Gewehr 98
| Gewehr 98 | |
|---|---|
| Loại | Súng trường lên đạn thủ công |
| Nơi chế tạo | |
| Lược sử hoạt động | |
| Phục vụ | 1898–1935 |
| Sử dụng bởi | Xem Các quốc gia sử dụng |
| Lược sử chế tạo | |
| Người thiết kế | Paul Mauser |
| Năm thiết kế | 1895 |
| Nhà sản xuất |
|
| Giai đoạn sản xuất | 1898–1918 |
| Số lượng chế tạo | 9.000.000+[1] |
| Các biến thể | K98a, K98b, Kar98az |
| Thông số | |
| Khối lượng | 4,09 kg (9,0 lb) không lắp đạn 3,50 kg (7,7 lb) Karabiner 98a |
| Chiều dài | 1.250 mm (49,2 in) Gewehr 98 1.090 mm (42,9 in) Karabiner 98a |
| Độ dài nòng | 740 mm (29,1 in) Gewehr 98 590 mm (23,2 in) Karabiner 98a |
| Đạn | M/88 cho tới năm 1903, sau đó là 7.92×57mm Mauser |
| Cơ cấu lên đạn | Lên đạn thủ công |
| Tốc độ bắn | 15 viên/phút |
| Sơ tốc đầu nòng | 639 m/s (2.096 ft/s) với M/88 878 m/s (2.881 ft/s) với mẫu đạn 9.9 g (154 gr) năm 1903 |
| Tầm bắn hiệu quả | 500 m (550 yd) (với đầu ruồi) ≥800 m (870 yd) (với ống ngắm) |
| Tầm bắn xa nhất | 3.735 m (4.080 yd) với S Patrone |
| Chế độ nạp | Kẹp đạn rời 5 viên |
| Ngắm bắn | Đầu ruồi hoặc kính ngắm |
Gewehr 98 (còn được viết tắt là G98, Gew 98, or M98) là một khẩu súng trường lên đạn thủ côngdo Mauser chế tạo cho Đế quốc Đức, phục vụ như súng trường tiêu chuẩn từ 1898 đến 1935.
Cơ cấu của Gewehr 98, sử dụng băng kẹp 5 viên với đạn 7,92×57mm Mauser, đã kết hợp và cải tiến thành công nhiều ý tưởng kỹ thuật của súng trường nạp tay, và nhanh chóng được nhiều quốc gia khác áp dụng, bao gồm Vương quốc Anh, Hoa Kỳ và Nhật Bản.[2] Gewehr 98 thay thế mẫu Gewehr 1888 trước đó làm súng trường tiêu chuẩn của Đức. Nó lần đầu tham chiến trong Khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn tại Trung Quốc và là súng trường bộ binh chủ lực của Đức trong Thế chiến I. Gewehr 98 tiếp tục được sử dụng trong lực lượng quân sự bởi Đế quốc Ottoman và Tây Ban Nha.
Sau cùng, nó được thay thế bởi Karabiner 98k, một biến thể carbine dùng cùng thiết kế, cho lực lượng Wehrmacht dưới thời Đức Quốc xã từ 1935 đến 1945.
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]Khẩu Gewehr 98 được đưa vào phục vụ trong quân đội Đức vào năm 1898 để thay thế cho dòng súng Gewehr 1888. Thiết kế khóa nòng xoay này là cải tiến mới nhất từ thiết kế năm 1895 đã được Paul Mauser đăng ký bằng sáng chế vào ngày 9 tháng 9 năm 1895. Mauser lúc đó vốn đã thương mại hóa phiên bản tương tự là Mauser Model 1895 cho nhiều quốc gia khác, đồng thời cũng từng cung cấp các dòng súng trường Mauser đời cũ ít tiên tiến hơn cho Quân đội Đức từ năm 1871 đến năm 1888. Dòng súng trường ra đời năm 1888 dùng để thay thế súng Mauser là một thiết kế nội bộ của quân đội nhưng đã chịu thất bại do cấu trúc không mang tính thực tế. Trong thập kỷ chuyển giao đó, các dòng súng trường Mauser đã được công nhận là tiêu chuẩn của thế giới, khiến Quân đội Đức rơi vào tình cảnh bị áp đảo bởi chính một sản phẩm do Đức chế tạo nằm trong tay các quốc gia khác.[3]
Ủy ban Thử nghiệm Súng trường Đức (Gewehr-Prüfungskommission - G.P.K.) đã chính thức thông qua Gewehr 98 vào ngày 5 tháng 4 năm 1898.[4] Cơ cấu lên đạn của súng được phát triển dựa trên mẫu súng trường thực nghiệm Gewehr 96. Vào năm 1901, những khẩu Gewehr 98 đầu tiên đã được cấp phát cho Lực lượng Viễn chinh Đông Á, Hải quân Đế quốc Đức và ba quân đoàn chủ lực của Phổ. Lần đầu tiên Gewehr 98 được đưa vào thực chiến là trong cuộc Phong trào Nghĩa Hòa Đoàn (1898–1901). Đến năm 1904, các hợp đồng sản xuất đã được ký kết với hãng Waffenfabrik Mauser cho 290.000 khẩu và hãng Deutsche Waffen und Munitionsfabriken (DWM) cho 210.000 khẩu. Khi Chiến tranh Thế giới thứ nhất bùng nổ vào năm 1914, Quân đội Đế quốc Đức đã sở hữu 2.273.080 khẩu súng trường Mauser 98 thuộc tất cả các biến thể; có thêm khoảng 7.000.000 khẩu nữa được sản xuất trong suốt thời gian diễn ra cuộc chiến.[5]
Cỡ đạn 8 mm M/88 vốn được giới thiệu từ năm 1888 sử dụng một đầu đạn mũi tròn nặng 14,6 g (226 gr) với đường kính 8,08 mm (.318 in) đã bị thay thế vào ngày 3 tháng 4 năm 1903 bởi dòng đạn 7.92×57mm Mauser S Patrone (đạn đặc S). Loại đạn mới này nạp một đầu đạn mũi nhọn nặng 9,9 g (154 gr) với đường kính 8,20 mm (.323 in). Việc chuyển đổi đồng bộ cỡ đạn được biểu thị bằng một chữ S nhỏ đóng dấu phía trên buồng đạn và trên nòng súng ở phần phía sau của bệ thước ngắm. Cải tiến này bắt buộc phải thực hiện do cỡ đạn M/88 kiểu năm 1888 và cỡ đạn lòng khương tuyến S kiểu năm 1903 là hai cấu trúc buồng đạn khác biệt hoàn toàn, không thể sử dụng hoán đổi cho nhau. Vì đầu đạn IS mới sở hữu đường đạn phẳng hơn, thước ngắm kiểu Lange Visier nguyên bản cũng phải được hoán cải sang loại Lange Visier hiệu chỉnh tương thích với đạn "S".
Chi tiết thiết kế
[sửa | sửa mã nguồn]Khẩu súng trường Gewehr 98 hay mẫu 98 (M98) là một dòng súng trường lên đạn thủ công, nạp đạn bằng hộp tiếp đạn với cơ chế cấp đạn kiểm soát (controlled-feed). Súng có chiều dài tổng thể 1.250 mm (49 in) và trọng lượng hành quân là 4,09 kg (9,0 lb). Súng sở hữu một nòng súng có khương tuyến dài 740 mm (29 in) và chứa được 5 viên đạn bên trong hộp tiếp đạn cố định trong thân súng. Gewehr 98 có hai khuyên móc dây đeo súng, đầu ruồi dạng hở phía trước và thước ngắm dạng cong cự ly tiếp tuyến ở phía sau, thường được biết đến với tên gọi Lange Visier.
Cơ chế lên đạn cơ cấu khóa nòng xoay cấp đạn kiểm soát của Gewehr 98 là một đặc điểm khác biệt ưu việt và được coi là một trong những thiết kế hệ thống hành trình khóa nòng xoay kinh điển nhất.
Hệ thống hành trình khóa nòng xoay cấp đạn kiểm soát M98
[sửa | sửa mã nguồn]



Hệ thống khóa nòng xoay cấp đạn kiểm soát Mauser M98 được phát triển dựa trên các thiết kế súng trường Mauser đời cũ từ thế kỷ 19. Đây là một kết cấu đơn giản, bền bỉ, an toàn và được tính toán vô cùng kỹ lưỡng nhằm loại bỏ tối đa các kịch bản lỗi vận hành. Thiết kế này đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều dòng súng trường quân sự cũng như súng săn/súng bắn thể thao xuất hiện trong thế kỷ 20. Tuy nhiên, nhược điểm của hệ thống M98 là rất khó để sản xuất hàng loạt với chi phí rẻ.
Các đặc điểm kết cấu
[sửa | sửa mã nguồn]Hệ thống M98[6] cấu thành từ một bệ khóa nòng đóng vai trò là vỏ bọc bảo vệ hệ thống và một cụm khóa nòng. Trong đó, thân khóa nòng sở hữu ba vấu khóa, bao gồm hai vấu khóa chính có kích thước lớn ở phần đầu khóa nòng - vấu bên trái được xẻ rãnh - và một vấu khóa an toàn thứ ba bố trí ở phía sau bệ khóa nòng, đóng vai trò là cơ cấu dự phòng trong trường hợp các vấu khóa chính chịu lực bị hỏng. Vấu thứ ba này là một đặc điểm nhận diện riêng biệt và hoàn toàn không xuất hiện trên các thiết kế khóa nòng Mauser trước đó. Hai vấu khóa chính được bố trí đối xứng ngược chiều nhau với diện tích bề mặt khóa đạt 56 mm2 (0,087 in2). Trong khi đó, vấu an toàn thứ ba trong điều kiện vận hành bình thường sẽ không tham gia vào quá trình khóa hệ thống hành trình nhằm tránh hiện tượng bất đối xứng và gây ra các lực lực đẩy khóa nòng mất cân bằng.[7] Đường kính phần đai bệ khóa nòng (receiver ring) của hệ thống M98 cũng được mở rộng lên 35,8 mm (1,41 in) so với các thiết kế khóa nòng "đai nhỏ" trước đây của Mauser (vốn chỉ có đường kính đai bệ khóa nòng 33 mm (1,30 in)) nhằm tăng cường độ bền và tính an toàn. Tương ứng với cải tiến đó, phần đuôi nòng súng (barrel shank) được tăng kích thước lên đường kính 28 mm (1,10 in) với 15,88 mm (0,625 in) chiều dài ren hành trình ở mật độ 12 ren/inch, thay vì đường kính 24,9 mm (0,98 in) kèm 16,38 mm (0,645 in) chiều dài ren ở mật độ 12 ren/inch như trên các thiết kế "đuôi nhỏ" đời cũ. Phần tay kéo bệ khóa nòng được gắn cố định trực tiếp vào khối khóa nòng. Trên khẩu Gewehr 98, bộ phận này được làm thẳng và nhô hẳn ra ngoài để mang lại lực đòn bẩy tối ưu nhất cho xạ thủ khi thao tác.
Một đặc điểm nhận diện riêng biệt khác của hệ thống M98 là cơ chế cấp đạn kiểm soát, cấu thành từ một móc chiết xuất đạn dạng vuốt lớn, cố định không xoay. Bộ phận này sẽ ngậm chặt vào gờ đuôi vỏ đạn ngay khi viên đạn vừa rời khỏi hộp tiếp đạn và giữ chặt vỏ đạn cho đến khi viên đạn được hất ra ngoài bởi cơ cấu hất đạn lắp bên trong bệ khóa nòng. Kết hợp với hành trình rút ngắn bệ khóa nòng một chút ở giai đoạn đầu của chu kỳ mở khóa nòng - gây ra bởi bề mặt cam trên cầu bệ khóa nòng phía sau - cơ chế này mang lại khả năng chiết xuất vỏ đạn vô cùng chắc chắn. Hệ thống hành trình khóa nòng xoay M98 sẽ chu trình lên đạn một cách chính xác, bất kể súng được di chuyển hay đặt ở tư thế nào trong quá trình thao tác kéo khóa nòng, và bất kể viên đạn đó đã được khai hỏa hay chưa. Trên các dòng khóa nòng cấp đạn kiểm soát, sự cố kẹt đạn do vỏ đạn không được hất sạch ra ngoài chỉ xảy ra khi xạ thủ kéo bệ khóa nòng về phía sau không đủ tầm hoặc lực kéo quá nhẹ.
Khối khóa nòng là nơi chứa cơ cấu kim hỏa tự động lên búa khi mở khóa nòng. Bộ phận đuôi kim hỏa sẽ nhô hẳn ra ngoài bệ khóa nòng giúp xạ thủ có thể dễ dàng quan sát bằng mắt hoặc cảm nhận bằng tay để biết súng đã lên búa hay chưa. Thiết kế này cũng được bổ sung thêm một cơ cấu khóa lẫy đuôi khóa nòng vốn không có trên các dòng súng Mauser đời cũ. Khoảng hành trình di chuyển của kim hỏa đã được thu ngắn lại nhằm giảm thiểu và tối ưu hóa thời gian giữ chậm khóa – tức khoảng thời gian tính từ lúc xạ thủ bóp cò kích hoạt chu kỳ bắn cho đến khi kim hỏa đập vào hạt nổ để kích nổ liều thuốc phóng bên trong viên đạn kích nổ trung tâm cỡ 7.92×57mm Mauser.
Hệ thống hành trình M98 sở hữu hai lỗ thoát khí lớn dạng hình bầu dục nằm ở phía dưới bệ khóa nòng. Khi xảy ra các sự cố nghiêm trọng như vỡ hạt nổ, rách vỏ đạn hoặc nổ sớm ngoài ý muốn, các lỗ này sẽ xả lượng khí thuốc áp suất cao xuống khoang hộp tiếp đạn, đi kèm với một tấm chắn khí bố trí trên ống lót khóa nòng. Trên các hệ thống M98 phiên bản quân sự còn có một cơ chế thoát khí thứ cấp, nơi khí thuốc được dẫn dọc theo rãnh trượt của vấu khóa đến vị trí lỗ khoét tỳ ngón tay cái ở phía bên trái bệ khóa nòng để thoát ra ngoài. Các phiên bản M98 dân dụng thường lược bỏ lỗ khoét tỳ ngón tay này, do quy trình nạp đạn nhìn chung được đơn giản hóa thành dạng nạp thủ công từng viên một. Các tính năng an toàn này được thiết kế để dẫn luồng khí thuốc rò rỉ thoát ra khỏi bệ khóa nòng và đẩy các mảnh vụn (nếu có) ra xa khỏi khuôn mặt của xạ thủ.
Cụm khóa nòng M98 có thể được tháo rời khỏi bệ khóa nòng một cách dễ dàng. Xạ thủ chỉ cần xoay lẫy khóa an toàn lên vị trí 12 giờ, kéo lẫy dừng khóa nòng đặt ở vách sau bên trái bệ khóa nòng ra ngoài, sau đó thao tác kéo bệ khóa nòng về phía sau qua khỏi chốt dừng. Phần đĩa kim loại tròn được khảm chìm trên báng súng đóng vai trò như một dụng cụ để hỗ trợ tháo rời các chi tiết của bệ khóa nòng.[8]
Nhiều chi tiết kim loại của khẩu Gewehr 98 được xử lý nhuộm đen, đây là một quy trình bảo vệ bề mặt thép chống gỉ sét bám nhờ tạo ra một lớp oxit Magnetit (Fe3O4). Lớp Oxit đen mỏng này chỉ cung cấp khả năng bảo vệ tối thiểu chống lại tình trạng gỉ sét hoặc ăn mòn, trừ khi bề mặt tiếp tục được xử lý bằng một loại dầu đẩy nước để giảm độ ẩm và ngăn ngừa ăn mòn điện hóa . Từ năm 1905 cho đến năm 1945, quân đội Đức đã sử dụng dầu Ballistol chuyên dụng cho nhiệm vụ làm sạch, bôi trơn và bảo quản các chi tiết bằng kim loại, gỗ và da của vũ khí cầm tay.[9]
Cơ cấu khóa an toàn
[sửa | sửa mã nguồn]Một lẫy khóa an toàn dạng lá cờ ba vị trí được lắp ở phía sau bệ khóa nòng. Lẫy gạt này có thể chuyển đổi từ bên phải (khóa an toàn, bệ khóa nòng bị khóa) sang giữa (khóa an toàn, bệ khóa nòng có thể mở để nạp lại đạn), và sang bên trái (sẵn sàng bắn). Tuy nhiên, cơ cấu này chỉ hoạt động khi súng đã được lên búa; nếu không, lẫy an toàn sẽ không thể di chuyển. Ở vị trí ngoài cùng bên phải, cơ cấu an toàn sẽ chặn kim hỏa và khi bóp cò, kim hỏa sẽ không bị giải phóng nhờ chốt chặn an toàn. Ngoài ra, một vấu nhô ra sẽ ngăn không cho tay kéo bệ khóa nòng bị nhấc lên, qua đó chặn hành trình kéo khóa nòng về phía sau do các vấu khóa vẫn đang khớp chặt. Khi lẫy an toàn ở vị trí chính giữa, tầm nhìn qua thước ngắm sẽ bị che khuất và kim hỏa vẫn bị chặn, khiến cò súng hoàn toàn bị vô hiệu hóa ("cò chết"). Tuy nhiên, vấu nhô ra nói trên sẽ được rút về, cho phép xạ thủ kéo bệ khóa nòng để nạp đạn hoặc tháo hẳn cụm khóa nòng ra ngoài để vệ sinh. Vị trí ngoài cùng bên trái là vị trí bắn, một rãnh khuyết sẽ cho phép kim hỏa chuyển động tự do và bệ khóa nòng có thể hoạt động bình thường. Lẫy gạt khóa an toàn này có kích thước khá lớn, giúp thao tác dễ dàng nhưng lại gây khó khăn cho việc lắp kính ngắm quang học ở vị trí thấp ngay sát phía trên bệ khóa nòng mà vẫn đảm bảo khả năng vận hành trơn tru của lẫy.
Cơ cấu nạp đạn
[sửa | sửa mã nguồn]Hộp tiếp đạn cố định của hệ thống M98 cấu thành từ một khoang chứa liền khối được gia công chuẩn xác để tương thích với loại đạn mà khẩu súng sử dụng, đi kèm một tấm đáy hộp tiếp đạn có thể tháo rời, với sức chứa tối đa 5 viên đạn súng trường. Khoang hộp tiếp đạn bên trong thân súng của hệ thống M98 phiên bản quân sự Đức sở hữu chiều dài lòng trong 84 mm (3,31 in) để chứa các viên đạn 7,92×57mm Mauser có chiều dài tổng thể tối đa 82 mm (3,23 in) mà không gặp bất kỳ trở ngại nào về mặt kích thước. Các viên đạn được xếp bên trong hộp tiếp đạn theo một hàng so le với góc xếp đạn là 30 độ, do đó khi nhìn từ mặt cắt dọc, ba viên đạn tiếp xúc nhau sẽ tạo thành các đỉnh của một hình tam giác đều. Hộp tiếp đạn có thể được nạp từng viên một bằng cách ấn đạn vào cửa mở phía trên bệ khóa nòng hoặc nạp nhanh thông qua kẹp đạn. Mỗi kẹp đạn chứa được 5 viên để nạp đầy hộp tiếp đạn và được cắm vào các rãnh dẫn hướng kẹp đạn được gia công sẵn trên cầu bệ khóa nòng phía sau. Sau khi nạp đạn xong, kẹp đạn rỗng sẽ tự động bị hất ra ngoài khi xạ thủ đẩy khóa nòng về phía trước đóng buồng đạn. Kẹp đạn bị hất ra nhờ thiết kế có hai vấu nhỏ nhô ra ở hai bên thành kẹp, vốn là điểm tiếp xúc duy nhất với rãnh dẫn hướng. Các vấu này sẽ tỳ ở phần đỉnh rãnh dẫn hướng, trong khi phần dưới của kẹp đạn có kích thước hẹp hơn chính rãnh dẫn hướng đó. Khi bệ khóa nòng chuyển động tiến về phía trước, nó sẽ đẩy phần đáy kẹp đạn ra ngoài, khiến kẹp đạn xoay quanh các vấu định vị cho đến khi bị hất văng hoàn toàn. Để quá trình ấn nạp đạn dễ dàng hơn, một lỗ khuyết hình bán nguyệt tỳ ngón tay cái được bố trí ở phía sau bên trái cửa nạp đạn trên bệ khóa nòng. Hộp tiếp đạn có thể được xả đạn bằng cách thao tác kéo khóa nòng liên tục (vì lý do an toàn, lẫy an toàn nên được gạt về vị trí chính giữa khi thực hiện việc này) hoặc trong trường hợp gặp sự cố kẹt cơ khí, xạ thủ có thể dùng đầu một viên đạn để ấn lẫy mở tấm đáy hộp tiếp đạn (vốn được làm phẳng bằng với bề mặt báng súng). Ngoài ra, các viên đạn cũng có thể được nạp trực tiếp từng viên một vào thẳng buồng đạn, đây là quy trình tiêu chuẩn trên các dòng súng trường quân sự thời kỳ đó, do móc chiết xuất đạn có cơ cấu lò xo chịu lực và được thiết kế để phần vuốt móc có thể "bật" qua gờ đuôi vỏ đạn khi đóng khóa nòng.
Khẩu Gewehr 98 không được trang bị cơ chế khoá ngắt hộp tiếp đạn, một tính năng khi kích hoạt sẽ chỉ cho phép nạp và chiết xuất từng viên đạn thủ công trong khi vẫn giữ nguyên số đạn trong hộp tiếp đạn để dự phòng. Giống như hệ thống M98, các dòng súng trường Mauser lên đạn bằng khóa nòng sử dụng hộp tiếp đạn nhìn chung không được sản xuất kèm cơ cấu khoá ngắt này, ngoại trừ biến thể Mauser Ottoman Model 1893.[10]
Các phiên bản dân dụng của hệ thống M98
[sửa | sửa mã nguồn]Mặc dù việc sản xuất hệ thống M98 cho quân đội Đức đã chấm dứt khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc vào năm 1945, hoạt động chế tạo các dòng súng trường mới Mauser M 98 và Mauser M 98 Magnum phục vụ người dùng dân sự vẫn được tiếp tục duy trì. Quy trình này tận dụng cả các hệ thống quân dụng cũ được hoán cải lẫn các hệ thống mới tinh do một vài nhà sản xuất trên thế giới chế tạo. Các hệ thống mới không chỉ được xuất xưởng bởi hãng Mauser GmbH ở Đức, mà còn bởi FN ở Bỉ, Zbrojovka Brno ở Tiệp Khắc và Zastava ở Nam Tư.
Hãng Mauser-Werke GmbH đã dừng sản xuất hệ thống M98 vào thập niên 1960 để thay thế bằng Mẫu 66, một cấu trúc hoàn toàn mới. Tuy nhiên, sau khi trải qua nhiều lần đổi chủ và thay đổi tên gọi, công ty tái lập Mauser Jagdwaffen GmbH[11] đã khôi phục lại việc sản xuất súng trường M98 vào năm 1999 dựa theo các bản vẽ gốc và theo phong cách của các dòng súng trường săn bắn Mauser thời kỳ giữa hai cuộc thế chiến. Những khẩu súng trường này có giá bán lẻ (năm 2009) vào khoảng 6.800 EUR đối với phiên bản Mauser M 98 cơ bản, nhưng việc bổ sung thêm các tùy chọn (xa xỉ) có thể khiến giá thành của chúng đắt hơn rất nhiều.
Một vài nhà sản xuất vũ khí và các thợ chế tạo súng thủ công theo yêu cầu khác hiện nay cũng đang sản xuất các bản sao của hệ thống M98 hoặc các dòng súng trường săn bắn/thể thao lên đạn bằng khóa nòng lấy cảm hứng từ M98. Những đặc điểm ưu việt của hệ thống M98, chẳng hạn như cơ chế cấp đạn kiểm soát, đã được kế thừa trên hàng loạt thiết kế súng trường khóa nòng xoay thế hệ muộn hơn. Các thiết kế này sở hữu những sửa đổi về mặt kỹ thuật nhằm đơn giản hóa quy trình sản xuất, đồng thời mang lại các cải tiến về mặt công nghệ và công thái học.
Cò súng
[sửa | sửa mã nguồn]Khẩu súng trường này sở hữu một cò súng hai giai đoạn với một khoảng hành trình tự do khá dài trước khi cò thực sự ăn khớp vào lẫy truyền lực. Đặc điểm này hỗ trợ đắc lực trong việc ngăn ngừa các tình huống cướp cò (nổ súng sớm ngoài ý muốn) khi xạ thủ chịu áp lực tâm lý căng thẳng (trong chiến đấu). Ngoài ra, cơ cấu cò hai giai đoạn cũng cho phép quá trình kéo cò diễn ra êm ái hơn nhiều trước khi giải phóng kim hỏa.
Thước ngắm, đầu ruồi
[sửa | sửa mã nguồn]Ban đầu, đường ngắm của Gewehr 98 cấu thành từ một đầu ruồi dạng bản hở ở phía trước và một thước ngắm kiểu cự ly tiếp tuyến dạng cong có khe ngắm chữ V ở phía sau, thường được gọi là thước ngắm Lange Visier (đặt theo tên nhà thiết kế, Trung tá Lange). Thước ngắm này được chia vạch chia độ tương thích với các dòng đạn M/88 kiểu năm 1888, kéo dài từ cự ly 200 m (220 yd) đến 2.000 m (2.200 yd) với các bước nhảy tăng dần mỗi 100 m (110 yd). Cỡ đạn M/88 thời kỳ đó nạp các đầu đạn mũi tròn vỏ bọc kim loại hoàn toàn.
Các thành phần ngắm bắn bằng kính ngắm cơ khí hở tiêu chuẩn bao gồm các chi tiết ngắm tương đối thô và bền chắc, giúp đường ngắm phù hợp cho các điều kiện vận hành khắc nghiệt hoặc sử dụng trong môi trường thiếu sáng, nhưng lại ít phù hợp hơn cho nhiệm vụ ngắm bắn vào các mục tiêu điểm có kích thước nhỏ. Phần rãnh trượt của thước ngắm phía sau cũng che khuất tầm nhìn sang hai bên trong quá trình lấy đường ngắm. Các bộ phận ngắm bắn này được thiết kế hướng tới các mục tiêu chế áp trên diện rộng ở khoảng cách xa, chẳng hạn như các đơn vị kỵ binh đang xung phong, do đó đường ngắm cơ khí tiêu chuẩn có thể hiệu chuẩn được cho các cự ly rất lớn. Học thuyết quân sự vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 coi việc bắn vào các mục tiêu diện rộng ở xa - nơi một sĩ quan sẽ hô vang cự ly và các binh sĩ đồng loạt bắn loạt - là một chiến thuật thông thường.
Những nỗ lực do chính phủ Đức thúc đẩy nhằm nâng cao hiệu suất của dòng đạn quân dụng M/88 cũng như các loại vũ khí biên chế sử dụng đạn M/88 đã dẫn đến việc Ủy ban Thử nghiệm Súng trường (Gewehr-Prüfungskommission) thiết kế và thông qua cấu trúc buồng đạn hoán cải kích thước của cỡ đạn 7.92×57mm Mauser vào năm 1903. Bên cạnh buồng đạn, lòng khương tuyến nòng súng (được ký hiệu là "khương tuyến S") cũng được tái thiết kế về mặt kích thước. Cỡ đạn 7.92×57mm Mauser S Patrone (đạn đặc S) kiểu năm 1903 được nạp một đầu đạn mũi nhọn Spitzgeschoß có trọng lượng nhẹ hơn là 9,9 gam (153 gr), đường kính đầu đạn đạt 8,2 mm (0,323 in), đi kèm loại thuốc súng không khói hai thành phần (nền nitrocellulose và nitroglycerin) có uy lực mạnh hơn. Nhờ hệ số khí động được cải thiện của đầu đạn mũi nhọn mới, viên đạn kiểu năm 1903 đã tối ưu hóa tầm bắn hiệu quả tối đa và sở hữu đường đạn phẳng hơn, từ đó giúp giảm thiểu tính khắt khe trong việc ước tính cự ly bắn của xạ thủ khi so sánh với đạn M/88 đời cũ.[12] Cùng với việc đưa vào sử dụng đạn S Patrone, các vạch chia độ trên thước ngắm phía sau cũng được thay đổi tương ứng, có thể hiệu chỉnh cự ly từ 400 m (440 yd) đến 2.000 m (2.200 yd) với các bước nhảy tăng dần mỗi 100 m (110 yd).
Mặc dù đường ngắm sửa đổi dành cho đạn kích nổ trung tâm 7.92×57mm Mauser S Patrone IS được hiệu chuẩn cho khoảng cách lấy điểm chuẩn (zero) tối thiểu là 400 m (440 yd) và có thể dẫn đến tình trạng đường đạn bị ăn cao (bắn lệch lên phía trên) khi sử dụng đầu ruồi dạng bản hở và khe ngắm chữ V ở cự ly gần; tuy nhiên, các cọc đứng được tạo bởi rãnh trượt của thước ngắm phía sau cho phép xạ thủ nhanh chóng kẹp khóa các mục tiêu ở khoảng cách gần hơn vào giữa "khung thành". Phương pháp ngắm bắn này tự động bù trừ cho điểm ngắm bị cao khi áp dụng kỹ thuật ngắm thông thường ở các cự ly dưới 400 m (440 yd).
Báng súng
[sửa | sửa mã nguồn]Thân báng súng hoàn thiện bằng phương pháp quét dầu của Gewehr 98 được thiết kế với cấu trúc cổ báng dạng nửa súng ngắn (semi-pistol grip). Một ốp lót tay phía trên là trang bị tiêu chuẩn trên tất cả các khẩu súng trường, kéo dài từ phía trước của bệ thước ngắm sau và kết thúc ngay phía trước đai giữ nòng phía dưới. Một chốt thép ngang (cross bolt) được lắp xuyên qua thân súng nhằm phân tán các lực tác động và giảm thiểu ảnh hưởng của lực giật lên bệ đỡ báng súng, giúp hạ thấp tỷ lệ báng súng bị nứt vỡ dọc. Báng súng được bố trí một khuyên móc dây đeo tháo lắp nhanh ở mặt dưới của đế báng, một khuyên móc phía trên nằm dưới đai giữ nòng phía dưới, và một móc duyệt binh được gắn ở mặt dưới của đai giữ nòng phía trên dạng chữ H. Các phiên bản báng súng thời kỳ trước chiến tranh được sản xuất từ gỗ óc chó và được lưu kho sấy tự nhiên trung bình trong ba năm để thớ gỗ đạt trạng thái ổn định. Bắt đầu từ năm 1917, tình trạng khan hiếm gỗ óc chó đã buộc quân đội phải chuyển sang sử dụng gỗ dẻ gai. Những báng súng bằng gỗ dẻ gai được sản xuất vào giai đoạn cuối chiến tranh có độ bền kém hơn và trọng lượng nặng hơn so với báng súng bằng gỗ óc chó nguyên bản.
Phụ kiện
[sửa | sửa mã nguồn]Khẩu súng trường được cấp phát kèm theo một dây đeo súng bằng da. Trong suốt thời gian diễn ra Chiến tranh Thế giới thứ nhất, do tình trạng thiếu hụt vật liệu da, các loại dây đeo súng đã được sản xuất thay thế bằng vải bạt.
Khẩu súng trường này cũng có khả năng bắn được đạn phóng lựu từ súng trường. Nhiều mẫu ống phóng lựu gắn ngoài cho súng trường đã được thiết kế và đưa vào sử dụng trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất.

Gewehr 98 được thiết kế để kết hợp sử dụng với một lưỡi lê.[13] Để phục vụ tính năng này, súng sở hữu một đai giữ nòng phía trên dạng chữ H tích hợp vấu gắn lưỡi lê dài 4,5 cm (1,8 in). Bề mặt chịu lực kéo dài trên vấu gắn lưỡi lê của Gewehr 98 đã loại bỏ sự cần thiết phải trang bị thêm vòng ôm đầu nòng súng. Ưu điểm của giải pháp thiết kế này nằm ở chỗ các vòng ôm đầu nòng có thể gây ảnh hưởng đến sự dao động tự nhiên của nòng súng khi bắn, từ đó làm giảm đáng kể độ chính xác của súng trường. Ban đầu, súng được cấp phát cùng với mẫu lưỡi lê kiểu Seitengewehr 98. Dòng lưỡi lê dáng kiếm này sở hữu phần lưỡi cắt dài 500 mm (19,7 in) với sống dao dạng rãnh xương. Đến cuối năm 1905, mẫu lưỡi lê này bắt đầu được thay thế bằng phiên bản Seitengewehr 98/05 có kết cấu bền chắc và mang tính thực tế cao hơn, sở hữu chiều dài lưỡi cắt 370 mm (14,6 in). Nó được lực lượng Đồng minh gọi bằng cái tên "Dao đồ tể" (Butcher Blade) do hình dáng đặc trưng của nó, và ban đầu được thiết kế dành cho binh sĩ pháo binh và công binh để làm một công cụ chặt phát cây cối bên cạnh vai trò của một thứ vũ khí cận chiến. Về giai đoạn cuối của Chiến tranh Thế giới thứ nhất, mẫu lưỡi lê Seitengewehr 84/98 với lưỡi cắt dài 250 mm (9,8 in) đã được giới thiệu như một biện pháp tiết kiệm vật liệu và do các mẫu lưỡi lê dài tỏ ra không thực tế trong không gian chật hẹp của các chiến hào; mẫu thiết kế này đã trở thành trang bị tiêu chuẩn trong thời kỳ Cộng hòa Weimar và Đức Quốc xã. Các phiên bản có sống lưng dạng răng cưa của các mẫu tiêu chuẩn - được thiết kế để sử dụng như một công cụ lao động - được trang bị cho lực lượng công binh công trình Đức (Pioniere).
Các biến thể
[sửa | sửa mã nguồn]Các phiên bản bắn tỉa
[sửa | sửa mã nguồn]Vào mùa xuân năm 1915, quân đội Đức quyết định lựa chọn 15.000 khẩu súng trường Gewehr 98 đạt độ chính xác đặc biệt xuất sắc trong các cuộc thử nghiệm tại nhà máy để lắp thêm kính ngắm quang học phục vụ cho nhiệm vụ bắn tỉa, mặc dù thiết kế nguyên bản của Gewehr 98 vốn không được tính toán để tương thích với các loại kính ngắm. Mẫu súng trường bắn tỉa Scharfschützen-Gewehr 98 (súng trường bắn tỉa 98) chính thức được thông qua vào năm 1915, trang bị các loại kính ngắm quang học phóng đại 4× của hãng Görtz hoặc Zeiss vô cùng tiên tiến vào thời kỳ đó. Các kính ngắm này được lắp đặt lệch sang phía bên trái nhằm cho phép xạ thủ vẫn có thể nạp đạn nhanh bằng kẹp đạn, đồng thời kính ngắm cũng sở hữu một núm xoay hiệu chỉnh tầm rơi của đạn (bullet drop compensation) ra tới cự ly 1.000 m với các bước nhảy tăng dần mỗi 100 m. Phần tay kéo bệ khóa nòng buộc phải bẻ cong xuống dưới thay vì thiết kế dạng thẳng nguyên bản. Trên thân báng súng, một hốc lõm cũng được khoét thêm để khớp với phần tay kéo bệ khóa nòng sau khi cải tiến.
Chương trình chế tạo súng trường bắn tỉa Scharfschützen-Gewehr 98 trong thời chiến nhằm mục đích chuẩn hóa trang bị cấp phát cho lực lượng bắn tỉa nhưng đã không thành công. Các loại kính ngắm quang học được sử dụng khá đa dạng bao gồm các mẫu phóng đại 2.5×, 3× và 4×, sản xuất bởi các hãng như Görtz, Gérard, Oigee, Zeiss, Hensoldt, Voigtländer, cùng nhiều mẫu dân dụng khác từ các nhà sản xuất như Bock, Busch và Füss. Rất nhiều kiểu bộ gá chân kính do các nhà sản xuất khác nhau chế tạo đã được đưa vào sử dụng. Ngay cả khi tay kéo bệ khóa nòng đã được bẻ cong xuống (trừ khi nó thuộc kiểu dáng mỏng áp sát thân súng như thông lệ trên các dòng súng săn hiện đại), các thấu kính quang học nếu lắp ở vị trí quá thấp ngay sát phía trên bệ khóa nòng sẽ không để lại đủ không gian giữa thân súng và thân kính ngắm, gây cản trở nghiêm trọng hành trình kéo khóa nòng hoặc thao tác của lẫy khóa an toàn ba vị trí. Vấn đề công thái học này đã được giải quyết bằng cách thiết kế bộ gá chân kính đặt kính ngắm quang học ở vị trí tương đối cao phía trên bệ khóa nòng. Tính đến thời điểm Chiến tranh Thế giới thứ nhất kết thúc, đã có tổng cộng 18.421 khẩu súng trường Gewehr 98 được hoán cải, trang bị kính ngắm quang học và cấp phát cho các xạ thủ bắn tỉa Đức.[14][15]
Karabiner 98a
[sửa | sửa mã nguồn]
Cần tránh nhầm lẫn với phiên bản Karabiner 98k ra đời muộn hơn hoặc phiên bản Karabiner 98A (chữ A viết hoa) xuất hiện trước đó, mẫu Karabiner 98a (Kar 98a) là một biến thể sở hữu chiều dài ngắn hơn của Gewehr 98, ban đầu được chế tạo để trang bị cho lực lượng kỵ binh và các đơn vị hỗ trợ. Dòng Karabiner 98A, được thông qua vào tháng 2 năm 1902, sở hữu nòng súng ngắn hơn đáng kể so với Gewehr 98 và cũng có trọng lượng nhẹ hơn, đạt 3,42 kg (7,5 lb) khi chưa nạp đạn. Các cuộc thử nghiệm vào năm 1904 với các khẩu súng ngắn carbine Karabiner 98A được hoán cải buồng đạn để tương thích với đạn S Patrone đã bộc lộ những nhược điểm về lực giật quá mạnh và chớp cháy đầu nòng quá lớn, dẫn đến việc đình chỉ sản xuất dòng súng này vào năm 1905.[16] Ủy ban Thử nghiệm Súng trường (GPK) sau đó đã bắt đầu phát triển một mẫu súng carbine mới sở hữu nòng súng dài hơn cùng cấu trúc báng súng thay đổi để giải quyết các vấn đề nêu trên; tính đến giai đoạn giữa mùa hè năm 1907, các mẫu thử nghiệm carbine nòng dài hơn đã cho thấy các phản ứng về lực giật và chớp cháy đầu nòng ở mức độ chấp nhận được khi bắn đạn S Patrone.
Vào tháng 1 năm 1908, mẫu súng Karabiner Model 1898 AZ (Kar 98AZ) chính thức được chấp thuận đưa vào biên chế. Những đặc điểm mới bao gồm một đai bệ khóa nòng đường kính nhỏ (33 mm (1,30 in)), biên dạng nòng súng dạng thuôn côn thay vì dạng giật nấc, một thanh xếp súng dạng chữ L gắn vào phần báng gần đầu nòng, cùng thiết kế tay kéo bệ khóa nòng bẻ cong xuống kèm hốc khoét trên báng tương tự như trên biến thể bắn tỉa của Gewehr 98. Ký tự "AZ" là viết tắt của cụm từ "Aufpflanz-und-Zusammensetzvorrichtung",[17] có nghĩa là "tích hợp điểm gắn lưỡi lê và thanh xếp súng". Tính đến thời điểm Chiến tranh Thế giới thứ nhất kết thúc, đã có khoảng 1.500.000 khẩu súng trường ngắn loại này được xuất xưởng. Vào năm 1923, mẫu AZ được đổi tên thành 'a', khi nước Đức tìm cách phân biệt biến thể này với các mẫu 'b' và 'k' đời mới hơn.[18]
Trong suốt Chiến tranh Thế giới thứ nhất, Karabiner 98a được cấp phát cho lực lượng bộ binh nhẹ, kỵ binh, quân đội chuyên tác chiến vùng núi, và về sau là cho các lực lượng xung kích (stormtroopers). Súng rất được ưa chuộng nhờ ưu điểm nhẹ hơn và ngắn hơn khẩu Gewehr 98 tiêu chuẩn, từ đó tỏ ra phù hợp hơn hẳn khi vận hành trong các cuộc tấn công giáp lá cà dưới lòng chiến hào chật hẹp.
Karabiner 98b
[sửa | sửa mã nguồn]Về mặt kỹ thuật, Karabiner 98b không hẳn là một biến thể "carbine" đúng nghĩa, mà đúng hơn là một khẩu súng trường tiêu chuẩn nhưng được định danh là súng carbine để tuân thủ các điều khoản của Hiệp ước Versailles, vốn chỉ cho phép nước Đức được sản xuất các dòng súng carbine ngắn.[18] Mẫu Karabiner Model 1898b được giới thiệu vào năm 1923.[19] Karabiner 98b sở hữu một thước ngắm cự ly tiếp tuyến dạng phẳng thay vì thước ngắm dạng dốc "Lange" nguyên bản, đai giữ nòng phía dưới được làm rộng hơn tích hợp thanh gắn dây đeo súng bên hông, một điểm gắn dây đeo súng ở bên hông báng súng, cùng thiết kế tay kéo bệ khóa nòng bẻ cong xuống. Về các phương diện khác, súng đơn thuần là một phiên bản sửa đổi trực tiếp từ khẩu Gewehr 98, và cũng chính là nền tảng để phát triển nên dòng Karabiner 98k sau này.[4]
So sánh các biến thể
[sửa | sửa mã nguồn]| Đặc điểm | Gewehr 98 (1898) | Karabiner 98AZ / Karabiner 98a (1908) | Karabiner 98b (1923) | Karabiner 98k (1935) |
|---|---|---|---|---|
| Chiều dài tổng thể | 1.250 mm (49,21 in) | 1.090 mm (42,91 in) | 1.250 mm (49,21 in) | 1.110 mm (43,70 in) |
| Chiều dài nòng súng | 740 mm (29,13 in) | 600 mm (23,62 in) | 740 mm (29,13 in) | 600 mm (23,62 in) |
| Chiều dài đường ngắm | 650 mm (25,59 in) | 500 mm (19,69 in) | 650 mm (25,59 in) | 500 mm (19,69 in) |
| Trọng lượng | 4,09 kg (9,0 lb) | 3,7 kg (8,2 lb) | 4,0 kg (8,8 lb) | 3,7–4,1 kg (8,2–9,0 lb) |
| Các đặc điểm nổi bật khác | tay kéo bệ khóa nòng dạng thẳng, thước ngắm dạng dốc Lange | tay kéo bệ khóa nòng bẻ cong xuống kèm hốc khoét trên báng, thanh xếp súng chữ L gần đầu nòng, hệ thống hành trình đai nhỏ, thước ngắm tiếp tuyến, đầu ruồi có vành bảo vệ hai bên | tay kéo bệ khóa nòng bẻ cong xuống kèm hốc khoét trên báng, thước ngắm tiếp tuyến | tay kéo bệ khóa nòng bẻ cong xuống kèm hốc khoét trên báng, thước ngắm tiếp tuyến |
Lịch sử chiến đấu
[sửa | sửa mã nguồn]Khẩu Gewehr 98 tham chiến chủ yếu trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất, cũng như trong cuộc Phong trào Nghĩa Hòa Đoàn và Chiến tranh Herero vào những năm trước đó.[20] Tương tự như tất cả các dòng súng trường lên đạn bằng tay cùng thời, đây là một khẩu súng trường uy lực, có độ chính xác cao và tầm bắn xa, nhưng lại ít phù hợp cho các cuộc cận chiến giáp lá cà trong Chiến tranh chiến hào. Chiều dài tổng thể quá lớn của súng cùng với mức thiết lập thước ngắm tối thiểu lên tới 400 mét (vượt quá xa so với tầm bắn đặc trưng trong các trận chiến chiến hào) là những điểm bất lợi cụ thể.[21]
Thế hệ kế nhiệm của nó, khẩu Karabiner 98k, sau này đã trở thành mẫu súng trường tiêu chuẩn của bộ binh Đức trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Một số khẩu Gewehr 98 vẫn tiếp tục được sử dụng trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, mặc dù nhiều khẩu súng trường đời cũ này đã được hoán cải cấu trúc sang các tiêu chuẩn của phiên bản 98b hoặc 98k.
Tiêu chuẩn độ chính xác quân sự
[sửa | sửa mã nguồn]Để xác định độ chính xác, quân đội Đức đã tiến hành bắn một loạt đạn vào bia và áp dụng phương pháp thống kê để tính xác suất trúng đích. Theo đó, họ vẽ một vòng tròn loại bỏ các phát bắn nằm ở phần rìa ngoài của bia và chỉ tính một nửa số phát bắn (50% hoặc R50) nằm ở phần lõi trong của vòng tròn. Sau đó, họ sử dụng cả số đo chiều dọc và chiều ngang của nhóm lỗ đạn thu hẹp này để đánh giá độ chính xác. Khi kết quả R50 được nhân đôi, xác suất trúng đích sẽ tăng lên mức 93.7%.
Để vượt qua tiêu chuẩn độ chính xác tối thiểu của quân đội Đức, một khẩu Gewehr 98 phải đạt được kết quả kiểm tra như sau.[22]

| Cự ly | Độ chính xác theo phương dọc (R50) | Độ chính xác theo phương ngang (R50) |
|---|---|---|
| 100 m (109 yd) | 6 cm (2,4 in) | 4 cm (1,6 in) |
| Cự ly | Độ chính xác theo phương dọc (R93.7) | Độ chính xác theo phương ngang (R93.7) |
| 100 m (109 yd) | 12 cm (4,7 in) | 8 cm (3,1 in) |
Để vượt qua tiêu chuẩn nghiệm thu tối thiểu, 3 trong số 5 phát bắn phải nằm gọn trong một hình chữ nhật có kích thước 8 x 12 cm ở cự ly 100 m (tương đương 3.1 x 4.1 MOA), đồng thời toàn bộ 5 trên 5 phát bắn phải nằm bên trong một vòng tròn đường kính 12 cm ở cự ly 100 m để khẩu súng đó được chấp thuận đưa vào biên chế chính thức.[23] Các yêu cầu này tiếp tục được kế thừa áp dụng cho Karabiner 98k, mẫu súng trường tiêu chuẩn của Đức trong Thế chiến thứ hai.
Để tham khảo, một vòng tròn có diện tích 1 phút góc (MOA) ở cự ly 100 m (109 yd) sở hữu đường kính đạt 2,9 cm (1,1 in), do đó kích thước 6 cm (2,4 in) ở cự ly 100 m (109 yd) tương đương với 2.06 MOA, và 12 cm (4,7 in) ở cự ly 100 m (109 yd) tương đương với 4.12 MOA. Nói một cách ngắn gọn, độ phân tán tối đa cho phép không được vượt quá mức 4.1 MOA.
Phương pháp sai số vòng tròn xác suất được áp dụng bởi quân đội Đức và các quốc gia châu Âu khác không thể chuyển đổi trực tiếp và không mang tính tương đồng với các phương pháp phổ biến của Mỹ (đo kích thước cụm lỗ đạn của 5 hoặc 10 phát bắn liên tiếp ở cự ly 100 yard) để xác định độ chính xác, hoặc phương pháp của Anh quy định 4 trong số 5 phát bắn liên tiếp ở cự ly 100 feet phải trúng vào một hình chữ nhật có kích thước rộng 1 inch × cao 1.5 inch (tương đương với 4.54 MOA).
Theo các cuốn sách hướng dẫn quân sự từ trước Chiến tranh Thế giới thứ nhất, những khẩu súng trường Gewehr 98 mới tinh khi bắn dòng đạn đặc S Patrone trọng lượng 154 grain nhẹ hơn của Thế chiến thứ nhất đạt mức phân tán trung bình theo phương dọc là 34 cm (13,4 in) (3.9 MOA) và theo phương ngang là 28 cm (11,0 in) (3.2 MOA) ở cự ly 300 m (328 yd). Các khẩu Karabiner 98AZ / Karabiner 98a mới (phiên bản nòng ngắn, đai bệ khóa nòng nhỏ của Gewehr 98) khi bắn đạn đặc S Patrone đạt mức phân tán trung bình theo phương dọc là 43 cm (16,9 in) (4.9 MOA) và theo phương ngang là 34 cm (13,4 in) (3.9 MOA) ở cự ly 300 m (328 yd).[24][25] Từng khẩu vũ khí riêng lẻ có thể bắn cho kết quả tốt hơn hoặc tệ hơn các mức trung bình này.
Để so sánh, dưới đây là các yêu cầu nghiệm thu độ chính xác tối thiểu đối với các dòng súng trường quân dụng khác nhau của Mỹ ở cự ly 100 yd (91,4 m) cũng như dòng súng trường Lee Enfield No.4 Mk.I của Anh ở cự ly 100 ft (30,5 m).
| Dòng súng (năm thiết kế) | Cự ly | Đường kính cụm lỗ đạn |
|---|---|---|
| M1903 Springfield (1903) | 100 yd (91 m) | 3 in (7,6 cm) [3 MOA] |
| Lee–Enfield No.4 (1941) | 100 ft (30 m) | 4 trong số 5 phát bắn nằm trong hình chữ nhật rộng 1 in × cao 1.5 in 2,5 cm × 3,8 cm [3.03 x 4.54 MOA][26] |
| M1 Garand (1936) | 100 yd (91 m) | 5 in (12,7 cm) [5 MOA] |
| M14 (1959) | 100 yd (91 m) | 5,5 in (14,0 cm) [5.5 MOA] |
| Sê-ri M16 (1964) | 100 yd (91 m) | 4,5 in (11,4 cm) [4.5 MOA] |
Để tham khảo, một vòng tròn 1 MOA ở cự ly 100 yd (91 m) sở hữu đường kính đạt 1,047 in (2,7 cm), kích thước 3 in (7,6 cm) ở cự ly 100 yd (91 m) tương đương với 2.9 MOA, và 5 in (12,7 cm) ở cự ly 100 yd (91 m) tương đương với 4.8 MOA.
Tóm lại, các tiêu chuẩn độ chính xác của Gewehr 98 và phần lớn các dòng súng trường quân dụng khác được sử dụng trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất cũng như giai đoạn sau đó là tương đồng với nhau.
Các quốc gia sử dụng
[sửa | sửa mã nguồn]
Đế quốc Áo-Hung: Sử dụng mẫu biến thể Repetiergewehr M.14 trong Thế chiến I.
Argentina: 200.000 khẩu biến thể Mauser 1909.[27]
Bỉ: Hậu Thế chiến I[28]
Trung Hoa Dân Quốc (1912–1949): nhập khẩu nhiều nhất sau Thế chiến I[29]
Tiệp Khắc[28]
Chile: Súng trường ngắn 300 DWM Mauser Model 1907 và Model 1912 do Steyr sản xuất.[30]
Đan Mạch: một số được chuyển đổi thành súng trường huấn luyện sau Thế chiến II.[31]
Đế quốc Ethiopia: Mua trong thời kỳ giữa hai cuộc đại chiến.[32]
Pháp: một số Karabiner 98A sau Thế chiến I,[33] Karabiner 98B sau Thế chiến II.[34]
Đế quốc Đức: Súng trường tiêu chuẩn.[35]
Cộng hòa Weimar: Phiên bản Karabiner 98A và Karabiner 98B, tuân thủ các hạn chế do Hiệp ước Versailles đặt ra.
Đức Quốc xã: Ban đầu được sử dụng bởi lính bắn tỉa, sau đó được sử dụng bởi các đơn vị Volkssturm.[36]
Cộng hòa Ireland: Quân đội Cộng hòa Ireland vào tháng 7 năm 1921, một lô hàng súng ngắn Gewehr 98 và Mauser C96 đã được Charles McGuinness buôn lậu vào Waterford.[37]
Mexico: Mua Model 1907 do Steyr sản xuất từ năm 1907 đến năm 1910 và Model 1912 do Steyr sản xuất cho đến năm 1914.[30]
Đế quốc Ottoman: Đã sử dụng một phiên bản sửa đổi Gewehr 98 được gọi là Mauser Model 1903 (còn được gọi là Ottoman Mauser), sau Chiến tranh giành độc lập Thổ Nhĩ Kỳ hầu hết đã được Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ chuyển đổi sang tiêu chuẩn 'M38.[38]
Peru: Đã mua khoảng 50.000 khẩu súng trường Model 1909 (phiên bản xuất khẩu của Gew. 98) từ năm 1910 đến năm 1914.[39]
Ba Lan: Súng trường cũ của Đức sau Thế chiến I. Các bản sao của Karabiner98A và G98 được sản xuất dưới tên Karabin wz. 98 / W98 (Súng trường 98) và Karabinek wz. 98 / K98 (carbine 98) [40] ở Państwowa Fabryka Karabinów ở Warsaw và Fabryka Broni ở Radom.[41]
România: Một số súng trường Infanteriegewehr 98 và Karabiner 98AZ được Đức lấy lại để bồi thường sau Thế chiến I.[42]
Tây Ban Nha[43][44]
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga: Được Hồng quân sử dụng trong Nội chiến Nga.[45]
Nam Tư: Sau Thế chiến I, hầu hết được chuyển đổi sang cấu hình M24B . Những chiếc được tiếp tục sử dụng được đặt tên là Puška 7,9 mm M 98 (Gew 98) và Karabini 7,9 mm M98 (Karabiner 98AZ).[46]
Việt Nam
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Gewehr & Karabiner 98: Die Schußwaffen 98 des deutschen Reichsheeres von 1898 bis 1918. Kataloge des Bayerischen Armeemuseums Ingolstadt (bằng tiếng Đức). Quyển 4. Wien: Verlag Militaria. 2006. ISBN 978-3-902526-04-5.
- ↑ "Five Supposed Mauser Firsts ... That Weren't - The Firearm Blog". thefirearmblog.com. ngày 13 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2018.
- ↑ "The Mauser 98: The Best Bolt-Action Rifle Ever Made?". Warfare History Network. ngày 16 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2025.
- 1 2 Ball 2011, tr. 149.
- ↑ Storz, Dieter (2006). Gewehr & Karabiner 98: Die Schußwaffen 98 des deutschen Reichsheeres von 1898 bis 1918. Verlag Militaria. ISBN 978-3-902526-04-5.
- ↑ "Mauser model 98 (Germany)". modernfirearms.net. ngày 28 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2017.
- ↑ "Blaser R8 Repetierbüchse" (bằng tiếng Đức). saxtech.eu. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 7 năm 2011.
- ↑ CmpsdNoMore (ngày 21 tháng 9 năm 2008). "K98 Bolt Disassembly and Reassembly". Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2018 – qua YouTube.
- ↑ "Ballistol about us". Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2016.
- ↑ Garander. "Turk Mauser - Model of 1893 - Magazine Cut-Off". www.turkmauser.com. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2018.
- ↑ "Mauser Jagdwaffen GmbH". Mauserwaffen.de. Bản gốc lưu trữ 19 tháng 5 2011. Truy cập 6 tháng 5 2011.
- ↑ "8mm, Mauser, 8X57, 7.92X57, 7,92X57, 7.8X57, 7.8, 7.90, 7.92, Springfield, .30-03, .30-06. 8X57R, J, S, JR, JRS, Special, Remington, Winchester, Norma, RWS, DWM, German, Turk, Turkish, Turkey, Equador, Equadorian, Yugoslavia, Yugoslavian, Czechoslovakia, C". omegacrossroads.com. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2018.
- ↑ "The Model 1898 infanterie Gewehr: the German 98 Mauser was blooded and proven during the four nightmare years of WWI". Findarticles.com. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2011.
- ↑ "French Gewehr 98 and Karabiner 98a". Tirmilitairefabrice.ifrance.com. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2011.
- ↑ "Übe Auge und Hand fürs Vaterland, Die Waffen der Deutsche Jäger und Scharfschützen, Teil 3" (PDF). frankonia.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2018.
- ↑ "The Karabiner 98a" (PDF). ycgg.org.
- ↑ Gotz, Hans-Dieter (1990). Die deutschen Militärgewehre und Maschinenpistolen 1871-1945 [German Military Rifles and Machine Pistols 1871-1945] (bằng tiếng Đức). Stuttgart: Motorbuch Verlag. tr. 148. ISBN 978-3-87943-350-6.
- 1 2 Smith, Randy D. (2005). "Old Mausers". Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2007.
- ↑ Graf (2005). "The Kar.98a". Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2007.
- ↑ Grant 2015, tr. 39.
- ↑ Grant 2015, tr. 42-43.
- ↑ H.Dv.240: Schiessvorschrift für Gewehr (Karabiner) leichtes Maschinengewehr und Pistole und Bestimmungen für das Werken scharfer Handgranaten. Berlin: E.G. Mittler. ngày 30 tháng 6 năm 1934.
- ↑ Peter R. Senich, The German Sniper 1914–1945, trang 79-80
- ↑ Schiessvorschrift für die Infanterie (Sch.V.f.d. Inf.). Prussia Kriegsministerium. ngày 21 tháng 10 năm 1909.
- ↑ "Das Gewehr 98 mit S-Munition und seineVerwendung, mit Benutzung des Entwurfeseiner neuen Schiessvorschrift von 1905 bearb. / v. Estorff" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 8 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2021.
- ↑ Chasing Lee Enfield Accuracy, Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2015,
citing Lynn Harris (1998) Guns & Game, p. 94
- ↑ Webster, Colin. Argentine Mauser Rifles 1871–1959. Schiffer Publishing Ltd. ISBN 978-0-7643-1868-9.
- 1 2 Bishop, Chris (1998). Guns in Combat. Chartwell Books, Inc. ISBN 0-7858-0844-2.
- ↑ Ness, Leland; Shih, Bin (tháng 7 năm 2016). Kangzhan: Guide to Chinese Ground Forces 1937–45. Helion & Company. tr. 264. ISBN 9781910294420.
- 1 2 Ball 2011, tr. 258-161.
- ↑ Ball 2011, tr. 125.
- ↑ Scarlata, Paul (ngày 1 tháng 3 năm 2009). "Ethiopian military rifle cartridges: Part 2: from Mauser to Kalashnikov". Shotgun News.
- ↑ Sicard, Jacques (tháng 3 năm 1991). "Les cavaliers du Levant et leurs insignes". Armes Militaria Magazine (bằng tiếng Pháp). Số 68. tr. 46–51.
- ↑ Ball 2011, tr. 137.
- ↑ "Modern Firearms – Mauser 98". World.guns.ru. ngày 24 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2011.
- ↑ "German Rifles". Gkironfist.greatnow.com. Bản gốc lưu trữ 11 tháng 7 2011. Truy cập 6 tháng 5 2011.
- ↑ "Firearms of the Irish Civil Wars: Part 2 the Republicans: their Unionist opponents had a much better quantity and variety of arms, but the Republicans put theirs to a lot more use. - Free Online Library". www.thefreelibrary.com. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2023.
- ↑ "Gew. 98". Turk Mauser. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2011.
- ↑ Ball 2011, tr. 289-190.
- ↑ Smith 1969, tr. 528.
- ↑ Haładaj, Krzysztof (2013). Wielki leksykon uzbrojenia: Wrzesień 1939. Karabiny i karabinki Mauser 98 (bằng tiếng Ba Lan). ISBN 978-83-7769-558-6.
- ↑ "PART I: ROMANIAN WORLD WAR II: SMALL ARMS: PUSTI SI PISTOLUL MITRALIERA. - Free Online Library". www.thefreelibrary.com. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2022.
- ↑ "The Geweh 98 - Before 1919 ..." ngày 15 tháng 2 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2018.
- ↑ de Quesada, Alejandro (ngày 20 tháng 5 năm 2014). The Spanish Civil War 1936–39 (1): Nationalist Forces. Men-at-Arms 495. Osprey Publishing. tr. 38. ISBN 9781782007821.
- ↑ The Russian Civil War (1): The Red Army. Osprey Publishing. 1996. tr. 17. ISBN 9781855326088.
- ↑ Bogdanivić, Branko (1990). Puške: dva veka pušaka na teritoriji Jugloslavije. SPORTINVEST, Belgrade. tr. 110–123. ISBN 86-7597-001-3.
Tài liệu
[sửa | sửa mã nguồn]- Ball, Robert W. D. (2011). Mauser Military Rifles of the World. Iola: Gun Digest Books. ISBN 9781440228926.
- Grant, Neil (ngày 20 tháng 3 năm 2015). Mauser Military Rifles. Weapon 39. Osprey Publishing. ISBN 9781472805942.
- Storz, Dieter (2006). Gewehr & Karabiner 98: Die Schußwaffen 98 des deutschen Reichsheeres von 1898 bis 1918 (bằng tiếng Đức). Verlag Militaria. ISBN 978-3-902526-04-5.
- Storz, Dieter. Deutsche Militärgewehre (Band 1): Vom Werdergewehr bis zum Modell 71/84 (bằng tiếng Đức).
- Storz, Dieter. Deutsche Militärgewehre (Band 2): Schußwaffen 88 und 91 sowie Zielß und Fechtgewehre, seitengewehre und Patronentaschen (bằng tiếng Đức).