Bước tới nội dung

Giải đua xe Công thức 1 2026

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Lando Norris là đuơng kim vô địch Tay đua thế giới trong khi McLaren-Mercedes là đuơng kim vô địch Đội đua thế giới liên tiếp.

Giải đua xe Công thức 1 2026 là một giải vô địch đua xe mô tô được lên kế hoạch với tư cách là mùa giải Công thức 1 thứ 77 vào năm 2026. Giải đua được Liên đoàn Ô tô Quốc tế (FIA), cơ quan quản lý môn đua xe thể thao quốc tế, công nhận là giải đấu cao nhất dành cho xe đua bánh hở. Giải đua xe Công thức 1 2026 sẽ diễn ra trong vòng 24 chặng đua được tổ chức trên khắp thế giới, bắt đầu vào tháng 3 và kết thúc vào tháng 12. Các tay đua và đội đua sẽ tranh tài cho các danh hiệu Tay đua Vô địch thế giớiĐội đua Vô địch thế giới. Lando Norris là đuơng kim vô địch Tay đua thế giới trong khi McLaren-Mercedes là đuơng kim vô địch Đội đua thế giới liên tiếp.

Mùa giải 2026 sẽ có một loạt thay đổi lớn về quy định với cấu hình bộ nguồn được sửa đổi và khí động học chủ động mới. Audi dự kiến sẽ tham gia Công thức 1 với tư cách là một đội đua với bộ nguồn và động cơ riêng sau khi đã mua lại Sauber vào năm 2024 trong khi Cadillac dự kiến sẽ ra mắt Công thức 1 với bộ nguồn Ferrari. Đây sẽ là lần đầu tiên một đội đua thứ mười một tham gia kể từ năm 2016. Honda, thông qua công ty con Honda Racing Corporation, sẽ ký kết một thỏa thuận độc quyền với Đội đua Aston Martin và sẽ cung cấp cho đội bộ nguồn riêng sau khi chấm dứt mối quan hệ hiện tại với Red Bull Racing. Ford sẽ trở lại Công thức 1 lần đầu tiên kể từ năm 2004 để hỗ trợ Red Bull Powertrains cung cấp bộ nguồn và động cơ cho Red Bull Racing và Đội đua Racing Bulls. Renault sẽ không còn là nhà cung cấp động cơ nữa vì Đội đua Alpine sẽ chuyển sang bộ nguồn và động cơ Mercedes.

Danh sách các đội đua và tay đua

[sửa | sửa mã nguồn]

Các đội đua và tay đua sau đây sẽ tham gia và thi đấu tại Giải đua xe Công thức 1 2026.[1] Tất cả các đội đua sẽ thi đấu với lốp xe của Pirelli. Mỗi đội phải có ít nhất hai tay đua và mỗi chiếc xe phải có một tay đua chính trong số hai chiếc xe bắt buộc.[2] Các đội đua sau đây được sắp xếp theo thứ tự của bảng xếp hạng đội đua năm 2025 trong danh sách này.

Danh sách đội đua và tay đua tham gia Giải đua xe Công thức 1 2026
Đội đua Xe đua Động cơ Hãng lốp Số xe Tay đua Số chặng đua
đã tham gia
Tay đua dự bị/
lái thử
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland McLaren Mastercard Formula 1 Team[3] McLaren MCL40A[4] Mercedes-AMG F1 M17[5] P 1[a] Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Lando Norris[6] Ý Leonardo Fornaroli[7]
81 Úc Oscar Piastri[8]
Đức Mercedes-AMG Petronas F1 Team[9] Mercedes-AMG F1 W17 E Performance[10] Mercedes-AMG F1 M17[5] P 12 Ý Kimi Antonelli[11] Đan Mạch Frederik Vesti[12]
63 Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland George Russell[11]
Áo Oracle Red Bull Racing[13] Red Bull Racing RB22[14] Red Bull Ford DM01[15] P 3 Hà Lan Max Verstappen[16] Nhật Bản Tsunoda Yūki[17]
6 Pháp Isack Hadjar[17]
Ý Scuderia Ferrari HP[18] Ferrari SF-26[19] Ferrari 067[5] P 16 Monaco Charles Leclerc[20] Ý Antonio Giovinazzi[21]
44 Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Lewis Hamilton[22]
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Atlassian Williams F1 Team[23] Williams FW48[24] Mercedes-AMG F1 M17[5] P 23 Thái Lan Alexander Albon[25] Pháp Victor Martins[26]
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Luke Browning[21]
55 Tây Ban Nha Carlos Sainz Jr.[27]
Ý Visa Cash App Racing Bulls F1 Team[28] Racing Bulls VCARB 03[29] Red Bull Ford DM01[30] P 30 New Zealand Liam Lawson[17] Nhật Bản Tsunoda Yūki[17]
Nhật Bản Iwasa Ayumu[31]
41 Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Arvid Lindblad[17]
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Aston Martin Aramco Honda[32] Aston Martin AMR26[33] Honda RA626H[32] P 14 Tây Ban Nha Fernando Alonso[34] Hoa Kỳ Jak Crawford[35]
Bỉ Stoffel Vandoorne[36]
18 Canada Lance Stroll[37]
Hoa Kỳ TGR Haas F1 Team[38] Haas VF-26[39] Ferrari 067[5] P 31 Pháp Esteban Ocon[40] Úc Jack Doohan[41]
Nhật Bản Hirokawa Ryō[42]
87 Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Oliver Bearman[43]
Đức Revolut Audi F1 Team[44] Audi R26[45] Audi AFR 26 Hybrid[46] P 5 Brasil Gabriel Bortoleto[47]
27 Đức Nico Hülkenberg[48]
Pháp BWT Alpine F1 Team[49] Alpine A526[50] Mercedes-AMG F1 M17[51] P 10 Pháp Pierre Gasly[52] Estonia Paul Aron[21]
Ấn Độ Kush Maini[21]
43 Argentina Franco Colapinto[52]
Hoa Kỳ Cadillac Formula 1 Team[53] Cadillac CA01[54] Ferrari 067[55] P 11 México Sergio Pérez[56] Hoa Kỳ Colton Herta[57]
Trung Quốc Chu Quán Vũ[58]
77 Phần Lan Valtteri Bottas[56]

Thay đổi tay đua

[sửa | sửa mã nguồn]

Sergio PérezValtteri Bottas sẽ trở lại Công thức 1 với tư cách là tay đua chính của Đội đua Cadillac. Pérez đã ký hợp đồng hai năm với Red Bull Racing đến năm 2026 nhưng hợp đồng này đã bị chấm dứt theo thỏa thuận chung vào cuối mùa giải 2024. Bottas đã thi đấu lần cuối cùng tại Công thức 1 với tư cách là tay đua chính của Sauber vào năm 2024 và là một trong những tay đua dự bị của Đội đua Mercedes năm 2025.[56]

Isack Hadjar sẽ chuyển đến Red Bull Racing để thay thế Tsunoda Yūki, người sẽ trở thành tay đua lái thử và dự bị của đội. Tay đua thay thế Hadjar tại Đội đua Racing Bulls sẽ là tay đua Giải đua xe Công thức 2 Arvid Lindblad, người sẽ đua cùng Liam Lawson.[17]

Thay đổi đội đua

[sửa | sửa mã nguồn]

Cadillac sẽ trở thành đội đua thứ mười một với tư cách là đội đua mới đầu tiên tham gia kể từ Đội đua Haas vào năm 2016. Đây sẽ là lần đầu tiên Cadillac tham gia và thi đấu tại Công thức 1. Đội sẽ sử dụng bộ truyền động và hộp số Ferrari với kế hoạch phát triển động cơ riêng cho những mùa giải tương lai.[55] Cadillac trước đây đã từng cố gắng tham gia Công thức 1 cùng với Andretti Global.[53]

Ba nhà sản xuất động cơ mới sẽ tham gia Công thức 1, trùng với những thay đổi về quy định động cơ. Audi sẽ tham gia Công thức 1 lần đầu tiên sau khi mua lại Đội đua Sauber hiện tại vào năm 2024. Công ty tiền thân của Audi là Auto Union đã tham gia đua xe Công thức 1 trước Thế chiến II và trong mùa giải đầu tiên của Giải đua xe vô địch thế giới vào năm 1950.[59] Đội đã đua vào những năm 2024 và 2025 với tên gọi Kick Sauber và sử dụng động cơ Ferrari trước khi trở thành đội đua sản xuất nhà máy Audi vào năm 2026.[46] Do đó, các đội đua Haas và Cadillac sẽ tham gia và thi đấu với tư cách là đội đua khách hàng của Ferrari.

Ford sẽ trở lại Công thức 1 với tư cách là nhà cung cấp động cơ lần đầu tiên kể từ khi cung cấp động cơ cho Đội đua Jaguar và các đội đua khách hàng cũ là Jordan Grand PrixMinardi vào năm 2004.[15] Ford sẽ hợp tác với Red Bull Powertrains, nhà cung cấp động cơ cho Red Bull RacingRacing Bulls. Honda đã rút lui một phần khỏi Công thức 1 vào năm 2021 trong khi vẫn là đối tác của Red Bull Powertrains.

Honda sẽ tách khỏi hai đội do Red Bull sở hữu và khởi động lại chương trình động cơ hoàn toàn độc lập cung cấp cho Đội đua Aston Martin theo công ty con Honda Racing Corporation.[32] Trước đó, Aston Martin đã sử dụng các bộ phận truyền động của Mercedes kể từ khi đội tái gia nhập Công thức 1 và những đội đua tiền nhiệm của Aston Martin kể từ năm 2009. Honda trước đây đã hợp tác với đội đua tiền nhiệm của Aston Martin là Jordan Grand Prix từ năm 1998 đến năm 2002.

Renault sẽ ngừng cung cấp động cơ cho Đội đua Alpine từ năm 2026 sau khi đạt kết quả kém cỏi kể từ khi áp dụng quy định về động cơ lai vào năm 2014. Đây sẽ là mùa giải đầu tiên không có bất kỳ đội đua nào sử dụng động cơ Renault nào kể từ năm 2000. Alpine sẽ trở thành một đội khách hàng của Mercedes và sử dụng động cơ và hộp số của họ từ mùa giải này trở đi,[51] trái ngược với tư cách là một đội đua sản xuất hoàn chỉnh như kể từ khi Renault mua lại Đội Enstone trước mùa giải 2016.[60]

McLaren sẽ cạnh tranh với nhà tài trợ chính là MasterCard lần đầu tiên kể từ năm 2013 với tư cách là McLaren Mastercard Formula 1 Team.[3] Toyota Gazoo Racing sẽ trở thành nhà tài trợ chính thức mới của Đội đua Haas và thay thế MoneyGram. Đội đua sẽ được đổi tên thành TGR Haas F1 Team.[38]

Lịch đua

[sửa | sửa mã nguồn]
Màu xanh lá cây là các quốc gia tổ chức ít nhất một chặng đua. Màu xám đậm là các quốc gia có chặng đua bị hủy.

Lịch đua Giải đua xe Công thức 1 2026 bao gồm 24 chặng đua tương tự như hai mùa giải trước.[61] Chặng đua nước rút dự kiến sẽ được tổ chức tại Giải đua ô tô Công thức 1 Trung Quốc, Giải đua ô tô Công thức 1 Miami, Giải đua ô tô Công thức 1 Canada, Giải đua ô tô Công thức 1 Anh, Giải đua ô tô Công thức 1 Hà LanGiải đua ô tô Công thức 1 Singapore.[62]

Stt Chặng đua Trường đua Ngày
1 Giải đua ô tô Công thức 1 Úc Úc Trường đua Albert Park, Melbourne 8 tháng 3
2 Giải đua ô tô Công thức 1 Trung Quốc Trung Quốc Trường đua Quốc tế Thượng Hải, Thượng Hải 15 tháng 3
3 Giải đua ô tô Công thức 1 Nhật Bản Nhật Bản Trường đua Quốc tế Suzuka, Suzuka 29 tháng 3
4 Giải đua ô tô Công thức 1 Bahrain Bahrain Trường đua Bahrain International, Sakhir 12 tháng 4
5 Giải đua ô tô Công thức 1 Ả Rập Xê Út Ả Rập Xê Út Trường đua Jeddah Corniche, Jeddah 19 tháng 4
6 Giải đua ô tô Công thức 1 Miami Hoa Kỳ Trường đua Quốc tế Miami, Miami Gardens, Florida, Florida 3 tháng 5
7 Giải đua ô tô Công thức 1 Canada Canada Trường đua Gilles Villeneuve, Montréal 24 tháng 5
8 Giải đua ô tô Công thức 1 Monaco Monaco Trường đua Monaco, Monaco 7 tháng 6
9 Giải đua ô tô Công thức 1 Barcelona-Catalunya Tây Ban Nha Trường đua Barcelona-Catalunya, Montmeló 14 tháng 6
10 Giải đua ô tô Công thức 1 Áo Áo Trường đua Red Bull Ring, Áo 28 tháng 6
11 Giải đua ô tô Công thức 1 Anh Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Trường đua Silverstone, Silverstone 5 tháng 7
12 Giải đua ô tô Công thức 1 Bỉ Bỉ Trường đua Spa-Francorchamps, Stavelot 19 tháng 7
13 Giải đua ô tô Công thức 1 Hungary Hungary Hungaroring, Mogyoród 26 tháng 7
14 Giải đua ô tô Công thức 1 Hà Lan Hà Lan Trường đua Zandvoort, Zandvoort 23 tháng 8
15 Giải đua ô tô Công thức 1 Ý Ý Trường đua Monza, Monza 6 tháng 9
16 Giải đua ô tô Công thức 1 Tây Ban Nha Tây Ban Nha Trường đua Madring, Madrid 13 tháng 9
17 Giải đua ô tô Công thức 1 Azerbaijan Azerbaijan Trường đua Thành phố Baku, Baku 26 tháng 9[b][c]
18 Giải đua ô tô Công thức 1 Singapore Singapore Trường đua Đường phố Singapore, Singapore 11 tháng 10
19 Giải đua ô tô Công thức 1 Hoa Kỳ Hoa Kỳ Trường đua Americas, Austin, Texas 25 tháng 10
20 Giải đua ô tô Công thức 1 Thành phố México México Trường đua Anh em Rodríguez, Thành phố México 1 tháng 11
21 Giải đua ô tô Công thức 1 São Paulo Brasil Trường đua Interlagos, São Paulo 8 tháng 11
22 Giải đua ô tô Công thức 1 Las Vegas Hoa Kỳ Trường đua Las Vegas, Las Vegas 21 tháng 11[b]
23 Giải đua ô tô Công thức 1 Qatar Qatar Trường đua Losail, Lusail 29 tháng 11
24 Giải đua ô tô Công thức 1 Abu Dhabi Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Trường đua Yas Marina, Abu Dhabi 6 tháng 12

Giải đua ô tô Công thức 1 Tây Ban Nha sẽ chuyển từ Trường đua Barcelona-CatalunyaMontmeló, Barcelona, đến một trường đua đường phố mớiMadrid được xây dựng xung quanh Trung tâm Triển lãm IFEMA.[64] Trường đua Barcelona-Catalunya sẽ tiếp tục được tổ chức một cuộc đua với tên gọi "Giải đua ô tô Công thức 1 Barcelona-Catalunya".[65] Giải đua ô tô Công thức 1 Hà Lan sẽ không còn diễn ra sau mùa giải 2026 sau khi ban tổ chức thông báo rằng năm 2026 sẽ là lần cuối cùng Giải đua ô tô Công thức 1 Hà Lan được tổ chức.[66] Giải đua ô tô Công thức 1 Emilia-RomagnaImola đã bị hủy bỏ sau khi hợp đồng đăng cai tổ chức cuộc đua đến năm 2025 không được gia hạn.[67] Giải đua ô tô Công thức 1 Azerbaijan sẽ được tổ chức vào thứ Bảy theo yêu cầu của ban tổ chức và các bên liên quan của chính phủ để phù hợp với Ngày tưởng niệm Azerbaijan.[63]

Thay đổi quy định

[sửa | sửa mã nguồn]

Các quy định về tài chính, động cơ, khí động học, hình học và an toàn đều được thay đổi cho mùa giải 2026.[68]

Quy định tài chính

[sửa | sửa mã nguồn]

Mức trần chi phí hoạt động của các đội đua Công thức 1 cho mùa giải 2026 đã được tăng từ 135 triệu USD lên 215 triệu USD để điều chỉnh lạm phát và các chi phí cũ được miễn trừ khỏi mức trần. Các khoản chi phí chính vẫn nằm ngoài mức trần chi phí bao gồm tiền lương của tay đua, tiền lương của ba thành viên được trả lương cao nhất trong đội, chi phí tiếp thị-tiếp khách và đầu tư cơ sở hạ tầng.[69] Mức trần chi phí riêng biệt dành cho các nhà sản xuất động cơ kể từ năm 2023 cũng đã được tăng từ 95 triệu USD lên 130 triệu USD kể từ năm 2026 trở đi để hỗ trợ phát triển các động cơ hybrid mới.[70]

Quy định kỹ thuật

[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ nguồn

[sửa | sửa mã nguồn]

Các quy định về bộ nguồn mới về động cơ điện dự kiến ​​sẽ được giới thiệu cho mùa giải 2026. Các bộ nguồn mới vẫn sẽ sản xuất hơn 1.000 mã lực (750 kW), mặc dù công suất đến từ các nguồn khác nhau. Các quy định về động cơ sẽ giữ lại cấu hình động cơ đốt trong V6 1,6 lít tăng áp được sử dụng từ năm 2014. Tuy nhiên, MGU-H (bộ máy phát điện động cơ nhiệt), cũng đã được sử dụng từ năm 2014, sẽ bị loại bỏ, trong khi công suất đầu ra của MGU-K (bộ máy phát điện động cơ động năng) sẽ được tăng từ 160 mã lực (120 kW) lên 470 mã lực (350 kW). Công suất đầu ra của phần đốt trong của động cơ điện sẽ giảm từ 850 mã lực (630 kW) xuống 540 mã lực (400 kW). Tốc độ dòng nhiên liệu sẽ được đo và giới hạn dựa trên năng lượng, chứ không phải khối lượng của chính nhiên liệu. Các bộ nguồn sẽ sử dụng một loại nhiên liệu hoàn toàn bền vững đang được Công thức 1 phát triển. Các bộ nguồn dự kiến ​​sẽ thu hồi lượng điện năng gấp đôi so với trước đây.

Trong cuộc họp của Ủy ban vào đầu năm 2025, người ta đã nhất trí tìm kiếm các phương án bắt kịp cho việc phát triển bộ nguồn dành cho các nhà sản xuất có thể đã tụt hậu so với các đối thủ cạnh tranh trong giai đoạn phát triển ban đầu. Ủy ban cũng đề xuất rằng một ủy ban tư vấn có liên quan nên xem xét liệu việc triển khai năng lượng của các bộ nguồn mới có nên được giảm xuống trong chế độ đua so với mức 470 mã lực (350 kW) theo kế hoạch hay không sau khi một số đội lo ngại về khả năng xe của họ hết năng lượng có thể triển khai trong một cuộc đua.[71]

Tính năng an toàn

[sửa | sửa mã nguồn]

Các quy định về cấu trúc va chạm phía trước (FIS) được cập nhật nhằm mục đích tăng cường an toàn trong các vụ va chạm. Thiết kế FIS hai giai đoạn đã được giới thiệu để giải quyết các vấn đề trước đây, trong đó cấu trúc bị tách rời gần khoang sống sót sau một vụ va chạm ban đầu, khiến xe dễ bị tổn thương trước các va chạm tiếp theo. Khả năng bảo vệ chống xâm nhập bên hông, đặc biệt là xung quanh buồng lái và bình nhiên liệu cũng sẽ được cải thiện. Những nâng cấp này nhằm mục đích bảo vệ các khu vực quan trọng của xe trong các vụ va chạm bên hông, đồng thời duy trì trọng lượng của xe. Độ bền của khung chống lật sẽ được cải thiện, chịu được tải trọng tăng từ 16g lên 20g, phù hợp với các tiêu chuẩn an toàn của các dòng xe một chỗ ngồi khác. Yêu cầu thử nghiệm tải trọng sẽ được nâng từ 141 kN lên 167 kN.[72]

Để bảo vệ thêm cho tay đua và nhân viên đường đua, đèn an toàn bên hông được bắt buộc. Những đèn này sẽ hiển thị trạng thái hệ thống phục hồi năng lượng (ERS) của xe khi dừng trên đường đua, cung cấp các chỉ báo trực quan về các rủi ro điện tiềm ẩn, đặc biệt là trong các tình huống khẩn cấp.[72]

Quy định thể thao

[sửa | sửa mã nguồn]

Số xe đua

[sửa | sửa mã nguồn]

Các quy định liên quan đến hệ thống đánh số xe đua cố định được áp dụng vào năm 2014 sẽ được sửa đổi. Các tay đua sẽ được phép thay đổi số xe đua trong suốt sự nghiệp của mình mặc dù cơ chế cho phép họ làm như vậy vẫn chưa được xác định.[73]

Màu sơn xe

[sửa | sửa mã nguồn]

Để ngăn cản các đội đua để lại quá nhiều carbon đen lộ ra trên xe của họ nhằm tiết kiệm trọng lượng, FIA quy định tối thiểu 55% diện tích bề mặt khi nhìn từ bên cạnh và từ trên xuống phải được phủ bằng sơn hoặc decal.[74]

Áo khoác làm mát và các quy định đặc biệt về nhiệt

[sửa | sửa mã nguồn]

Tay đua bắt buộc phải mặc áo khoác làm mát khi FIA tuyên bố nguy cơ nhiệt trong một cuối tuần đua. Trước năm 2026, áo khoác làm mát là tùy chọn. Ngoài ra, áo khoác sẽ được thiết kế lại.[75]

Xem xét của ban trọng tài

[sửa | sửa mã nguồn]

Đối với năm 2026, các trọng tài có quyền bắt đầu xem xét dựa trên bằng chứng mới. Theo phiên bản trước của ISC, một đối thủ cạnh tranh phải gửi yêu cầu quyền xem xét để bất kỳ quyết định nào được xem xét lại. Tùy chọn cho các đối thủ cạnh tranh gửi quyền xem xét vẫn được giữ nguyên. Ngoài ra, một hội đồng trọng tài “ngoài cuộc” sẽ được giới thiệu cho các quyết định nhạy cảm về thời gian không thể chờ đến sự kiện tiếp theo.[76]

Diễn biến mùa giải

[sửa | sửa mã nguồn]

Buổi thử nghiệm

[sửa | sửa mã nguồn]

Ba buổi thử nghiệm trước mùa giải được tổ chức, một sự mở rộng đáng kể so với các buổi thử nghiệm của những năm trước để phù hợp với các quy định mới về khung gầm và động cơ.[77] Buổi thử nghiệm đầu tiên là một buổi thử nghiệm riêng tư diễn ra tại Trường đua Barcelona-Catalunya từ ngày 26 đến 30 tháng 1, trong đó các đội đua được phép tham gia tối đa ba trong năm ngày. Tất cả các đội đều tham gia cuộc thử nghiệm riêng tư ngoại trừ Đội đua Williams.[78] Lewis Hamilton (Ferrari) đã lập kỷ lục thời gian nhanh nhất trong cuộc thử nghiệm kéo dài năm ngày.

Buổi thử nghiệm thứ hai và thứ ba được tổ chức lần lượt ba ngày tại Trường đua Bahrain International vào ngày 11–13 tháng 2 và ngày 18–20 tháng 2.[79] Kimi Antonelli (Mercedes) lập thời gian nhanh nhất trong buổi thử nghiệm kéo dài ba ngày từ 11-13 tháng 2.[80] Charles Leclerc (Ferrari) lập thời gian nhanh nhất trong buổi thử nghiệm kéo dài ba ngày từ 18-20 tháng 2.[81]

Kết quả

[sửa | sửa mã nguồn]

Các chặng đua

[sửa | sửa mã nguồn]
Stt Chặng đua[d] Vị trí pole Vòng đua nhanh nhất Tay đua giành chiến thắng Đội đua giành chiến thắng Diễn biến chi tiết
1 Giải đua ô tô Công thức 1 Úc Chi tiết
2 Giải đua ô tô Công thức 1 Trung Quốc Chi tiết
3 Giải đua ô tô Công thức 1 Nhật Bản Chi tiết
4 Giải đua ô tô Công thức 1 Bahrain Chi tiết
5 Giải đua ô tô Công thức 1 Ả Rập Xê Út Chi tiết
6 Giải đua ô tô Công thức 1 Miami Chi tiết
7 Giải đua ô tô Công thức 1 Canada Chi tiết
8 Giải đua ô tô Công thức 1 Monaco Chi tiết
9 Giải đua ô tô Công thức 1 Barcelona-Catalunya Chi tiết
10 Giải đua ô tô Công thức 1 Áo Chi tiết
11 Giải đua ô tô Công thức 1 Anh Chi tiết
12 Giải đua ô tô Công thức 1 Bỉ Chi tiết
13 Giải đua ô tô Công thức 1 Hungary Chi tiết
14 Giải đua ô tô Công thức 1 Hà Lan Chi tiết
15 Giải đua ô tô Công thức 1 Ý Chi tiết
16 Giải đua ô tô Công thức 1 Tây Ban Nha Chi tiết
17 Giải đua ô tô Công thức 1 Azerbaijan Chi tiết
18 Giải đua ô tô Công thức 1 Singapore Chi tiết
19 Giải đua ô tô Công thức 1 Hoa Kỳ Chi tiết
20 Giải đua ô tô Công thức 1 Thành phố México Chi tiết
21 Giải đua ô tô Công thức 1 São Paulo Chi tiết
22 Giải đua ô tô Công thức 1 Las Vegas Chi tiết
23 Giải đua ô tô Công thức 1 Qatar Chi tiết
24 Giải đua ô tô Công thức 1 Abu Dhabi Chi tiết

Bảng xếp hạng các tay đua

[sửa | sửa mã nguồn]
Vị trí Tay đua AUSÚc CHNTrung Quốc JPNNhật Bản BHRBahrain SAUẢ Rập Xê Út MIAHoa Kỳ CANCanada MONMonaco BCNTây Ban Nha AUTÁo GBRVương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland BELBỉ HUNHungary NEDHà Lan ITAÝ ESPTây Ban Nha AZEAzerbaijan SINSingapore USAHoa Kỳ MXCMéxico SAPBrasil LVGHoa Kỳ QATQatar ABUCác Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Số điểm
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Lando Norris 0
Úc Oscar Piastri 0
Ý Kimi Antonelli 0
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland George Russell 0
Hà Lan Max Verstappen 0
Pháp Isack Hadjar 0
Monaco Charles Leclerc 0
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Lewis Hamilton 0
Thái Lan Alexander Albon 0
Tây Ban Nha Carlos Sainz Jr. 0
New Zealand Liam Lawson 0
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Arvid Lindblad 0
Tây Ban Nha Fernando Alonso 0
Canada Lance Stroll 0
Pháp Esteban Ocon 0
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Oliver Bearman 0
Brasil Gabriel Bortoleto 0
Đức Nico Hülkenberg 0
Pháp Pierre Gasly 0
Argentina Franco Colapinto 0
México Sergio Pérez 0
Phần Lan Valtteri Bottas 0

Chú thích

  • dagger – Tay đua không hoàn thành cuộc đua chính nhưng được xếp hạng vì hoàn thành hơn 90% tổng chiều dài cuộc đua chính.

Bảng xếp hạng các đội đua

[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích mở rộng cho các bảng trên

Chú thích
Màu Ý nghĩa
Vàng Chiến thắng
Bạc Hạng 2
Đồng Hạng 3
Xanh lá Các vị trí ghi điểm khác
Xanh dương Được xếp hạng
Không xếp hạng, có hoàn thành (NC)
Tím Không xếp hạng, bỏ cuộc (Ret)
Đỏ Không phân hạng (DNQ)
Đen Bị loại khỏi kết quả (DSQ)
Trắng Không xuất phát (DNS)
Chặng đua bị hủy (C)
Không đua thử (DNP)
Loại trừ (EX)
Không đến (DNA)
Rút lui (WD)
Không tham gia (ô trống)
Ghi chú Ý nghĩa
P Giành vị trí pole
Số mũ
cao
Vị trí giành điểm
tại chặng đua nước rút
F Vòng đua nhanh nhất
  1. ^ Norris sẽ thi đấu với số xe đua 1 với tư cách là nhà vô địch tay đua thế giới đương nhiệm.
  2. ^ a b Chặng đua được tổ chức vào ngày thứ Bảy.
  3. ^ Giải đua ô tô Công thức 1 Azerbaijan ban đầu dự kiến diễn ra vào ngày 27 tháng 9 nhưng đã được dời lại sớm hơn một ngày theo yêu cầu của ban tổ chức và các bên liên quan trong chính phủ để phù hợp với Ngày tưởng niệm.[63]
  4. ^ Các chặng đua nước rút được tổ chức tại Giải đua ô tô Công thức 1 Trung Quốc, Giải đua ô tô Công thức 1 Miami, Giải đua ô tô Công thức 1 Canada, Giải đua ô tô Công thức 1 Anh, Giải đua ô tô Công thức 1 Hà LanGiải đua ô tô Công thức 1 Singapore.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ "2026 Formula One Sporting Regulations – Issue 2" (PDF). Liên đoàn Ô tô Quốc tế (bằng tiếng Anh). ngày 20 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2025.
  2. ^ "Pirelli to continue as Formula 1's exclusive tyre supplier until 2027". Formula 1 (bằng tiếng Anh). ngày 10 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2025.
  3. ^ a b Ehlen, Stefan (ngày 28 tháng 8 năm 2025). "Nach zwölf Jahren Pause: McLaren bekommt wieder einen Titelsponsor". Motorsport Total.com (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2025.
  4. ^ Duforest, Michael (ngày 1 tháng 11 năm 2025). "The name of the new McLaren revealed at auction". AutoHebdo (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2025.
  5. ^ a b c d e "What engine every F1 team is using for 2026 rules". The Race (bằng tiếng Anh). ngày 26 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2025.
  6. ^ "McLaren Racing announce multi-year contract renewal with Lando Norris". McLaren (bằng tiếng Anh). ngày 26 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2025.
  7. ^ Boxall-Legge, Jake (ngày 2 tháng 12 năm 2025). "F2 champion Leonardo Fornaroli joins McLaren as test and development driver". Motorsport.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2025.
  8. ^ "Piastri extends McLaren deal through 2026". ESPN (bằng tiếng Anh). ngày 20 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2025.
  9. ^ Noble, Jonathan (ngày 28 tháng 9 năm 2022). "Mercedes signs early Petronas deal extension ahead of new F1 2026 rules". Motorsport.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2025.
  10. ^ Mee, Lydia (ngày 5 tháng 1 năm 2026). "Mercedes announces W17 livery reveal date and 2026 F1 season launch event". Motorsport.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2026.
  11. ^ a b "George and Kimi Confirmed For 2026!". Đội đua Mercedes (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2025.
  12. ^ van Denderen, Ludo (ngày 29 tháng 10 năm 2025). "Mercedes to make another 2026 lineup move after Russell and Antonelli". GPBlog (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026.
  13. ^ "Red Bull name tech firm Oracle as title sponsor in $500m deal". ESPN (bằng tiếng Anh). ngày 10 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2025.
  14. ^ "Oracle Red Bull Racing Announces 2026 Driver Line-Up". Red Bull Racing (bằng tiếng Anh). ngày 2 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2025.
  15. ^ a b Smith, Luke; Newbold, James (ngày 9 tháng 2 năm 2023). "Cosworth: F1 return not on radar despite Ford's comeback". Motorsport.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2025.
  16. ^ Edmonson, Laurence (ngày 3 tháng 3 năm 2022). "Max Verstappen signs new contract to stay at Red Bull until 2028". ESPN (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2025.
  17. ^ a b c d e f "Red Bull confirm Isack Hadjar as Max Verstappen's 2026 F1 team-mate with British teenager Arvid Lindblad joining Racing Bulls". Sky Sports (bằng tiếng Anh). ngày 12 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2025.
  18. ^ "Ferrari signs title deal with computer giant HP". ESPN (bằng tiếng Anh). ngày 24 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2025.
  19. ^ Cleeren, Filip (ngày 9 tháng 1 năm 2026). "Ferrari reveals name for pivotal 2026 F1 car". Motorsport.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2026.
  20. ^ "Charles Leclerc signs new Ferrari contract to remain with team beyond 2024 Formula 1 season". Sky Sports (bằng tiếng Anh). ngày 25 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2025.
  21. ^ a b c d Elizalde, Pablo (ngày 7 tháng 1 năm 2026). "2026 F1 reserve drivers: the hopefuls on standby for each GP team". Motor Sport Magazine (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026.
  22. ^ "Lewis Hamilton chuyển sang Ferrari từ mùa F1 2025". Thời báo VTV. ngày 2 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2025.
  23. ^ Mann-Bryans, Mark (ngày 11 tháng 2 năm 2025). "Record title sponsorship for Williams F1 as Atlassian deal announced". Autosport.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2025.
  24. ^ "Atlassian Williams F1 Team to launch FW48 livery on 3rd February". Đội đua Williams (bằng tiếng Anh). ngày 3 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2026.
  25. ^ "Alex Albon: Williams driver signs 'long-term' contract extension to end speculation over his Formula 1 future". Sky Sports (bằng tiếng Anh). ngày 19 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2025.
  26. ^ Mountford, Sheona (ngày 12 tháng 1 năm 2026). "Williams confirm F2 race winner Martins as test and development driver for 2026". Formula 1 (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026.
  27. ^ "Sainz signs for Williams as his F1 future is confirmed". Formula 1 (bằng tiếng Anh). ngày 29 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2025.
  28. ^ "AlphaTauri's new name: F1 team rebrands as Visa Cash App RB in big change ahead of 2024 season". Sky Sports (bằng tiếng Anh). ngày 24 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2025.
  29. ^ Cozens, Jack (ngày 20 tháng 1 năm 2026). "First images of 2026 Racing Bulls revealed from Imola shakedown". The Race (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026.
  30. ^ "Ford Returns to Formula 1 as a Strategic Partner to Oracle Red Bull Racing". Ford (bằng tiếng Anh). ngày 2 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2025.
  31. ^ "Ayumu Iwasa". Đội đua Racing Bulls (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2026.
  32. ^ a b c Edmonson, Laurence (ngày 23 tháng 5 năm 2025). "Honda to supply Aston Martin with F1 engines in 2026". ESPN (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2025.
  33. ^ Woodhouse, Jeremy (ngày 1 tháng 12 năm 2025). "Aston Martin announce launch date for first F1 car designed under Adrian Newey". Planet F1 (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2025.
  34. ^ "Fernando Alonso: Aston Martin driver signs contract extension to remain with team until 2026". Sky Sports (bằng tiếng Anh). ngày 4 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2025.
  35. ^ Walsh, Fergal (ngày 28 tháng 10 năm 2025). "Aston Martin reveal new F1 reserve driver". Racing News 365 (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2025.
  36. ^ Mountford, Sheona (ngày 29 tháng 1 năm 2026). "Aston Martin confirm completed driver lineup". GP Fans (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026.
  37. ^ "Aston Martin confirm Stroll to remain as Alonso's team mate after contract extension". Formula 1 (bằng tiếng Anh). ngày 27 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2025.
  38. ^ a b "Toyota to become title sponsor of Haas F1 team". The Japan Times (bằng tiếng Anh). ngày 4 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2025.
  39. ^ "Esteban Ocon: Haas sign outgoing Alpine driver for 2025 on multi-year contract". Sky Sports (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2025.
  40. ^ Parkes, Ian (ngày 4 tháng 12 năm 2025). "Haas undergo major name change for 2026 F1 season". Sky Sports (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2025.
  41. ^ "TGR Haas F1 Team Signs Jack Doohan to Reserve Role". Đội đua Haas (bằng tiếng Anh). ngày 3 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2026.
  42. ^ "Who are the 2026 F1 reserve drivers". Racing News 365 (bằng tiếng Anh). ngày 4 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2026.
  43. ^ "MoneyGram Haas F1 Team Signs Oliver Bearman". Đội đua Haas (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2025.
  44. ^ "Audi F1 Team announce title partner for debut 2026 season". Công thức 1 (bằng tiếng Anh). ngày 30 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2025.
  45. ^ Mitchell-Malm, Scott (ngày 12 tháng 11 năm 2025). "Audi reveals new concept livery for its F1 debut in 2026". The Race (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2026.
  46. ^ a b "Audi expands commitment to Formula 1 with 100% takeover of Sauber". Công thức 1 (bằng tiếng Anh). ngày 8 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2025.
  47. ^ "Gabriel Bortoleto completes driver duo". Đội đua Sauber Motorsport (bằng tiếng Anh). ngày 6 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2025.
  48. ^ "Kick Sauber sign Nico Hulkenberg for 2025 ahead of Audi transformation". Formula 1 (bằng tiếng Anh). ngày 26 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2025.
  49. ^ "BWT Alpine F1 Team extend partnership with Memento Exclusives, activating the renewal with Gasly signed simulator auction & the chance to own an Alpine F1 Team show car". Alpine (bằng tiếng Anh). ngày 12 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2025.
  50. ^ Spencer, Ed (ngày 2 tháng 12 năm 2025). "F1: Alpine Confirm Location and Date for 2026 Season Launch". Auto Evolution (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2026.
  51. ^ a b Benyon, Jack (ngày 11 tháng 12 năm 2024). "Alpine to use Mercedes F1 engines from 2026". The Race (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2025.
  52. ^ a b Smith, Jack Oliver (ngày 7 tháng 11 năm 2025). "Franco Colapinto completes Alpine's 2026 F1 driver line-up". Motorsport Week (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2025.
  53. ^ a b "Andretti Global and General Motors Team Up in F1 Pursuit". Andretti Global (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2025.
  54. ^ "Checo Pérez y Cadillac revelan el monoplaza CA01 para Formula 1". El Congregista (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 9 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2026.
  55. ^ a b Edmonson, Laurence (ngày 23 tháng 4 năm 2025). "General Motors approved as F1 engine supplier for 2029 to power Cadillac". ESPN (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2025.
  56. ^ a b c "Cadillac name Sergio Pérez and Valtteri Bottas as drivers for debut F1 season". The Guardian (bằng tiếng Anh). ngày 20 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2025.
  57. ^ Jackson, Kieran (ngày 5 tháng 9 năm 2025). "Cadillac add IndyCar star to F1 ranks for debut season in 2026". The Independent (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2025.
  58. ^ "Cadillac Formula 1® Team announces star Chinese racer Zhou Guanyu as Reserve Driver". General Motors (bằng tiếng Anh). ngày 6 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2026.
  59. ^ Hughes, Mark (ngày 26 tháng 8 năm 2022). "Audi has gone grand prix racing before – sort of". The Race (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2025.
  60. ^ Hořínková, Tereza (ngày 30 tháng 9 năm 2024). "Renault to shut down F1 power unit project as Alpine gets ready to switch to Mercedes engines in 2026". News GP (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2025.
  61. ^ "Formula 1 reveals calendar for 2026 season". Formula 1 (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2025.
  62. ^ "Formula 1 and FIA announce 2026 Sprint Calendar". Formula 1 (bằng tiếng Anh). ngày 16 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2025.
  63. ^ a b Harrington, Alex (ngày 30 tháng 6 năm 2025). "2026 Azerbaijan Grand Prix date changed to avoid clash with day of national mourning". Motorsport.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2025.
  64. ^ "Madrid has set a date for its Formula 1 Grand Prix: September 11-13, 2026". Hội đồng Thành phố Madrid (bằng tiếng Anh). ngày 19 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2025.
  65. ^ Cleeren, Filip (ngày 4 tháng 6 năm 2025). "As Barcelona fights for its F1 race, here is how the 2026 F1 calendar is shaping up". Autosport (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2025.
  66. ^ "Dutch Grand Prix: Max Verstappen's home race to drop off F1 calendar after 2026". Sky Sports (bằng tiếng Anh). ngày 4 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2025.
  67. ^ Cunningham, Euan (ngày 10 tháng 6 năm 2025). "Imola replaced by Madrid in 2026 F1 calendar". Sportcal (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2025.
  68. ^ Benson, Andrew (ngày 27 tháng 3 năm 2025). "What's the future for F1 engines and why is it up for debate?". BBC Sport (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2026.
  69. ^ Nichol, Jake; Aaron, Deckers (ngày 24 tháng 9 năm 2025). "FIA reveal 'concessions' to teams ahead of major F1 rule tweak". Racing News 365 (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026.
  70. ^ Kew, Matt (ngày 17 tháng 8 năm 2022). "FIA finalises 2026 Formula 1 power unit regulations". Autosport (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026.
  71. ^ "FORMULA 1 COMMISSION MEETING 24.04.2025 – MEDIA STATEMENT". Liên đoàn Ô tô Quốc tế (bằng tiếng Anh). ngày 24 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2026.
  72. ^ a b Barretto, Lawrence (ngày 6 tháng 7 năm 2024). "EXPLAINED: From more agile cars to 'X-mode' and 'Z-mode' – unpicking the 2026 aerodynamics regulations". Formula 1 (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2026.
  73. ^ Collantine, Keith (ngày 14 tháng 11 năm 2025). "F1 Commission agrees changes to rules on car liveries and driver numbers for 2026". Race Fans (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2025.
  74. ^ Benyon, Jack (ngày 14 tháng 11 năm 2025). "New F1 livery rules to be introduced for 2026". Race Fans (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2026.
  75. ^ Mujica, Norberto (ngày 14 tháng 11 năm 2025). "FIA announces 'updates' to 2026 regulations after final F1 Commision". GP Blog (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2026.
  76. ^ Benyon, Jack (ngày 18 tháng 12 năm 2025). "Two big changes to stewards' powers for 2026". Race Fans (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2026.
  77. ^ "F1 Commission rules out 'rookie race' for this year – but concept will be explored for 2025". Formula 1 (bằng tiếng Anh). ngày 2 tháng 10 năm 2024. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2026.
  78. ^ Cleeren, Filip (ngày 28 tháng 1 năm 2026). "Williams missed Barcelona F1 test due to production delays, denies significant weight issue". Autosport (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2026.
  79. ^ "Formula 1 confirms 2026 pre-season testing dates and issues calendar update". Formula 1 (bằng tiếng Anh). ngày 30 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2026.
  80. ^ "Mercedes duo leads the way on final day in Sakhir". Pirelli (bằng tiếng Anh). ngày 13 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2026.
  81. ^ "Leclerc finishes on top as lengthy Bahrain testing concludes". Pirelli (bằng tiếng Anh). ngày 20 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2026.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]