Giáo dục tại gia

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Tranh vẽ lớp học tại nhà trên tờ tạp chí Punch của Đan Mạch ngày 18 tháng 4 năm 1889[1]

Giáo dục tại nhà, giáo dục tại gia hoặc giáo dục tự chọn tại nhà (EHE) là hình thức dạy học cho con cái hay trẻ em tại nhà hoặc nhiều nơi khác ngoài trường học.[2] Việc dạy học thường được tiến hành bởi phụ huynh, gia sư hoặc giáo viên trực tuyến.[3]Nhiều gia đình giáo dục tại gia sử dụng những cách giáo dục ít chính thức hơn.[4]

Trong khi "giáo dục tại nhà" là thuật ngữ thường được sử dụng ở Hoa Kỳ và các quốc gia khác ở Bắc Mỹ, "giáo dục tại nhà" được sử dụng chính ở Vương quốc Anh, Châu Âu và nhiều quốc gia thuộc Khối thịnh vượng chung.[5][6][7]

Việc thực hành giáo dục tại nhà có thể có gồm nhiều hình thức khác. Phổ dao động từ các hình thức có cấu trúc cao dựa trên các bài học truyền thống ở trường học đến các hình thức tự do, cởi mở hơn như không đi học.[8]

Trước khi có luật giáo dục bắt buộc, hầu hết giáo dục mầm non được thực hiện bởi các gia đình và cộng đồng địa phương.[9] Ở nhiều nước phát triển, giáo dục tại nhà là một giải pháp thay thế hợp pháp cho các trường công lập và tư thục. Ở các quốc gia khác, giáo dục tại nhà vẫn là bất hợp pháp hoặc bị hạn chế trong các điều kiện cụ thể, như được ghi nhận bởi tình trạng và thống kê quốc tế về giáo dục tại nhà.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trang đầu của cuốn sách Fireside Education của Samuel Griswold Goodrich

Trong hầu hết lịch sử và trong các nền văn hóa khác nhau, việc giáo dục trẻ em tại nhà bởi các thành viên trong gia đình là một việc làm phổ biến. Việc mời những gia sư có chuyên môn là một lựa chọn chỉ dành cho những người giàu có. Giáo dục tại gia đã suy giảm trong thế kỷ 19 và 20 với việc ban hành luật đi học bắt buộc. Tuy nhiên, nó vẫn tiếp tục được thực hành trong các cộng đồng biệt lập. Giáo dục tại nhà bắt đầu trỗi dậy vào những năm 1960 và 1970 khi các nhà cải cách giáo dục không hài lòng với nền giáo dục công nghiệp hóa.[9]

Các trường công lập sớm nhất trong nền văn hóa phương Tây hiện đại được thành lập trong thời kỳ cải cách với sự khuyến khích của tu sĩ Martin Luther ở các bang Gotha và Thuringia của Đức vào năm 1524 và 1527.[10] Từ những năm 1500 đến những năm 1800, tỷ lệ biết chữ tăng lên cho đến khi phần lớn người lớn biết chữ, nhưng sự phát triển của tỷ lệ biết chữ đã diễn ra trước khi thực hiện chế độ đi học bắt buộc và phổ cập giáo dục.[11]

Giáo dục tại nhà và học nghề tiếp tục là hình thức giáo dục chính cho đến những năm 1830.[12] Tuy nhiên, vào thế kỷ 18, phần lớn người dân ở châu Âu không được giáo dục chính quy.[13]Kể từ đầu thế kỷ 19, học trên lớp chính thức đã trở thành phương tiện phổ biến nhất của việc học ở các nước phát triển.

Năm 1647, New England cung cấp chương trình giáo dục tiểu học bắt buộc. Sự khác biệt về khu vực trong việc đi học tồn tại ở nước Mỹ thuộc địa. Ở miền Nam, các trang trại và đồn điền phân tán rộng rãi đến mức không thể thực hiện được các trường học cộng đồng như những trường học ở các khu định cư nhỏ ở phía bắc. Ở các thuộc địa giữa, tình hình giáo dục khác nhau khi so sánh New York với New England.[14]

Hầu hết các nền văn hóa bộ lạc thổ dân châu Mỹ theo truyền thống sử dụng giáo dục tại nhà và học nghề để truyền kiến thức cho trẻ em. Các bậc cha mẹ đã được sự hỗ trợ của họ hàng và các thủ lĩnh bộ lạc trong việc giáo dục con cái của họ. Người Mỹ bản địa phản đối quyết liệt giáo dục bắt buộc ở Hoa Kỳ.[15]

Vào những năm 1960, Rousas John Rushdoony bắt đầu ủng hộ việc dạy học tại nhà, mà ông coi đó là một cách để chống lại bản chất thế tục của hệ thống trường công ở Hoa Kỳ. Ông đã công kích mạnh mẽ các nhà cải cách trường học tiến bộ như Horace MannJohn Dewey, và lập luận về việc loại bỏ ảnh hưởng của nhà nước đối với giáo dục trong ba tác phẩm: Intellectual Schizophrenia, The Messianic Character of American EducationThe Philosophy of the Christian Curriculum. Rushdoony thường xuyên được Hiệp hội Bảo vệ Pháp luật Trường học Gia đình (HSLDA) gọi là nhân chứng chuyên môn trong các phiên tòa. Ông thường xuyên ủng hộ việc sử dụng các trường tư.[16]

Trong thời gian này, các chuyên gia giáo dục người Mỹ Raymond và Dorothy Moore bắt đầu nghiên cứu giá trị học thuật của phong trào Giáo dục Mầm non đang phát triển nhanh chóng. Nghiên cứu này bao gồm các nghiên cứu độc lập của các nhà nghiên cứu khác và xem xét hơn 8.000 nghiên cứu về giáo dục mầm non và sự phát triển thể chất và tinh thần của trẻ em.

Họ khẳng định rằng việc đi học chính thức trước lứa tuổi 8-12 không chỉ thiếu hiệu quả như mong đợi mà còn gây hại cho trẻ em. Nhà Moore công bố quan điểm của họ rằng việc đi học chính thức đang gây tổn hại cho trẻ nhỏ về mặt học tập, xã hội, tinh thần và thậm chí cả sinh lý. Moores đã đưa ra bằng chứng cho thấy các vấn đề thời thơ ấu như phạm pháp ở tuổi vị thành niên, cận thị, gia tăng số học sinh đăng ký vào các lớp giáo dục đặc biệt và các vấn đề về hành vi là kết quả của việc học sinh đăng ký học ngày càng sớm.[17] Moores trích dẫn các nghiên cứu chứng minh rằng những đứa trẻ mồ côi được nhận nuôi bởi những mẹ thay thế sẽ thông minh hơn một cách đáng kể, với tác dụng lâu dài vượt trội - mặc dù những người mẹ đó là "thanh thiếu niên chậm phát triển trí tuệ" - và rằng những bà mẹ bộ lạc mù chữ ở châu Phi đã sinh ra những đứa trẻ có tính xã hội và tình cảm hơn trẻ em điển hình tiên tiến phương Tây “theo tiêu chuẩn đo lường của phương Tây”.[17]

Khẳng định chính của họ là mối quan hệ và sự phát triển tình cảm được thực hiện ở nhà với cha mẹ trong những năm này đã tạo ra những kết quả quan trọng về lâu dài mà việc ghi danh vào các trường đã bị cắt ngắn và không thể thay thế hay sửa chữa trong một bối cảnh để tạo tiếng tăm sau này. [17] Nhận thức được sự cần thiết của việc chăm sóc sớm ngoài gia đình đối với một số trẻ em, đặc biệt là nhu cầu đặc biệt và trẻ em nghèo và trẻ em từ các gia đình có điều kiện cực kỳ tệ,[18] có thể gồm bối cảnh bạo lực, lạm dụng bằng lời nói, cha mẹ kém giáo dục, cha mẹ có vấn đề về cảm xúc, thiểu năng trí tuệ và không thể cung cấp dịch vụ chăm sóc và dinh dưỡng cơ bản. Họ khẳng định rằng phần lớn trẻ em có điều kiện học tập tốt hơn ở nhà, ngay cả với những bậc cha mẹ tầm thường, hơn là với những giáo viên có năng khiếu và động lực nhất trong môi trường trường học. Họ mô tả sự khác biệt như sau: "Điều này giống như nói rằng, nếu bạn có thể giúp một đứa trẻ bằng cách đưa nó ra khỏi con phố lạnh giá và nhốt nó trong một chiếc lều ấm áp, thì những chiếc lều ấm áp nên được cung cấp cho tất cả trẻ em - khi rõ ràng hầu hết trẻ em đã có nhà ở an toàn hơn."[17]

Moores chấp nhận phương pháp giáo dục tại nhà sau khi xuất bản tác phẩm đầu tiên của họ, Better Late Than Early, vào năm 1975, và trở thành những nhà tư vấn và ủng hộ giáo dục tại nhà quan trọng với việc xuất bản các cuốn sách như Home Grown Kids (1981) và Homeschool Burnout.[19]

Đồng thời, các tác giả khác đã xuất bản những cuốn sách đặt câu hỏi về tiền đề và hiệu quả của việc đi học bắt buộc, bao gồm Deschooling Society của Ivan Illich vào năm 1970 và No More Public School của Harold Bennet vào năm 1972.

Năm 1976, nhà giáo dục John Holt xuất bản Instead of Education; Ways to Help People Do Things Better (Thay vì Giáo dục; Cách Giúp Mọi Người Làm Mọi Việc Tốt Hơn). Trong phần kết luận, ông kêu gọi thành lập "Đường ray ngầm dành cho trẻ em" để giúp trẻ em thoát khỏi cảnh đi học bắt buộc.[20] Đáp lại, Holt đã được các gia đình từ khắp nước Mỹ liên hệ để nói với anh rằng họ đang giáo dục con cái tại nhà. Năm 1977, sau khi tương tác với một số gia đình này, Holt bắt đầu xuất bản Lớn lên mà không đến trường, một bản tin dành riêng cho giáo dục gia đình.[21] Holt was nicknamed the "father of homeschooling."[9] Holt later wrote a book about homeschooling, Teach Your Own, in 1981.

Năm 1980, Holt nói rằng,

"Tôi muốn nói rõ rằng tôi không coi giáo dục tại nhà là một câu trả lời cho sự tồi tệ của trường học. Tôi nghĩ rằng ngôi nhà là cơ sở thích hợp để khám phá thế giới mà chúng ta gọi là học tập hay giáo dục. Ngôi nhà sẽ là cơ sở tốt nhất cho dù trường học có tốt đến đâu."[22]

Một chủ đề phổ biến trong triết lý giáo dục tại nhà của cả Holt và của Moores là giáo dục tại nhà không nên cố gắng đưa trường học trở thành công trình gia đình, hoặc xem giáo dục như một học thuật sơ khai cho cuộc sống. Họ xem giáo dục tại nhà như một khía cạnh tự nhiên, mang tính trải nghiệm của cuộc sống xảy ra khi các thành viên trong gia đình tham gia với nhau trong cuộc sống hàng ngày.[23][24]

Giáo dục tại nhà có thể được sử dụng như một hình thức giáo dục bổ sung và như một cách giúp trẻ em học tập trong những hoàn cảnh cụ thể. Thuật ngữ này cũng có thể đề cập đến việc giảng dạy trong nhà dưới sự giám sát của các trường tương ứng hoặc trường ô (umbrella school), là một trường giáo dục thay thế phục vụ giám sát việc học tại nhà của trẻ em để đáp ứng các yêu cầu giáo dục của chính phủ. Một số khu vực pháp lý yêu cầu tuân thủ chương trình giảng dạy đã được phê duyệt.[25]

Một triết lý dạy học tại nhà không có giáo trình đôi khi được gọi là "unschooling" (không theo học chương trình ở bất kỳ trường học nào, tự do lựa chọn những gì muốn học), một thuật ngữ được đặt ra vào năm 1977 bởi nhà giáo dục và tác giả người Mỹ John Holt trong tạp chí của ông, Growing Without Schooling. Thuật ngữ này nhấn mạnh môi trường học tập tự phát hơn, ít cấu trúc hơn, trong đó sở thích của trẻ thúc đẩy việc theo đuổi kiến thức của trẻ.[26] 4

Một số phụ huynh theo đuổi chương trình giáo dục nghệ thuật khai phóng sử dụng Tam khoa (Trivium) gồm Ngữ pháp, Luận lý, Hùng biện và Tứ khoa (Quadrivium) gồm Số học, Hình học, Âm nhạc, Thiên văn học làm mô hình chính.[27][28]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Punch, ngày 18 tháng 4 năm 1889, tr. 121
  2. ^ “Elective home education—Guidelines for local authorities” (PDF). gov.uk. Section 1.2. tr. 3. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 22 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2018. 
  3. ^ "Homeschool." Dictionary.com. Dictionary.com, 2015. Web. 3 June 2015. Dictionary.reference.com Lưu trữ 2016-03-02 tại Wayback Machine
  4. ^ “Informal learning, home education and homeschooling (home schooling)”. YMCA George Williams College. 8 tháng 5 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2014. 
  5. ^ Rothermel, Paula. International perspectives on home education : do we still need schools?. ISBN 978-1137446848. 
  6. ^ Bhopal & Myers, Kalwant, Martin (2 tháng 5 năm 2018). Home schooling and home education : race, class and inequality. ISBN 978-1138651340. 
  7. ^ “Educating your child at home”. gov.uk (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2020. 
  8. ^ Miller, Tyler (15 tháng 10 năm 2014). “How Is Unschooling Different From Homeschooling?”. www.noodle.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2020. 
  9. ^ a ă â A. Distefano, K. E. Rudestam, R. J. Silverman (2005) Encyclopedia of Distributed Learning Lưu trữ 2016-01-01 tại Wayback Machine (p221) ISBN 0-7619-2451-5
  10. ^ “Education: Free and Compulsory”. Mises Institute. 18 tháng 8 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  11. ^ Houston, Robert (28 tháng 11 năm 2011). “Literacy”. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  12. ^ “History of Alternative Education in the United States”. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  13. ^ Encyclopædia Britannica 11 ed. Vol. 8 (Demijohn to Edward the Black Prince). 1911. tr. 959. 
  14. ^ “How they were schooled”. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2016. 
  15. ^ “Removing Classrooms from the Battle | SUTHERLAND INSTITUTE” (PDF). SUTHERLAND INSTITUTE (bằng tiếng en-US). 29 tháng 7 năm 2008. tr. 377,386 Note 30. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2017. 
  16. ^ Edgar, William (tháng 1 năm 2007). “The Passing of R. J. Rushdoony”. First Things. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  17. ^ a ă â b Better Late Than Early, Raymond S. Moore, Dorothy N. Moore, 1975
  18. ^ Amall, Judy (2018). Unschooling To University: Relationships Matter Most in a World Crammed With Content (ấn bản 1). Professional Parenting, Calgary, Alberta, Canada. tr. 24. ISBN 9780978050993. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2020. 
  19. ^ “Raymond & Dorothy Moore: Homeschool Pioneers”. CCHE (bằng tiếng en-CA). 18 tháng 9 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2019. 
  20. ^ Christine Field. The Old Schoolhouse Meets Up with Patrick Farenga About the Legacy of John Holt Lưu trữ tháng 8 16, 2011 tại Wayback Machine
  21. ^ “HSC - A Brief History of Homeschooling”. 15 tháng 12 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  22. ^ “A Conversation with John Holt - The Natural Child Project”. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2016. 
  23. ^ “A Conversation with John Holt - The Natural Child Project”. www.naturalchild.org. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2017. 
  24. ^ “Moore Home Schooling : Moore Formula”. www.moorefoundation.com (bằng tiếng en-US). Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2017. 
  25. ^ HSLDA. “Homeschooling in New York: A legal analysis” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2013.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  26. ^ “Unschooling and Homeschooling FAQ | Alternative Schooling | Self Directed Learning”. John Holt GWS. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2015. 
  27. ^ “Build a Well-Rounded Liberal Arts Home School Curriculum”. www.brighthubeducation.com (bằng tiếng Anh). 29 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2020. 
  28. ^ chscurriculum (26 tháng 4 năm 2019). “What Do We mean By Liberal Arts?”. Classical Homeschool Curriculum (bằng tiếng en-US). Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2020. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Holt, John (2004) [1976]. Instead of Education: Ways to Help People Do Things Better. Boulder, CO: Sentient Publications. ISBN 1-59181-009-4. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]