George Armstrong Custer

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
George Armstrong Custer
G a custer.jpg
Tiểu sử
Sinh


New Rumley, Ohio
Mất


Little Bighorn, Montana
Binh nghiệp
Phục vụ Quân đội Hoa Kỳ
Năm tại ngũ 1861-1876
Cấp bậc Brevet Thiếu tướng
Chỉ huy Lữ đoàn Michigan
Trung đoàn 7 kỵ binh Hoa Kỳ
Tham chiến

Nội chiến Hoa Kỳ

Chiến tranh Da đỏ

George Armstrong Custer (5 tháng 12, 1839 – 25 tháng 6, 1876) là sĩ quan chỉ huy kỵ binh của Quân đội Hoa Kỳ trong thời Nội chiến Hoa Kỳ và các cuộc chiến với dân da đỏ. Được thăng chức nhanh từ khi còn trẻ, Custer là một tay chỉ huy nổi tiếng can đảm, táo bạo, nhưng cũng mang tiếng là kiêu căng, quá tự tin và kiểu cách. Ông chỉ huy Lữ đoàn Michigan với biệt hiệu "Chó sói" trong cuộc Nội chiến Hoa Kỳ. Custer cùng 200 binh lính thuộc Trung đoàn 7 Kỵ binh bị bắn chết trong trận Little Bighorn với dân da đỏ do tù trưởng Sitting Bull (Bò Ngồi) cầm đầu.

Ông sinh ra và lớn lên ở Michigan và Ohio, Custer được nhận vào West Point năm 1858, nơi ông tốt nghiệp cuối cùng trong lớp. Tuy nhiên, với sự bùng nổ của cuộc nội chiến, tất cả các sĩ quan tiềm năng là cần thiết, và Custer đã được kêu gọi phục vụ trong quân đội Liên minh. Trước khi chiến tranh kết thúc, Custer được thăng cấp bậc tạm thời (brevet) lên thành Thiếu tướng (tuy nhiên, khi kết thúc cuộc chiến, cấp bậc ông được giảm về cấp bậc thường trực của ông là Đại úy). Khi kết thúc Chiến dịch Appomattox, trong đó ông và quân đội của ông đã đóng một vai trò quyết định, Custer đã tiếp nhận sự đầu hàng của tướng Robert E. Lee.

Sau khi cuộc nội chiến, Custer đã được cử sang phía Tây để chiến đấu trong các cuộc chiến tranh với dân da đỏ. Sự thất bại áp đảo trong trận chiến cuối cùng của ông đã làm lu mờ những thành tựu của ông trong cuộc nội chiến. Custer bại trận tử vong trong trận Little Bighorn vào năm 1876, khi giao chiến với liên quân các bộ lạc da đỏ - trận đánh này thường được biết đến trong lịch sử Hoa KỳCuộc tranh đấu cuối cùng của Custer (Custer's Last Stand).

Gia đình và dòng dõi[sửa | sửa mã nguồn]

Theo nghiên cứu cuối thế kỷ 20, tổ tiên của Custer, Paulus và Gertrude Küster, là những người theo sau mười ba gia đình nhập cư người Đức đầu tiên từ Krefeld và khu vực xung quanh, đã di cư đến Bắc Mỹ khoảng năm 1693 từ vùng Rheinland của Đức, có thể là trong số hàng ngàn người tị nạn Lãnh địa Sức quân Tuyển hầu tước vùng Rhine mà qua sắp xếp bởi chính phủ Anh của Nữ hoàng Anne để được định cư. Họ tên của họ ban đầu đã được viết là "Küster".

Theo một cuốn sử chép về người Đức tại Hoa Kỳ (1909), tổ tiên nhập cư của Custer là một chiến binh Hesse chiến đấu cho thực dân Anh, ông đã được ân xá vào năm 1778 sau khi tướng Anh là John Burgoyne đầu hàng.

Mẹ của Custer là bà Marie Ward, ngay từ khi 16 tuổi bà đã kết hôn với Israel Kirkpatrick. Khi ông qua đời vào năm 1835, bà kết hôn với Henry Emanuel Custer vào năm 1836. Ông bà nội của bà Marie - George P. (1724-1811) và Mary Ward (Grier) (1733-1811) - là người gốc County Durham, Anh. Con trai của họ là James Grier Ward (1765-1824) sinh ra ở Dauphin, Pennsylvania, và đã kết hôn với Catherine Rogers (1776-1829). Con gái của họ là Marie Ward, đã trở thành mẹ của Custer. Catherine Rogers là con gái của Thomas Rogers và Sarah Armstrong. Theo thư từ của gia đình, Custer được đặt tên theo Mục sư George Armstrong, do người cha sùng đạo của ông luôn có hy vọng rằng con trai của mình có thể trở thành một phần của giới tăng lữ.[1]

Biệt danh và anh chị em[sửa | sửa mã nguồn]

Custer sinh ra ở New Rumley, Ohio, là con trai của Emanuel Henry Custer (1806-1892), một nông dân và thợ rèn, và Marie Ward Kirkpatrick (1807-1882).[2] Trong suốt cuộc đời của ông Custer được biết đến qua một loạt các biệt danh. Ông được gọi là "Autie" và Armstrong.

Ông đã có hai em trai, Thomas CusterBoston Custer. Hai người em còn lại của ông là hai người con út của gia đình, Margaret Custer, và em trai ốm yếu là Nevin Custer. Không những thế, Custer cũng có một số anh chị khác dòng máu.[3]

Thời niên thiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Custer dành phần lớn thời niên thiếu của ông sống với chị gái, người chị cùng cha và anh rể ở Monroe, Michigan, nơi ông theo học trường. Trước khi vào Học viện Quân sự Hoa Kỳ, Custer học ở trường trung học McNeely, sau này là trung học Hopedale, ở Hopedale, Ohio.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Merington, Margurite (1987). The Custer Story: The Life and Intimate Letters of George A. Custer and His Wife Elizabeth. Lincoln: University of Nebraska Press. ISBN 0-803-28138-2. 
  2. ^ Custer in the 1850 US Census in North Township, Ohio.
  3. ^ Wert (1996), pp. 17-18.

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ambrose, Stephen E. (1996 [1975]). Crazy Horse and Custer: The Parallel Lives of Two American Warriors. New York: Anchor Books. ISBN 0385479662.
  • Barnett, Louise 'Page notice 'Touched by Fire: The Life, Death, and Mythic Afterlife of George Armstrong Custer (1996) New York, Henry Holt and Company, Inc.
  • Boulard, Garry "The Swing Around the Circle--Andrew Johnson and the Train Ride that Destroyed a Presidency" (2006) isbn=978-1-4401-0239-4
  • Connell, Evan S. (1984). Son Of The Morning Star. San Francisco, California: North Point Press. ISBN 0-86547-160-6. 
  • Eicher, John H. and David J. Eicher. (2001). Civil War High Commands. Stanford, California: Stanford University Press. ISBN 0-8047-3641-3. 
  • Goodrich, Thomas. Scalp Dance: Indian Warfare on the High Plains, 1865-1879. Mechanicsburg, PA: Stackpole Books, 1997.
  • Gray, John S. (1993). Custer's Last Campaign: Mitch Boyer and the Little Bighorn Remembered. University of Nebraska Press. ISBN 0-8032-7040-2. 
  • Grinnell, George Bird (1915). The Fighting Cheyennes. The University of Oklahoma Press reprint 1956. tr. 296–307. ISBN 0-7394-0373-7. 
  • Longacre, Edward G. (2000). Lincoln's Cavalrymen: A History of the Mounted Forces of the Army of the Potomac. Stackpole Books. ISBN 0-8117-1049-1.
  • Mails, Thomas E. Mystic Warriors of the Plains. New York: Marlowe & Co., 1996.
  • Marshall, Joseph M. III. (2007). The Day the World Ended at Little Bighorn: A Lakota History. New York: Viking Press.
  • Merington, Marguerite, Ed. The Custer Story: The Life and Intimate Letters of General Custer and his Wife Elizabeth. (1950)
  • Michno, Gregory F. (1997). Lakota Noon: The Indian Narrative of Custer's Defeat. Mountain Press Publishing Company. ISBN 0-8784-2349-4.
  • Perrett, Bryan. Last Stand: Famous Battles Against the Odds. London: Arms & Armour, 1993.
  • Scott, Douglas D., Richard A. Fox, Melissa A. Connor, and Dick Harmon. (1989). Archaeological Perspectives on the Battle of the Little Bighorn. University of Oklahoma Press. ISBN 0-8061-3292-2. 
  • Punke, Michael, "Last Stand: George Bird Grinnell, the Battle to Save the Buffalo, and the Birth of the New West", Smithsonian Books, 2007, ISBN 9780060897826
  • Tagg, Larry. (1988). The Generals of Gettysburg. Savas Publishing. ISBN 1-882810-30-9.
  • Urwin, Gregory J. W., Custer Victorious, University of Nebraska Press, 1990, ISBN 978-0803295568.
  • Utley, Robert M. (2001). Cavalier in Buckskin: George Armstrong Custer and the Western Military Frontier, revised edition. Norman, OK: University of Oklahoma Press. ISBN 0-8061-3387-2.
  • Vestal, Stanley. Warpath: The True Story of the Fighting Sioux Told in a Biography of Chief White Bull. Lincoln: University of Nebraska Press, 1934.
  • Warner, Ezra J. (1964). Generals in Blue: Lives of the Union Commanders. Louisiana State University Press. ISBN 0-8071-0822-7. 
  • Welch, James, with Paul Stekler. (2007 [1994]). Killing Custer: The Battle of Little Bighorn and the Fate of the Plains Indians. New York: W.W. Norton & Company.
  • Wert, Jeffry D. Custer: The Controversial Life of George Armstrong Custer. New York: Simon & Schuster, 1996. ISBN 0-684-83275-5.
  • Wittenberg, Eric J. (2001). Glory Enough for All : Sheridan's Second Raid and the Battle of Trevilian Station. Brassey's Inc. ISBN 1-57488-353-4. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]