Giãn cách xã hội

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Mọi người giữ khoảng cách trong khi chờ vào cửa hàng. Để người mua có thể giữ khoảng cách ngay cả bên trong cửa hàng, chỉ có một số người nhất định trong cửa hàng cùng một lúc.
Ngăn chặn đỉnh cao của sự nhiễm trùng, được gọi là làm giảm sự gia tăng của dịch bệnh (hay làm "san phẳng đường cong đại dịch"), để giữ cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe không bị quá tải, và cũng cung cấp thêm thời gian để phát triển vắc-xin/điều trị. Sự lan truyền các bệnh nhiễm trùng trong một khung thời gian dài hơn cho phép các dịch vụ chăm sóc sức khỏe quản lý tốt hơn khối lượng bệnh nhân.[1][2]
Các lựa chọn thay thế để làm giảm sự tăng trưởng của dịch bệnh[3][4]

Giãn cách xã hội hay cách ly vật lý là một tập hợp các hành động kiểm soát nhiễm trùng phi dược phẩm nhằm ngăn chặn hoặc làm chậm sự lây lan của một bệnh truyền nhiễm. Mục tiêu của sự giãn cách xã hội là giảm khả năng tiếp xúc giữa những người bị nhiễm trùng và những người khác không bị nhiễm bệnh.[5][6] Nó bao gồm việc giữ khoảng cách ít nhất hai mét giữa người với người và tránh tụ tập đông người thành những nhóm lớn.[7][8] Cách ly thời gian là một hình thức của giãn cách xã hội khi mọi người bị phân cách bởi các khoảng thời gian khác nhau để tránh tiếp xúc.

Giãn cách xã hội có thể là hiệu quả nhất khi nhiễm trùng có thể do qua tiếp xúc với giọt nước (ho hoặc hắt hơi); tiếp xúc trực tiếp về thể chất, bao gồm cả quan hệ tình dục; tiếp xúc vật lý gián tiếp (ví dụ bằng cách chạm vào bề mặt bị ô nhiễm như fomite); hoặc truyền qua không khí (nếu vi sinh vật có thể tồn tại trong không khí trong thời gian nào đó).[9] Giãn cách xã hội có thể kém hiệu quả hơn trong trường hợp nhiễm trùng lây truyền chủ yếu qua nước hoặc thực phẩm bị ô nhiễm hoặc bởi các vectơ như muỗi hoặc côn trùng khác và ít gặp hơn từ người sang người.[10]

Để làm chậm sự lây lan của bệnh truyền nhiễm và tránh làm quá tải hệ thống y tế đặc biệt vào lúc đại dịch, các phương pháp giãn cách xã hội gồm việc đóng cửa trường học và nơi làm việc, cách ly, phong tỏa, hạn chế di chuyển và cấm tụ tập đông người đã bị áp dụng.[5][11] Các phương pháp này đã thành công trong việc đẩy lùi các dịch bệnh trước đây. Ở St. Louis, sau khi ca dịch cúm đầu tiên được phát hiện trong thành phố vào lúc Đại dịch cúm 1918, chính quyền sở tại đã đóng cửa trường học, cấm tụ tập đông người với các biện pháp cách ly khác. Tỷ lệ tử vong ở St. Louis lúc đó ít hơn là ở Philadelphia khi ở đó vẫn cho phép tụ tập và không giới thiệu giãn cách xã hội là gì cho tới hai tuần sau của ca dịch bệnh đầu tiên.[12]

Một trong những tài liệu tham khảo sớm nhất về những ngày giãn cách xã hội được nhắc đến trong Sách Kinh thánh Leviticus, 13:46: "Và người bị phong cùi mà bệnh dịch là... anh ta sẽ ở một mình; [bên ngoài] trại sẽ là nơi ở của anh ta."[13]

Trong lịch sử, các thuộc địa cùi và lazarettos được thành lập như là biện pháp ngăn ngừa sự lây lan của bệnh phong và các bệnh truyền nhiễm khác thông qua sự giãn cách xã hội[14] cho đến khi cơ chế truyền bệnh được tìm hiểu rõ ràng và phương pháp điều trị hiệu quả được phát minh.

Khái niệm[sửa | sửa mã nguồn]

giãn cách xã hội làm giảm lây truyền dịch bệnh và có thể ngăn chặn cả dịch bệnh.
Một poster (bằng tiếng Ả Rập, tiếng Anh và tiếng Urdu) khuyến khích giãn cách xã hội trong lúc đại dịch COVID-19

Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (CDC) đã miêu tả giãn cách xã hội là "những phương pháp nhằm giảm thiểu tần suất và sự gần gũi giữa những người với nhau để ngăn chặn nguy cơ lan truyền dịch bệnh".[11] Vào lúc đại dịch virus corona 2019–2020, CDC đã đặt khái niệm giãn cách xã hội là "tự rời khỏi những nơi nhiều người, tránh tụ tập đông người, và giữ khoảng cách (khoảng 6 feet hoặc 2 mét) với người khác khi có thể."[7][8] Không có nguồn nào cho thấy 2 mét là chính xác. Một số nghiên cứu cho thấy chỉ cần một giọt nước mũi hoặc sự hô hấp mạnh trong lúc vận động có thể đi tới bán kính tận 6 mét.[15][16][17] Người khác cho rằng khoảng cách 2 mét này được dựa trên một nghiên cứu thất bại ở những năm 1930 và 1940[18] hoặc bị lỗi đơn vị trong lúc đo lường. Các nhà nghiên cứu và các nhà khoa học đã yêu cầu khoảng cách giãn cách phải rộng hơn[16][19][20] và/hoặc đồng thời phải đeo khẩu trang.[16][21]

Trước đây, vào năm 2009, WHO miêu tả giãn cách xã hội là "giữ khoảng cách một cánh tay với người khác, [và] giảm thiểu tụ tập".[22] Nó bao gồm việc vệ sinh đường hô hấp tốt và rửa tay, và được xem xét là cách khả thi nhất để làm chậm dịch bệnh.[22]

Biện pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Đại dịch khiến con người thay đổi hành vi bằng cách cách xa những nơi đông người. Khi cách này được áp dụng trong đại dịch, giống như giãn cách xã hội tạo ra được lợi ích nhưng cũng gây thiệt hại về kinh tế. Nghiên cứu chỉ ra rằng các biện pháp phải được áp dụng nghiêm ngặt và ngay lập tức để có hiệu quả.[23] Vài biện pháp giãn cách xã hội được áp dụng nhằm ngăn chặn sự lây lan của bệnh truyền nhiễm.[7][24]

Tránh tiếp xúc vật lý[sửa | sửa mã nguồn]

Giãn cách xã hội loại bỏ tiếp xúc vật lý như việc bắt tay, ôm, hoặc hongi; hình minh họa này đưa ra tám biện pháp thay thế.

Giữ khoảng cách tối thiểu hai mét (sáu foot) (ở Mỹ hoặc Anh) hoặc 1,5 mét (ở Úc) hoặc 1 mét (ở Pháp và Ý) khỏi người khác và tránh ôm nhau, đồng thời dùng những cử chỉ để hạn chế tiếp xúc trực tiếp, giảm thiểu rủi ro lây nhiễm ở đại dịch cúm và đại dịch virus corona 2020.[7][25] Thực hiện giãn cách theo những khoảng cách này, đồng thời vệ sinh cá nhân mọi lúc, kể cả ở nơi làm việc.[26] Khi nơi làm việc đủ điều kiện thì sẽ chuyển sang làm việc tại nhà.

Nhiều biện pháp thay thế đã được đưa ra nhằm thay thế bắt tay truyền thống. Như việc dùng cử chỉ namaste, bằng cách đặt hai lòng bàn tay vào nhau, các ngón tay hướng lên, để ngay giữa lòng ngực, là một biện pháp thay thế mà không cần tiếp xúc vật lý. Trong lúc đại dịch COVID-19 tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, cử chỉ này được dùng bởi Hoàng tử Charles để chào đón những khách mời, và nó cũng được khuyến cáo sử dụng bởi Tổng Giám đốc của WHO, Tedros Adhanom Ghebreyesus, và Thủ tướng Israel là Benjamin Netanyahu.[27] Những biện pháp thay thế khác bao gồm việc vẫy tay, cử chỉ Shaka, và việc đặt lòng bàn tay vào lòng ngực, hầu hết được dùng ở Iran.[27]

Đóng cửa trường học[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi ca cúm lợn mỗi tuần ở Anh Quốc vào năm 2009; trường học đã đóng cửa vào kỳ nghỉ hè từ giữa tháng bảy và mở cửa trở lại vào đầu tháng chín.[28]

Mô hình toán học cho rằng sự lây nhiễm của dịch bệnh có thể kéo dài thời gian đóng cửa trường học. Tuy nhiên, hiệu quả hay không phụ thuộc vào sự tiếp xúc của trẻ em bên ngoài trường học. Thường, cả gia đình cùng nghỉ, và có thể kéo dài. Những yếu tố này có thể dẫn đến sự gián đoạn kinh tế và xã hội.[29][30]

Đóng cửa nơi làm việc[sửa | sửa mã nguồn]

Nghiên cứu mô hình hóa và mô phỏng dựa trên dữ liệu của Hoa Kì cho thấy nếu 10% nơi làm việc bị ảnh hưởng đóng cửa, mức độ truyền nhiễm tổng quát khoảng 11.9% và thời gian cao điểm dịch bệnh sẽ bị chậm trễ. Ngược lại, nếu 33% cơ sở làm việc đóng cửa, mức độ truyền nhiễm giảm xuống còn 4.9%, và thời điểm đỉnh dịch sẽ chậm trễ một tuần.[31][32] Đóng cửa nơi làm việc bao gồm cả đóng cửa những dịch vụ và kinh doanh "không thiết yếu" ("không thiết yếu" ở đây có nghĩa là những cơ sở không chức năng trọng điểm trong cộng đồng, là ngược lại của dịch vụ thiết yếu, cũng như nhu yếu phẩm).[33]

Bãi bỏ sự kiện tụ tập đông người[sửa | sửa mã nguồn]

Việc bãi bỏ sự kiện tụ tập đông người bao gồm các sự kiện thể thao, điện ảnh và các show ca nhạc.[34] Nhiều bằng chứng cho thấy rằng các cuộc tụ họp đông người làm tăng khả năng truyền bệnh truyền nhiễm là không thuyết phục.[35] Một số loại tụ tập đông người nhất định có thể liên quan đến việc tăng nguy cơ lây nhiễm, và cũng có thể "gieo rắc" các chủng mới vào một khu vực, thúc đẩy sự lây truyền bệnh của cộng đồng trong một đại dịch. Trong đại dịch cúm năm 1918, cuộc diễu hành quân sự ở Philadelphia[36] và Boston[37] có thể phải chịu trách nhiệm cho việc lây truyền dịch bệnh bằng cách cho các thủy thủ đoàn bị nhiễm trong đám đông. Hạn chế hoặc hủy bỏ sự kiện đông người, kết hợp với giãn cách xã hội, có thể giúp giảm nguy cơ lây nhiễm.[38]

Hạn chế đi lại[sửa | sửa mã nguồn]

Hạn chế đi lại qua đường biên giới hoặc hạn chế đi lại trong nước cũng có thể làm chậm thời điểm có ca nhiễm mới.[39] Sàng lọc tại sân bay được cho rằng là không hiệu quả trong việc ngăn chặn sự lây truyền virus trong đợt bùng phát SARS năm 2003 ở Canada[40] và Mỹ.[41] Việc kiểm soát biên giới nghiêm ngặt giữa ÁoĐế quốc Ottoman, được áp dụng từ năm 1770 cho đến năm 1871 để nhằm ngăn chặn người có bệnh dịch hạch thể hạch vào nước Áo, nó được báo cáo lại là rất hiệu quả, khi không có ca bùng phát lớn nào trong lãnh thổ nước Áo sau khi lệnh này được đặt ra, khi mà Đế quốc Ottoman phải tiếp tục chịu đựng dịch bệnh cho đến giữa thế kỉ 19.[42][43]

Nghiên cứu của Trường đại học Northeastern được diễn ra vào tháng 3 năm 2020 cho rằng "hạn chế di chuyển đến và từ Trung Quốc chỉ làm chậm sự lây lan COVID-19 [khi] được kết hợp với những biện pháp nhằm ngăn chặn lây lan trong cộng đồng hoặc giữa các cá nhân cụ thể. [...] Hạn chế đi lại là chưa đủ mà chúng ta phải kết hợp nó với giãn cách xã hội."[44] Nghiên cứu cho thấy việc cấm sự di chuyển đến từ Vũ Hán làm chậm sự lây lan của dịch bệnh đến những vùng khác của Trung Quốc khoảng 3 hoặc 5 ngày, mặc dù nó cũng giúp làm giảm số ca nhiễm quốc tế xuống 80 phần trăm. Lý do duy nhất khiến việc hạn chế đi lại kém hiệu quả là việc nhiều người nhiễm COVID-19 không có triệu chứng trong giai đoạn đầu.[45]

Lá chắn (Tự vệ)[sửa | sửa mã nguồn]

Biện pháp lá chắn (hay biện pháp tự vệ) bao gồm hạn chế tiếp xúc trực tiếp, thực hiện công việc kinh doanh bằng điện thoại hoặc qua mạng, tránh nơi đông người và hạn chế du lịch.[46][47][48]

Phong tỏa[sửa | sửa mã nguồn]

Vào lúc đợt bùng phát SARS năm 2003 ở Singapore, khoảng 8000 người đã được yêu cầu bắt buộc ở nhà và khoảng 4300 người phải được giám sát y tế qua màn hình và gọi điện để báo cáo tình hình sức khỏe cho các cơ quan y tế, được coi như là biện pháp để điều khiển dịch bệnh. Mặc dù chỉ có 58 cá nhân trong số này được chẩn đoán dương tính với SARS, các quan chức y tế công cộng hài lòng rằng biện pháp này đã hỗ trợ ngăn ngừa sự lây lan của dịch bệnh.[49] Tự nguyện cách ly cũng giúp ngăn chặn sự lây lan dịch cúm ở Texas vào năm 2009.[50]

Hạn chế[sửa | sửa mã nguồn]

Những hạn chế của sự giãn cách xã hội có thể bao gồm sự cô đơn, giảm năng suất và mất các lợi ích khác liên quan đến sự tương tác của con người.[51] Ở các quốc gia đang phát triển thì công nghệ theo dõi từ xathiết bị bảo hộ cá nhân không được sử dụng rộng rãi, cộng đồng thường khó theo dõi sức khỏe của các thành viên.

Cơ sở lý thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Từ sự quan sát của dịch bệnh học, mục tiêu cơ sở đằng sau của giãn cách xã hội là làm giảm hệ số lây nhiễm cơ bản, , là một số trung bình của cá nhân lây nhiễm thứ hai được tạo ra từ cá nhân nhiễm thứ nhất trong dân số được nghi là bị nhiễm bằng nhau. Trong cơ sở của giãn cách xã hội,[52] khi mà phần của dân số thực hiện giãn cách xã hội để làm giảm khả năng tiếp xúc tới một phân số của tiếp xúc thường ngày, hệ số lây nhiễm hiệu quả được tính bằng:[52]

Ví dụ, 25% của dân số giảm sự tiếp xúc của họ xuống 50% của tiếp xúc thường ngày cho hệ số lây nhiễm hiệu quả là 81% của hệ số lây nhiễm cơ bản. Một phần nhỏ hơn đã bị giảm nhằm ngăn chặn sự lây lan dịch bệnh.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Wiles, Siouxsie (ngày 9 tháng 3 năm 2020). “The three phases of Covid-19 – and how we can make it manageable”. The Spinoff. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2020.
  2. ^ Anderson, Roy M; Heesterbeek, Hans; Klinkenberg, Don; Hollingsworth, T Déirdre (tháng 3 năm 2020). “How will country-based mitigation measures influence the course of the COVID-19 epidemic?”. The Lancet. doi:10.1016/S0140-6736(20)30567-5. A key issue for epidemiologists is helping policy makers decide the main objectives of mitigation—e.g., minimising morbidity and associated mortality, avoiding an epidemic peak that overwhelms health-care services, keeping the effects on the economy within manageable levels, and flattening the epidemic curve to wait for vaccine development and manufacture on scale and antiviral drug therapies.
  3. ^ Wiles, Siouxsie (ngày 14 tháng 3 năm 2020). “After 'Flatten the Curve', we must now 'Stop the Spread'. Here's what that means”. The Spinoff. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2020.
  4. ^ Anderson RM, Heesterbeek H, Klinkenberg D, Hollingsworth TD (tháng 3 năm 2020). “How will country-based mitigation measures influence the course of the COVID-19 epidemic?”. Lancet. doi:10.1016/S0140-6736(20)30567-5.
  5. ^ a b Johnson, Carolyn Y.; Sun, Lena; Freedman, Andrew (10 tháng 3 năm 2020). “Social distancing could buy U.S. valuable time against coronavirus”. Washington Post. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2020.
  6. ^ Pandemic Planning - Social Distancing Fact Sheet
  7. ^ a b c d Pearce, Katie (ngày 13 tháng 3 năm 2020). “What is social distancing and how can it slow the spread of COVID-19?”. The Hub (bằng tiếng Anh). Johns Hopkins University. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2020.
  8. ^ a b “Risk Assessment and Management” (bằng tiếng Anh). Centers for Disease Control and Prevention. ngày 22 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2020.
  9. ^ "Information about Social Distancing," Santa Clara Public Health Department.
  10. ^ "Interim Pre-Pandemic Planning Guidance: Community Strategy for Pandemic Influenza Mitigation in the United States—Early, Targeted, Layered Use of Nonpharmaceutical Interventions," CDC, Feb 2007
  11. ^ a b Kinlaw, Kathy; Levine, Robert J. (ngày 15 tháng 2 năm 2007). “Ethical guidelines in Pandemic Influenza – Recommendations of the Ethics Subcommittee of the Advisory Committee to the Director, Centers for Disease Control and Prevention” (PDF). Centers for Disease Control and Prevention. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2020. (12 trang)
  12. ^ Ryan, Jeffrey R. (ngày 1 tháng 8 năm 2008). “Chapter 6.3.3. Response and Containment: Lessons from the 1918 Pandemic Can Help Communities Today”. Pandemic Influenza: Emergency Planning and Community Preparedness (bằng tiếng Anh). CRC Press. tr. 123–133 [133]. ISBN 978-1-4200-6088-1. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2020.
  13. ^ Bible Gateway, Authorized King James Version, Leviticus 13:46
  14. ^ Charles Léon Souvay, "Leprosy," Catholic Encyclopedia (1913), Volume 9.
  15. ^ Xie, X.; Li, Y.; Chwang, A. T.; Ho, P. L.; Seto, W. H. (tháng 6 năm 2007). “How far droplets can move in indoor environments – revisiting the Wells evaporation–falling curve”. Indoor Air. 17 211-225 (3). tr. 211–25. doi:10.1111/j.1600-0668.2007.00469.x. PMID 17542834. Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  16. ^ a b c Setti, L.; Passarini, F.; De Gennaro, G. (ngày 23 tháng 4 năm 2020). “Airborne Transmission Route of COVID-19: Why 2 Meters/6 Feet of Inter-Personal Distance Could Not Be Enough”. Int. J. Environ. Res. Public Health. 17(8) 2932 (8): 2932. doi:10.3390/ijerph17082932. PMID 32340347.
  17. ^ Thoelen, J. (ngày 8 tháng 4 năm 2020). “Belgian-Dutch Study: Why in times of COVID-19 you should not walk/run/bike close behind each other”. Medium. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2020.
  18. ^ Letzter, R. (ngày 31 tháng 3 năm 2020). “Is 6 feet enough space for social distancing? Not everyone thinks that's enough distance”. Live Science. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2020.
  19. ^ Reynolds, G. (ngày 15 tháng 4 năm 2020). “For Runners, Is 15 Feet the New 6 Feet for Social Distancing? When we walk briskly or run, air moves differently around us, increasing the space required to maintain a proper social distance”. New York Times. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2020. Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  20. ^ Sheikh, K.; Gorman, J.; Chang, K. (ngày 14 tháng 4 năm 2020). “Stay 6 Feet Apart, We're Told. But How Far Can Air Carry Coronavirus? Most of the big droplets travel a mere six feet. The role of tiny aerosols is the "trillion-dollar question.". New York Times. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2020.
  21. ^ Huang, S. (ngày 26 tháng 3 năm 2020). “Why we should all wear masks – There is new scientific rationale”. Medium. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2020.
  22. ^ a b “Pandemic influenza prevention and mitigation in low resource communities” (PDF). World Health Organization. ngày 2 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2020.
  23. ^ Maharaj, Savi; Kleczkowski, Adam (2012). “Controlling epidemic spread by social distancing: Do it well or not at all”. BMC Public Health. 12 (1): 679. doi:10.1186/1471-2458-12-679. PMC 3563464. PMID 22905965.
  24. ^ Kinlaw, Kathy; Levine, Robert J. (ngày 15 tháng 2 năm 2007). “Ethical guidelines in Pandemic Influenza—Recommendations of the Ethics Subcommittee of the Advisory Committee to the Director, Centers for Disease Control and Prevention” (PDF). Centers for Disease Control and Prevention. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2020. (12 pages)
  25. ^ “Guidance on Preparing Workplaces for an Influenza Pandemic”. Occupational Safety and Health Act of 1970. United States Department of Labor. OSHA 3327-02N 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2020. [1]
  26. ^ “Social Distancing”. safety-security.uchicago.edu. Department of Safety & Security, The University of Chicago. 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2020.
  27. ^ a b Barajas, Julia; Etehad, Melissa (ngày 13 tháng 3 năm 2020). “Joined palms, hands on hearts, Vulcan salutes: Saying hello in a no-handshake era”. Los Angeles Times (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2020.
  28. ^ “2009 Press Releases”. Health Protection Agency. ngày 24 tháng 12 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2009.
  29. ^ Zumla, Alimuddin; Yew, Wing-Wai; Hui, David S. C. (ngày 31 tháng 8 năm 2010). Emerging Respiratory Infections in the 21st Century, An Issue of Infectious Disease Clinics (bằng tiếng Anh). 24. Elsevier Health Sciences. tr. 614. ISBN 978-1-4557-0038-7. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2020.
  30. ^ Cauchemez, Simon; Ferguson, Neil Morris; Wachtel, Claude; Tegnell, Anders; Saour, Guillaume; Duncan, Ben; Nicoll, Angus (tháng 8 năm 2009). “Closure of schools during an influenza pandemic”. The Lancet Infectious Diseases. 9 (8): 473–481. doi:10.1016/S1473-3099(09)70176-8. ISSN 1473-3099. PMC 7106429. PMID 19628172. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2020.
  31. ^ Rousculp, Matthew D.; Johnston, Stephen S.; Palmer, Liisa A.; Chu, Bong-Chul; Mahadevia, Parthiv J.; Nichol, Kristin L. (tháng 10 năm 2010). “Attending Work While Sick: Implication of Flexible Sick Leave Policies”. Journal of Occupational and Environmental Medicine. 52 (10): 1009–1013. doi:10.1097/jom.0b013e3181f43844. PMID 20881626.
  32. ^ Kumar, Supriya; Crouse Quinn, Sandra; Kim, Kevin H.; Daniel, Laura H.; Freimuth, Vicki S. (tháng 1 năm 2012). “The Impact of Workplace Policies and Other Social Factors on Self-Reported Influenza-Like Illness Incidence During the 2009 H1N1 Pandemic”. American Journal of Public Health. 102 (1): 134–140. doi:10.2105/AJPH.2011.300307. PMC 3490553. PMID 22095353.
  33. ^ “Social Distancing Support Guidelines For Pandemic Readiness” (PDF). Colorado Department of Public Health and Environment. tháng 3 năm 2008. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 13 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2017.
  34. ^ Booy, Robert; Ward, James (2015). “Evidence compendium and advice on social distancing and other related measures for response to an influenza pandemic” (PDF). Paediatric Respiratory Reviews. National Centre for Immunisation Research and Surveillance. 16 (2): 119–126. doi:10.1016/j.prrv.2014.01.003. PMID 24630149. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2015. (13 pages)
  35. ^ Inglesby, Thomas V.; Nuzzo, Jennifer B.; O'Toole, Tara; Henderson, Donald Ainslie (2006). “Disease Mitigation Measures in the Control of Pandemic Influenza”. Biosecurity and Bioterrorism: Biodefense Strategy, Practice, and Science. 4 (4): 366–375. CiteSeerX 10.1.1.556.2672. doi:10.1089/bsp.2006.4.366. PMID 17238820.
  36. ^ Davis, Kenneth C. (ngày 21 tháng 9 năm 2018). “Philadelphia Threw a WWI Parade That Gave Thousands of Onlookers the Flu”. Smithsonian Magazine. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2020.
  37. ^ “The Flu in Boston”. American Experience. WGBH Educational Foundation. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2020.
  38. ^ Ishola, David A.; Phin, Nick (tháng 12 năm 2011). “Could Influenza Transmission Be Reduced by Restricting Mass Gatherings? Towards an Evidence-Based Policy Framework”. Journal of Epidemiology and Global Health. 1 (1): 33–60. doi:10.1016/j.jegh.2011.06.004. PMC 7104184. PMID 23856374.
  39. ^ Ferguson, Neil Morris; Cummings, Derek A. T.; Fraser, Christophe; Cajka, James C.; Cooley, Philip C.; Burke, Donald S. (2006). “Strategies for mitigating an influenza pandemic”. Nature. 442 (7101): 448–452. Bibcode:2006Natur.442..448F. doi:10.1038/nature04795. PMC 7095311. PMID 16642006.
  40. ^ Bell, David M. (2004). “Public health interventions and SARS spread, 2003”. Emerging Infectious Diseases. 10 (11): 1900–1906. doi:10.3201/eid1011.040729. PMC 3329045. PMID 15550198. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2009.
  41. ^ Cetron, Martin (2004). “Isolation and Quarantine: Containment Strategies for SARS, 2003”. Learning from SARS: Preparing for the Next Disease Outbreak. National Academy of Sciences. ISBN 0-30959433-2.
  42. ^ Kohn, George Childs biên tập (2008) [2001, 1998]. Encyclopedia of Plague and Pestilence: From Ancient Times to the Present. Facts On File—Library Of World History (ấn bản 3). New York: Infobase Publishing. tr. 30. ISBN 978-1-43812923-5. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2020.
  43. ^ Byrne, Joseph P. biên tập (2008). Encyclopedia of Pestilence, Pandemics, and Plague (PDF). 1&2. Westport, Connecticut / London: Greenwood Publishing Group, Inc. / Greenwood Press. LCCN 2008019487. 978–0–313–34102–1 (vol 1), 978–0–313–34103–8 (vol 2). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2020.
  44. ^ Arntsen, Emily (ngày 6 tháng 3 năm 2020). “Closing borders can delay, but can't stop the spread of COVID-19, new report says”. News@Northeastern. Northeastern University. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2020.
  45. ^ Chinazzi, Matteo; Davis, Jessica T.; Ajelli, Marco; Gioannini, Corrado; Litvinova, Maria; Merler, Stefano; Pastore y Piontti, Ana; Mu, Kunpeng; Rossi, Luca; Sun, Kaiyuan; Viboud, Cécile; Xiong, Xinyue; Yu, Hongjie; Halloran, M. Elizabeth; Longini, Jr., Ira M.; Vespignani, Alessandro (ngày 6 tháng 3 năm 2020). “The effect of travel restrictions on the spread of the 2019 novel coronavirus (COVID-19) outbreak”. Science. 368 (6489): 395–400. doi:10.1126/science.aba9757. PMC 7164386. PMID 32144116.
  46. ^ Glass, Robert J.; Glass, Laura M.; Beyeler, Walter E.; Min, H. Jason (tháng 11 năm 2006). “Targeted Social Distancing Designs for Pandemic Influenza”. Emerging Infectious Diseases. Centers for Disease Control and Prevention. 12 (11): 1671–1681. doi:10.3201/eid1211.060255. PMC 3372334. PMID 17283616. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2020.
  47. ^ “Social Distancing Guidelines (for workplace communicable disease outbreaks)”. Society for Human Resource Management. 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2017.
  48. ^ “What's the difference between shielding, self-isolation and social distancing?”. www.bhf.org.uk (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2020.
  49. ^ Tan, Chorh-Chuan (tháng 5 năm 2006). “SARS in Singapore—Key Lessons from an Epidemic” (PDF). Annals Academy of Medicine. 35 (5): 345–349. PMID 16830002. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2017.
  50. ^ Teh, Benjamin; Olsen, Karen; Black, Jim; Cheng, Allen C.; Aboltins, Craig; Bull, Kirstin; Johnson, Paul D. R.; Grayson, M. Lindsay; Torresi, Joseph (2012) [2011-11-22, 2011-09-26, ngày 29 tháng 6 năm 2011]. “Impact of swine influenza and quarantine measures on patients and households during the H1N1/09 pandemic”. Scandinavian Journal of Infectious Diseases. 44 (4): 289–296. doi:10.3109/00365548.2011.631572. PMID 22106922.
  51. ^ Brooks, Samantha K.; Webster, Rebecca K.; Smith, Louise E.; Woodland, Lisa; Wessely, Simon; Greenberg, Neil; Rubin, Gideon James (ngày 26 tháng 2 năm 2020). “The psychological impact of quarantine and how to reduce it: rapid review of the evidence”. The Lancet (bằng tiếng Anh). 0 (0). doi:10.1016/S0140-6736(20)30460-8. ISSN 0140-6736. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  52. ^ a b Becker, Niels (2015). Modeling to Inform Infectious Disease Control. CRC Press. tr. 104. ISBN 978-1-49873107-2.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]