Gbemisola Ruqayyah Saraki

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Gbemisola Ruqayyah Saraki
Chức vụ
National Senator
Nhiệm kỳMay 2003 – May 2011
Tiền nhiệmSalman Is'haq
Kế nhiệmBukola Saraki
Vị tríKwara Central
Thông tin chung
Đảng pháiAll Progressive Congress (APC)
Trang webwww.gbemisaraki.com

Gbemisola Ruqayyah Saraki là thượng nghị sĩ Nigeria, người được bầu làm đại diện cho khu vực thượng nghị sĩ trung tâm Kwara dưới nền tảng của Đảng Dân chủ Nhân dân vào năm 2003.[1], Nhà nước Kwara.[1]

Lý lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Saraki theo học Đại học Sussex tại Vương quốc Anh và lấy bằng cử nhân Kinh tế. Bà ấy đã thực hiện dịch vụ quốc gia của mình tại Ngân hàng Thương mại và Công nghiệp Nigeria, Lagos. Bà làm việc cho Ngân hàng Hiệp hội Thế giới (Nigeria) với tư cách là Trưởng phòng Thị trường Tiền tệ và sau đó là Trưởng phòng Tài khoản Quản lý. Từ 1994 đến 1999, bà là Giám đốc điều hành của Công ty môi giới bảo hiểm Ashmount, Lagos. Bà được biết đến rộng rãi nhờ trí thông minh, lòng từ thiện và tình yêu dành cho giáo dục. Đó là ghi nhận rằng ngoài cha cô, Tiến sĩ Olusola Saraki, không có chính trị gia nào từ khu vực trung tâm phía Bắc đã trao nhiều học bổng như Gbemi Saraki. Gbemi Saraki là nhà vận động cơ sở lớn nhất của Kwara.[2]

Cha bà là Abubakar Olusola Saraki, từng là thượng nghị sĩ hàng đầu của Cộng hòa Nigeria thứ hai (1979 Vàng1983).[3] Anh trai của cô, Abubakar Bukola Saraki là thống đốc bang Kwara, Nigeria từ ngày 29 tháng 5 năm 2003 đến ngày 29 tháng 5 năm 2011 và là Chủ tịch Thượng viện thứ 8 tại Nigeria.[4]

Sự nghiệp chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Gbemisola R. Saraki was elected as a member of the House of Representatives in 1999 under the umbrella of the All People's Party (APP).[cần dẫn nguồn] She ran under the umbrella of the People's Democratic Party, (PDP) for the senate in 2003 and won the seat, representing the Central Senatorial District of Kwara State. She re-contested in 2007 and won again, serving as a Senator of the Federal Republic of Nigeria for eight years. 2003-2011. She is the female legislator with the highest number of sponsored bills in Nigeria. As a legislator, she was an active member of the following House Committees:

1. Ủy ban Nhà về Hàng không

2. Môi trường sống du lịch nước ngoài

3. Văn phòng nghiên cứu và ngân sách lập pháp

4. Hải quân

5. Tư nhân hóa

6. Nhiệm vụ đặc biệt

7. Vận tải.

Tại Thượng viện, Gbemisola Saraki đã chủ trì một số ủy ban cấp cao, bao gồm, Ủy ban Thượng viện về Kế hoạch Quốc gia, Giảm nghèo và các vấn đề kinh tế và Ủy ban Thượng viện về Tham nhũng. Cuộc gọi nhiệm vụ cuối cùng của bà là Ủy ban Thượng viện về Vận tải biển. Ngoài vai trò là chủ tịch của các ủy ban nêu trên, bà còn giữ chức Phó chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng viện và thuộc về các Ủy ban sau:

1. Truyền thông và Công khai

2. Phụ nữ và Phát triển thanh niên

3. Môi trường và sinh thái và Tài khoản công.

4. Ủy ban Thượng viện về Thương mại

5. Nội quy và kinh doanh, Công an

6. Các vấn đề liên chính phủ và hàng không.

Bà cũng là một thành viên trở lại của Nghị viện ECOWAS. [cần dẫn nguồn] Saraki đã trốn sang Đại hội toàn dân tiến bộ (APC) năm 2015. [cần dẫn nguồn] Vào tháng 2 năm 2016, Saraki được Tổng thống Muhammed Buhari bổ nhiệm làm Thủ tướng và Chủ tịch của Đại học Liên bang Otuoke, Baylesa. [cần dẫn nguồn] Vào ngày 13 tháng 2 năm 2017, Saraki cũng được chỉ định là một trong những ủy ban gồm 16 thành viên để đàm phán lại thỏa thuận năm 2009 với Hiệp hội các trường đại học (ASUU).

Bà đã tham gia vào nhiều dự án từ thiện và nhân đạo cho người Kwarans. Lập trường nhân đạo của bà được đánh giá là lớn nhất trong số những người ưu tú ở bang Kwara.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Sen. Gbemisola R. Saraki”. National Assembly of Nigeria. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2009. 
  2. ^ “Senator Gbemi Saraki”. Gbemi Saraki. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2010. 
  3. ^ “Dr. Olusola Saraki: A kingmaker at 70”. Daily Trust. 12 tháng 5 năm 2003. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2009. 
  4. ^ “Battle Royale for Second Terms Govs' Seats”. ThisDay. 31 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2009. 

Sự nghiệp lập pháp