp theo
[sửa | sửa mã nguồn]Ngày 30 tháng 10 năm 2009, tạp chí Variety đưa tin Sony Pictures Television đang phát triển một phiên bản chuyển thể truyền hình từ bộ phim điện ảnh này, dưới dạng một loạt phim cảnh sát hình sự dài một giờ/tập lấy bối cảnh tương lai. Phim dự kiến do Gil Grant (tác giả kịch bản của 24 và NCIS) chắp bút.[28] Đến tháng 3 năm 2023, một bộ phim truyền hình Gattaca được tiết lộ là đang được phát triển bởi Sony và Showtime. Dự án dự định lấy bối cảnh một thế hệ sau các sự kiện trong phim. Howard Gordon và Alex Gansa được chọn làm nhà sản xuất, đồng thời dự kiến đảm nhận vai trò biên kịch cùng Craig Borten. Gordon, Gansa, Glenn Gellar và diễn viên Danny DeVito (người sản xuất bộ phim) sẽ đảm nhận vai trò giám đốc sản xuất.[29] Tuy nhiên, đến tháng 6 năm 2023, Showtime thông báo đã từ bỏ kế hoạch sản xuất chương trình này.[30]
Di sản
[sửa | sửa mã nguồn]Ảnh hưởng đến phim In Time
[sửa | sửa mã nguồn]Đạo diễn kiêm biên kịch Andrew Niccol gọi bộ phim Thời khắc sinh tử (In Time) ra mắt năm 2011 của ông là "đứa con lai của Gattaca".[31][32] Cả hai bộ phim đều có sự xuất hiện của những chiếc xe cổ điển trong một xã hội phản địa đàng tương lai, cũng như một sự phân chia đặc quyền giai cấp mà nhân vật chính thách thức, khiến giới chức có thành kiến và bỏ qua một cuộc điều tra kỹ lưỡng để tập trung buộc tội nhân vật chính.
Khảo chỉ đến chính trị
[sửa | sửa mã nguồn]Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Rand Paul đã sử dụng gần như nguyên văn các phần tóm tắt cốt truyện từ trang wikipedia tiếng Anh về Gattaca trong một bài phát biểu tại Đại học Liberty vào ngày 28 tháng 10 năm 2013, nhằm ủng hộ chiến dịch tranh cử chức Thống đốc Virginia của Tổng chưởng lý Virginia Ken Cuccinelli. Paul tuyên bố rằng những người ủng hộ quyền phá thai đang thúc đẩy chủ nghĩa ưu sinh theo cách tương tự như các sự kiện trong Gattaca.[33][34]
Chủ nghĩa siêu nhân học
[sửa | sửa mã nguồn]Trong cuốn sách Citizen Cyborg (2004) thuộc trường phái siêu nhân dân chủ (democratic transhumanism), nhà đạo đức sinh học James Hughes đã chỉ trích tiền đề và ảnh hưởng của bộ phim là gây hoang mang, ông lập luận rằng các chương trình đào tạo phi hành gia hoàn toàn có căn cứ khi cố gắng sàng lọc những người có vấn đề về tim mạch vì lý do an toàn. Ngoài ra theo ông: tại Hoa Kỳ, người dân đã bị các công ty bảo hiểm sàng lọc dựa trên nguy cơ mắc bệnh của họ, vì mục đích tính toán phí bảo hiểm. Bên cạnh đó, thay vì cấm xét nghiệm di truyền hoặc cải thiện gen, xã hội nên phát triển các luật về quyền riêng tư thông tin di truyền, chẳng hạn như Đạo luật Không Phân biệt đối xử về Thông tin Di truyền của Hoa Kỳ được ký thành luật vào ngày 21 tháng 5 năm 2008, tạo điều kiện cho các hình thức xét nghiệm di truyền và tổng hợp dữ liệu có căn cứ, nhưng cấm những hình thức được xét đoán là dẫn đến phân biệt đối xử về di truyền. Công dân sau đó có thể khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền nếu họ tin rằng mình bị phân biệt đối xử vì kiểu gen của mình.[35]
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- 1 2 3 4 5 "Review of Gattaca" (bằng tiếng Anh). Challengingdestiny.com. ngày 25 tháng 2 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2009.
- ↑ "Gattaca on Hulu". Slashfilm. ngày 28 tháng 11 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2020.
- ↑ Zimmer, Carl (ngày 10 tháng 11 năm 2008). "Now: The Rest of the Genome". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2017.
- ↑ LaSalle, Mick (ngày 24 tháng 10 năm 1997). "'Gattaca' a Not-So-Perfect Specimen". San Francisco Chronicle (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2025.
- ↑ "Esperanto in 'Gattaca' (NPR pt 11, NASK 2000 pt 19)". YouTube. ngày 2 tháng 6 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 12 năm 2021.
- ↑ "Endless Pools in the Press" (bằng tiếng Anh). Endlesspools.com. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2012.
- ↑ "Avanti in the Science Fiction Film Gattaca". www.theavanti.com. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2020.
- ↑ ""Gattaca, 1997": cars, bikes, trucks and other vehicles" (bằng tiếng Anh). IMCDb.org. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2009.
- ↑ Vlaanderen, Remco. "Gattaca title sequence - Watch the Titles". watchthetitles.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2018.
- ↑ "Gattaca soundtrack overview". AllMusic (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2008.
- ↑ "US Movie Box Office Chart Weekend of October 24, 1997" (bằng tiếng Anh). The Numbers. ngày 24 tháng 10 năm 1997. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2009.
- 1 2 "Movie Gattaca - Box Office Data, News, Cast Information" (bằng tiếng Anh). The Numbers. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2009.
- ↑ Amazon.com: Gattaca (1997) (bằng tiếng Anh). ISBN 0767805712.
- ↑ "Amazon.com: Gattaca (Superbit Collection) (1997)". Amazon (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2013.
- ↑ "Amazon.com: Gattaca (Special Edition) (1997)". Amazon (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2013.
- ↑ "Amazon.com: Gattaca [Blu-ray] (1997)". Amazon (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2013.
- ↑ Prange, Stephanie (ngày 25 tháng 3 năm 2021). "Gattaca – Media Play News". Media Play News (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2021.
- ↑ "Gattaca (1997)". Rotten Tomatoes (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2009.
- ↑ "Gattaca reviews at". Metacritic.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2011.
- ↑ "Find CinemaScore" (Type "Gattaca" in the search box) (bằng tiếng Anh). CinemaScore. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2025.
- ↑ Ebert, Roger; Siskel, Gene (ngày 25 tháng 10 năm 1997). Gattaca/The House of Yes/A Life Less Ordinary/FairyTale: A True Story/Sunday (bằng tiếng Anh). Buena Vista Television.
- ↑ Roger Ebert (ngày 24 tháng 10 năm 1997). "Gattaca :: rogerebert.com :: Reviews" (bằng tiếng Anh). Rogerebert.suntimes.com. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2022.
- ↑ "Review: Gattaca" (bằng tiếng Anh). Reelviews.net. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2009.
- ↑ Darnovsky, Marcy (2008). "Are We Headed for a Sci-Fi Dystopia?" (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2022.
- ↑ Pope, Marcia; McRoberts, Richard (2003). Cambridge Wizard Student Guide Gattaca (bằng tiếng Anh). Cambridge University press. ISBN 0-521-53615-4.
- ↑ Kirby, D.A. (2000). "The New Eugenics in Cinema: Genetic Determinism and Gene Therapy in GATTACA". Science Fiction Studies (bằng tiếng Anh). 27 (Part 2): 193–215. doi:10.1525/sfs.27.2.0193. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2008.
- ↑ Silver, Lee M. (1997). "Genetics Goes to Hollywood". Nature Genetics (bằng tiếng Anh). 17 (3): 260–261. doi:10.1038/ng1197-260. S2CID 29335234.
- ↑ Schneider, Michael (ngày 29 tháng 10 năm 2009). "Apostle preps for post-'Rescue' life". Variety (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2010.
- ↑ Andreeva, Nellie (ngày 15 tháng 3 năm 2023). "'Gattaca' TV Series Based On Movie In Works At Showtime From Howard Gordon & Alex Gansa". Deadline Hollywood. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2023.
- ↑ White, Peter (ngày 29 tháng 6 năm 2023). "'Gattaca' Series Adaptation & Mandy Patinkin Comedy 'Seasoned' Scrapped At Showtime Along With Two Development Projects". Deadline Hollywood. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2023.
- ↑ Capps, Robert (ngày 6 tháng 10 năm 2011). "Director Calls In Time 'Bastard Child of Gattaca'". Wired. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2019.
- ↑ McCarthy, Eric (ngày 28 tháng 10 năm 2011). "In Time: Andrew Niccol on His Gattaca-Inspired New Film". Popular Mechanics. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2019.
- ↑ Carroll, James R. (ngày 28 tháng 10 năm 2013). "Senator: Scientific advances could bring back eugenics". The Courier-Journal. USA Today. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2013.
- ↑ Kopan, Tal (ngày 28 tháng 10 năm 2013). "Rachel Maddow: Rand Paul ripped off Wikipedia". Politico. Sinclair Broadcast Group. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2013.
- ↑ Hughes, James (2004). Citizen Cyborg: Why Democratic Societies Must Respond to the Redesigned Human of the Future (bằng tiếng Anh). Westview Press. ISBN 0-8133-4198-1.
Đọc thêm
[sửa | sửa mã nguồn]- Frauley, Jon (2010). "Biopolitics and the Governance of Genetic Capital in GATTACA". Criminology, Deviance and the Silver Screen: The Fictional Reality and the Criminological Imagination. New York: Palgrave Macmillan. tr. 195–216. doi:10.1057/9780230115361_7. ISBN 978-0230615168.
- Dưới đây là nội dung một cuộc phỏng vấn mẫu với Tiến sĩ Paul Durham – Giám đốc Khoa Sinh học Tế bào và Trung tâm Khoa học Y sinh & Đời sống tại Đại học Bang Missouri – về bộ phim Gattaca.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Phim năm 1997
- Phim lấy bối cảnh ở tương lai
- Phim về an ninh và giám sát
- Phim về kỹ thuật di truyền
- Phim về phân biệt đối xử
- Phim Columbia Pictures
- Phim tiếng Anh thập niên 1990
- Phim giật gân khoa học viễn tưởng tiếng Anh
- Phim về thuyết ưu sinh
- Phim giật gân khoa học viễn tưởng của Mỹ
- Phim chính kịch khoa học viễn tưởng Mỹ
- Phim do Andrew Niccol viết kịch bản
- Phim đạo diễn đầu tay năm 1997
- Phim Mỹ thập niên 1990