Georgy Aleksandrovich (Romanov)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
George Alexandrovich
George Alexandrovich by S.Levitskiy (1889).png
Đại công tước George Alexandrovich vào năm 1889
Thông tin chung
Sinh9 tháng 5 năm 1871
Cung điện Alexander Tsarskoye Selo, St.Petersburg, Đế chế Nga
Mất10 tháng 7 năm 1899 (28 tuổi)
An tángNhà thờ Peter và Paul St.Petersburg, Đế chế Nga
Tên đầy đủ
George Alexandrovich Romanov
Hoàng tộcRomanov-Holstein-Gottorp
Thân phụAlexander III của Nga
Thân mẫuHoàng hậu Maria
Tôn giáoGiáo hội Nga

Đại công tước George Alexandrovich của Nga (tiếng Nga: Георгий Александрович; 9 tháng 5 năm 1871 - 10 tháng 7 năm 1899) là thành viên của Vương tộc Romanov và là người con thứ 3 của Sa hoàng Aleksandr III của Nga và Vương hậu Maria. George từng giữ tước hiệu Tsesarevich tương đương với người thừa kế ngai vàng Nga vào năm (1894 - 1899) khi anh trai ông Nikolai II kế vị trở thành Sa hoàng nhưng chưa có con.[1][2][3][4]

Thời thơ ấu và Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

George (cậu bé đứng bên phải)

Đại công tước George chào đời ngày 9 tháng 5 năm 1871 tại Cung điện Alexander Thị trấn Tsarskoye Selo, Nga dưới thời trị vì của ông nội là Sa hoàng Alexander II. Cha ông là Tsesarevich Alexander Alexandrovich (sau là Alexander III) và mẹ là Công chúa Maria Feodorovna của Đan Mạch (sau là Hoàng hậu Maria). Tên của ông vốn dĩ được lấy từ cảm hứng từ Vua George I của Hy Lạp (anh trai của Hoàng hậu Maria).[5] Là con trai của Tsesarevich, từ khi chào đời ông đứng thứ 3 trong hàng kế vị ngai vàng Nga chỉ sau cha ông và anh trai Nikolai và chính thức đứng thứ 2 khi cha ông lên ngôi vào ngày 27 tháng 5 năm 1883 tại Nhà thờ Uspensky, Điện Kremlin thuộc Moscow, Nga. [6]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

từ trái sang Đại công tước Michael, Đại công tước Xenia, Đại công tước George, Đại công tước Nikolai

Thủa bé, Đại công tước George được đánh giá là một cậu bé thông minh nhất trong số những đứa trẻ được sinh ra trong hoàng thất Nga, tính cách hướng ngoại và năng động của ông được thừa hưởng từ người mẹ Maria.[7] Hoàng gia Nga đã cho ông một nền giáo dục tốt đẹp, họ mời những gia sư ưu tú nhất để dạy học cho ông. George và anh trai Nikolai được dạy học cùng nhau bởi một gia sư dù cả hai cách nhau đến 3 tuổi, giống như anh trai ông có khả năng sử dụng tiếng Pháp, tiếng Anh và thông thạo cả tiếng ĐứcĐan Mạch.[8]

Trở thành Tsesarevich của Nga[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 11 năm 1894, Alexander III qua đời và con trai cả của ông là Nikolai trở thành Sa hoàng tiếp theo của Nga. Theo luật kế vị của Nga vào thời điểm đó nếu Sa hoàng vẫn chưa có con vị trí kế vị ngai vàng vẫn được truyền cho các em trai của họ. Với tư cách là người em trai lớn nhất của Nikolai II, George nhận tước hiệu Tsesarevich của Nga cho đến khi ông qua đời vào ngày 10 tháng 7 năm 1899. Vị trí đó một lần nữa được chuyền lại cho em trai ông Đại công tước Michael Alexandrovich của Nga vì khi đó Sa hoàng Nikolai II không có con trai.[9]

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

George đột ngột qua đời tại Abastumani, vào ngày 10 tháng 7 năm 1899 ở tuổi 28.[10]Nữ hoàng Victoria đã viết thư cho anh trai ông Nicholas II "Xin hãy chấp nhận bày tỏ sự đồng cảm chân thành nhất của tôi trong nỗi buồn lớn này, vì tôi. Hãy biết tình cảm mà bạn dành cho người anh trai tội nghiệp Georgy của mình, người mà cuộc sống của bạn rất buồn và cô đơn."[11]

Vào ngày 14 tháng 7 năm 1899, ông được chôn cất trong Nhà thờ Thánh Peter và Paul ở Saint Petersburg cùng nơi đã từng chôn cất cha ông Alexander II vào ngày 18 tháng 11 năm 1894.[12]

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

  •  Tây Ban Nha: Hiệp sĩ lông cừu vàng Tây Ban Nha, ngày 22 tháng 4 năm 1896.[18]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lerche, Mandal, tr.174.
  2. ^ “Sometimes the non-Russian world rendered this as Tsarevich”.
  3. ^ Hall, p.186.
  4. ^ “Nhật ký của Đại công tước Xenia Alexandrovna năm 1899 , Lưu trữ Nhà nước Liên bang Nga f.662, op.1, d.13, 1,97-97v”.
  5. ^ A Royal Family c Annaa Anna Lerche & Marcus Mandel, tr.174.
  6. ^ "ALEXANDER III., ALEXANDROVICH, Hoàng đế của Nga - Do TháiEncyclopedia.com".
  7. ^ Hall, p.94.
  8. ^ Lerche, Mandal, p.181.
  9. ^ Empress Maria Fyodorovna of AIBarkovets & VMTenikhina, tr.97.
  10. ^ Hall, p.186.
  11. ^ Hall, p.173.
  12. ^ Diary of Grand Duchess Xenia Alexandrovna for 1899, State Archives of the Russian Federation f.662, op.1, d.13, 1,97-97v.
  13. ^ “Justus Perthes, Almanach de Gotha 1899 (1899)”.
  14. ^ "A Szent István Rend tagjai" Archived.
  15. ^ “Statshaandbog for Kongeriget Danmark for Aaret 1894 [ Sổ tay Nhà nước về Vương quốc Đan Mạch năm 1894 ] (PDF) ” (PDF).
  16. ^ “刑部 芳 則 (2017).明治 時代 の 勲 章 外交 儀礼 (PDF) (bằng tiếng Nhật). 明治 聖 徳 記念 学会 紀要. P. 149” (PDF).
  17. ^ "Schwarzer Adler-orden", Königlich Preussische Ordensliste (bằng tiếng Đức), tập.1, Berlin, 1886, trang 9.
  18. ^ "Caballeros de la insigne orden del toisón de oro".

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]