Giải Grammy lần thứ 57

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Giải Grammy lần thứ 57
The 57th Grammy Award.jpg
Tấm bìa quảng cáo lễ trao giải Grammy lần thứ 57
Ngày 8 tháng 2 năm 2015
5:00–8:30 p.m. PST
Địa điểm Trung tâm Staples, Los Angeles, California, Hoa Kỳ
Dẫn chương trình LL Cool J
Truyền hình
Kênh CBS
Lượng khán giả 25,3 triệu người xem[1]
56 Giải Grammy 58 >

Giải Grammy lần thứ 57 được tổ chức vào ngày 8 tháng 2 năm 2015, tại Trung tâm StaplesLos Angeles, California. Chương trình được truyền hình trực tiếp trên đài CBS lúc 5:00 p.m. PST (UTC−8). Rapper LL Cool J dẫn chương trình lần thứ 4 liên tiếp.[2]

Đề cử giải Grammy lần này dành cho những tác phẩm âm nhạc phát hành từ 1 tháng 10 năm 2013 đến 30 tháng 9 năm 2014. Khác với truyền thống tổ chức hòa nhạc giờ vàng, các đề cử giải Grammy năm nay được công bố trong trọn một ngày 5 tháng 12 năm 2014, bắt đầu với những hé lộ đầu tiên trên chương trình truyền hình CBS This Morning, kế tiếp là những công bố tiếp theo qua tài khoản Twitter chính thức của giải.[3]

Nghệ sĩ Anh mới nổi Sam Smith giành bốn giải trong đó có Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất và Thu âm/Bài hát của năm cho ca khúc "Stay With Me" trong album In the Lonely Hour, album này đã giành giải Album giọng pop xuất sắc nhất. Album Morning Phase của Beck giành giải Album của năm. Cả Pharrell WilliamsBeyoncé giành 3 giải; và với những chiến thắng này, Beyoncé trở thành nghệ sĩ nữ giành nhiều giải nhất trong lịch sử Grammy sau Alison Krauss. Các giải Thành tựu trọn đời được trao cho Bee Gees, George Harrison, Pierre Boulez, Buddy Guy, và Flaco Jiménez. Tổng cộng, có 83 hạng mục giải Grammy đã được trao, nhiều hơn năm trước 1 giải.

Giải được chiếu trực tiếp trên kênh Fox8 tại Úc, Sky TV tại New Zealand và Channel O tại Nam Phi.

Buổi lễ mở màn[sửa | sửa mã nguồn]

Không phải tất cả các Giải Grammy đều được giới thiệu trực tiếp trong lễ trao giải. Giống như những năm trước, năm nay các giải thưởng tiếp tục được giới thiệu tại "Buổi lễ mở màn", được tổ chức tại nhà hát Nokia ở phía trước Trung tâm Staples, nơi sẽ diễn ra lễ trao giải vào buổi chiều. Từ năm 2015, buổi lễ này được coi là màn dạo đầu. Khoảng 70 hạng mục lớn nhỏ của Giải Grammy đã được trưng bày tại đây.

Trình diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Nghệ sĩ Bài hát
AC/DC "Rock or Bust"
"Highway to Hell"
Ariana Grande "Just a Little Bit of Your Heart"
Tom Jones
Jessie J
"You've Lost That Lovin' Feelin'"
Miranda Lambert "Little Red Wagon"
Kanye West "Only One"
Madonna "Living for Love"
Ed Sheeran "Thinking Out Loud"
Electric Light Orchestra "Evil Woman"
"Mr. Blue Sky"
Adam Levine
Gwen Stefani
"My Heart Is Open"
Hozier
Annie Lennox
"Take Me to Church"
"I Put a Spell on You"
Pharrell Williams
Lang Lang
Hans Zimmer
"Happy"
Katy Perry "By the Grace of God"
Tony Bennett
Lady Gaga
"Cheek to Cheek"
Usher "If It's Magic"
Imagine Dragons "Shots" (quảng cáo trực tiếp từ Las Vegas)
Eric Church "Give Me Back My Hometown"
Brandy Clark
Dwight Yoakam
"Hold My Hand"
Rihanna
Kanye West
Paul McCartney
"FourFiveSeconds"
Sam Smith
Mary J. Blige
"Stay with Me"
Juanes "Juntos (Together)"
Sia "Chandelier"
Beck
Chris Martin
"Heart is a Drum"
Beyoncé "Take My Hand, Precious Lord"
John Legend
Common
"Glory"

Trong lễ trao giải, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama sẽ đưa ra những thông điệp nói về tình trạng bạo lực gia đình, đặc biệt là đối với phụ nữ. Thông điệp của ông sau đó được sự hưởng ứng nồng nhiệt của hai nghệ sĩ Brooke Axtell và Katy Perry qua màn biểu diễn ballad "By the Grace of God" như là một sự tri ân dành cho các nạn nhân.

Người trao giải và giới thiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Nội dung thắng giải[sửa | sửa mã nguồn]

Chung[sửa | sửa mã nguồn]

Bản thu của năm
Album của năm
Bài hát của năm
Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất

Pop[sửa | sửa mã nguồn]

Trình diễn solo giọng pop xuất sắc nhất
Trình diễn Nhóm nhạc Pop xuất sắc nhất
Giải Grammy cho Album giọng pop xuất sắc nhất
Best Traditional Pop Vocal Album

Điện tử/dance[sửa | sửa mã nguồn]

Thu âm nhạc dance xuất sắc nhất
Album nhạc điện tử/dance xuất sắc nhất

Contemporary Instrumental[sửa | sửa mã nguồn]

Best Contemporary Instrumental Album

Rock[sửa | sửa mã nguồn]

Trình diễn Rock xuất sắc nhất
Best Metal Performance
Bài hát Rock hay nhất
Album Rock xuất sắc nhất

Alternative[sửa | sửa mã nguồn]

Album Alternative xuất sắc nhất

R&B[sửa | sửa mã nguồn]

Best R&B Performance
Best Traditional R&B Performance
Best R&B Song
  • "Drunk in Love"
  • "Good Kisser"
    • Ronald “Flip” Colson, Warren “Oak” Felder, Usher Raymond IV, Jameel Roberts, Terry “Tru” Sneed and Andrew "Pop" Wansel, songwriters (Usher)
  • "New Flame"
    • Eric Bellinger, Chris Brown, James Chambers, Malissa Hunter, Justin Booth Johnson, Mark Pitts, Usher Raymond IV, William Roberts, Maurice "Verse" Simmonds and Keith Thomas, songwriters (Chris Brown hợp tác với UsherRick Ross)
  • "Options (Wolfjames Version)"
    • Dominic Gordon, Brandon Hesson and Jamaica "Kahn-Cept" Smith, songwriters (Luke James)
  • "The Worst"
    • Jhené Aiko Chilombo, Mac Robinson and Brian Warfield, songwriter (Jhené Aiko)
Best Urban Contemporary Album
Best R&B Album

Rap[sửa | sửa mã nguồn]

Best Rap Performance
Best Rap/Sung Collaboration
Best Rap Song
Best Rap Album

Country[sửa | sửa mã nguồn]

Best Country Solo Performance
Best Country Duo/Group Performance
Best Country Song
Best Country Album

New Age[sửa | sửa mã nguồn]

Best New Age Album

Jazz[sửa | sửa mã nguồn]

Best Improvised Jazz Solo
Best Jazz Vocal Album
Best Jazz Instrumental Album
Best Large Jazz Ensemble Album
Best Latin Jazz Album
  • The Offense of the DrumArturo O'Farrill and the Afro Latin Jazz Orchestra
  • The Latin Side of Joe HendersonConrad Herwig hợp tác với Joe Lovano
  • The Pedrito Martinez Group – Pedrito Martinez Group
  • Second Half – Emilio Solla y la Inestable de Brooklyn
  • New Throned King – Yosvany Terry

Gospel/Contemporary Christian[sửa | sửa mã nguồn]

Best Gospel Performance/Song
Best Contemporary Christian Music Performance/Song
Best Gospel Album
Best Contemporary Christian Music Album
Best Roots Gospel Album

Latin[sửa | sửa mã nguồn]

Best Latin Pop Album
Best Latin Rock Urban or Alternative Album
Best Regional Mexican Music Album (Including Tejano)
Best Tropical Latin Album

Americana Music[sửa | sửa mã nguồn]

Best American Roots Performance
Best American Roots Song
Best Americana Album
Best Bluegrass Album
Best Blues Album
Best Folk Album
Best Regional Music Album
  • The LegacyJo-El Sonnier
  • Light the Stars – Bonsoir, Catin
  • Hanu 'A'ala – Kamaka Kukona
  • Love's Lies – Magnolia Sisters
  • Ceremony – Joe Tohonnie Jr.

Reggae[sửa | sửa mã nguồn]

Best Reggae Album

World Music[sửa | sửa mã nguồn]

Best World Music Album

Children's[sửa | sửa mã nguồn]

Best Children's Album

Spoken Word[sửa | sửa mã nguồn]

Best Spoken Word Album (Includes Poetry, Audio Books and Story Telling)

Comedy[sửa | sửa mã nguồn]

Best Comedy Album

Musical Show[sửa | sửa mã nguồn]

Best Musical Theater Album

Music for Visual Media[sửa | sửa mã nguồn]

Best Compilation Soundtrack for Visual Media
Best Score Soundtrack for Visual Media
Best Song Written for Visual Media

Composing/Arranging[sửa | sửa mã nguồn]

Best Instrumental Composition
Best Arrangement, Instrumental or a Cappella
  • "Daft Punk"
  • "Beautiful Dreamer"
    • Pete McGuinness, arranger (The Pete McGuinness Jazz Orchestra)
  • "Get Smart"
    • Gordon Goodwin, arranger (Gordon Goodwin's Big Phat Band)
  • "Guantanamera"
    • Alfredo Rodríguez, arranger (Alfredo Rodríguez)
  • "Moon River"
    • Chris Walden, arranger (Amy Dickson)
Best Instrumental Arrangement Accompanying Vocalist(s)
  • "New York Tendaberry"
    • Billy Childs, arranger (Billy Childs hợp tác với Renée Fleming and Yo-Yo Ma)
  • "All My Tomorrows"
    • Jeremy Fox, arranger (Jeremy Fox hợp tác với Kate McGarry)
  • "Goodnight America"
    • Vince Mendoza, arranger (Mary Chapin Carpenter)
  • "Party Rockers"
    • Gordon Goodwin, arranger (Gordon Goodwin's Big Phat Band)
  • "What Are You Doing The Rest Of Your Life?"
    • Pete McGuinness, arranger (The Pete McGuinness Jazz Orchestra)

Crafts[sửa | sửa mã nguồn]

Best Recording Package
Best Boxed or Special Limited Edition Package
  • The Rise and Fall of Paramount Records, Volume One (1917–27)
    • Susan Archie, Dean Blackwood and Jack White, art directors (various artists)
  • Cities of Darkscorch
    • Leland Meiners and Ken Shipley, art directors (various artists)
  • A Letter Home (vinyl box set)
    • Gary Burden and Jenice Heo, art directors (Neil Young)
  • Sparks (deluxe album box set)
  • Spring 1990 (The Other One)
    • Jessica Dessner, Lisa Glines, Doran Tyson and Steve Vance, art directors (Grateful Dead)
Best Album Notes
  • Offering: Live At Temple University
    • Ashley Kahn, album notes writer (John Coltrane)
  • Happy: The 1920 Rainbo Orchestra Sides
    • David Sager, album notes writer (Isham Jones Rainbo Orchestra)
  • I'm Just Like You: Sly's Stone Flower 1969–70
    • Alec Palao, album notes writer (Various Artists)
  • The Other Side Of Bakersfield: 1950s & 60s Boppers and Rockers from 'Nashville West
    • Scott B. Bomar, album notes writer (Various Artists)
  • Purple Snow: Forecasting The Minneapolis Sound
    • Jon Kirby, album notes writer (Various Artists)
  • The Rise & Fall Of Paramount Records, Volume One (1917–27)
    • Scott Blackwood, album notes writer (Various Artists)
Best Historical Album
  • The Garden Spot Programs, 1950
    • Colin Escott and Cheryl Pawelski, compilation producers; Michael Graves, mastering engineer (Hank Williams)
  • Black Europe: The Sounds And Images Of Black People In Europe Pre-1927
    • Jeffrey Green, Ranier E. Lotz and Howard Rye, compilation producers; Christian Zwarg, mastering engineer (Various Artists)
  • Happy: The 1920 Rainbo Orchestra Sides
    • Meagan Hennessey and Richard Martin, compilation producers; Richard Martin, mastering engineer (Isham Jones Rainbo Orchestra)
  • Longing for the Past: The 78 RPM Era In Southeast Asia
    • Steven Lance Ledbetter and David Murray, compilation producers; Michael Graves, mastering engineer (Various Artists)
  • There's A Dream I've Been Saving: Lee Hazlewood Industries 1966 – 1971 (Deluxe Edition)
    • Hunter Lea, Patrick McCarthy and Matt Sullivan, compilation producers; John Baldwin, mastering engineer (Various Artists)

Production[sửa | sửa mã nguồn]

Best Engineered Album, Non-Classical
  • Morning Phase
    • Tom Elmhirst, David Greenbaum, Florian Lagatta, Cole Marsden, Greif Neill, Robbie Nelson, Darrell Thorp, Cassidy Turbin and Joe Visciano, engineers; Bob Ludwig, mastering engineer (Beck)
  • Bass & Mandolin
    • Richard King and Dave Sinko, engineers; Robert C. Ludwig, mastering engineer (Chris Thile and Edgar Meyer)
  • Bluesamericana
    • Ross Hogarth and Casey Wasner, engineers; Richard Dodd, mastering engineer (Keb' Mo')
  • The Way I'm Livin
    • Chuck Ainlay, engineer; Gavin Lurssen, mastering engineer (Lee Ann Womack)
  • What's Left Is Forever
    • Tchad Blake, Oyvind Jakobsen, Jo Ranheim, Itai Shapiro and David Way, engineers; Bernie Grundman, mastering engineer (Thomas Dybdahl)
Producer of the Year, Non-Classical
Best Remixed Recording, Non-Classical

Production, Surround Sound[sửa | sửa mã nguồn]

Best Surround Sound Album
  • Beyoncé
    • Elliot Scheiner, surround mix engineer; Bob Ludwig, surround mastering engineer; Beyoncé Knowles, surround producer (Beyoncé)
  • Beppe: Remote Galaxy
    • Morten Lindberg, surround mix engineer; Morten Lindberg, surround mastering engineer; Morten Lindberg, surround producer (Vladimir Ashkenazy and Philharmonia Orchestra)
  • Chamberland: The Berlin Remixes
    • David Miles Huber, surround mix engineer; David Miles Huber, surround mastering engineer; David Miles Huber, surround producer (David Miles Huber)
  • The Division Bell (20th Anniversary Deluxe Box Set)
    • Damon Iddins and Andy Jackson, surround mix engineers; Damon Iddins and Andy Jackson, surround mastering engineers (Pink Floyd)
  • Epics Of Love
    • Hans-Jörg Maucksch, surround mix engineer; Hans-Jörg Maucksch, surround mastering engineer; Günter Pauler, surround producer (Song Zuying, Yu Long and China Philharmonic Orchestra)
  • Mahler: Symphony No. 2 'Resurrection
    • Michael Bishop, surround mix engineer; Michael Bishop, surround mastering engineer; Elaine Martone, surround producer (Benjamin Zander and Philharmonia Orchestra)

Production, Classical[sửa | sửa mã nguồn]

Best Engineered Album, Classical
  • Vaughan Williams: Dona Nobis Pacem; Symphony No. 4; The Lark Ascending
    • Michael Bishop, engineer; Michael Bishop, mastering engineer (Robert Spano, Norman Mackenzie, Atlanta Symphony Orchestra and Chorus)
  • Adams, John: City Noir
    • Richard King, engineer; Wolfgang Schiefermair, mastering engineer (David Robertson and St. Louis Symphony)
  • Adams, John Luther: Become Ocean
    • Dmitriy Lipay and Nathaniel Reichman, engineers; Nathaniel Reichman, mastering engineer (Ludovic Morlot and Seattle Symphony)
  • Dutilleux: Symphony No. 1; Tout Un Monde Lointain; The Shadows Of Time
    • Dmitriy Lipay, engineer; Dmitriy Lipay, mastering engineer (Ludovic Morlot and Seattle Symphony)
  • Riccardo Muti Conducts Mason Bates and Anna Clyne
    • David Frost and Christopher Willis, engineers; Tim Martyn, mastering engineer (Riccardo Muti and Chicago Symphony Orchestra)
Producer of the Year, Classical
  • Judith Sherman
    • Beethoven: Cello and Piano Complete (Fischer Duo)
    • Brahms By Heart (Chiara String Quartet)
    • Composing America (Lark Quartet)
    • Divergence (Plattform K + K Vienna)
    • The Good Song (Thomas Meglioranza)
    • Mozart and Brahms: Clarinet Quintets (Anthony McGill and Pacifica Quartet)
    • Snapshot (American Brass Quintet)
    • Two X Four (Jaime Laredo, Jennifer Koh, Vinay Parameswaran and Curtis 20/21 Ensemble)
    • Wagner Without Words (Llŷr Williams)
  • Morten Lindberg
    • Beppe: Remote Galaxy (Vladimir Ashkenazy and Philharmonia Orchestra)
    • Dyrud: Out Of Darkness (Vivianne Sydnes and Nidaros Cathedral Choir)
    • Ja, Vi Elsker (Tone Bianca Sparre Dahl, Ingar Bergby, Staff Band Of The Norwegian Armed Forces and Schola Cantorum)
    • Symphonies Of Wind Instruments (Ingar Bergby & Royal Norwegian Navy Band)
  • Dmitriy Lipay
    • Adams, John Luther: Become Ocean (Ludovic Morlot and Seattle Symphony)
    • Dutilleux: Symphony No. 1; Tout Un Monde Lointain; The Shadows of Time (Ludovic Morlot and Seattle Symphony)
    • Fauré: Masques Et Bergamasques; Pelléas Et Mélisande; Dolly (Ludovic Morlot, Seattle Symphony Chorale and Seattle Symphony)
    • Hindemith: Nobilissima Visione; Five Pieces For String Orchestra (Gerard Schwarz and Seattle Symphony)
    • Ives: Symphony No. 2; Carter: Instances; Gershwin: An American In Paris (Ludovic Morlot and Seattle Symphony)
    • Ravel: Orchestral Works; Saint-Saëns: Organ Symphony (Ludovic Morlot and Seattle Symphony)
  • Elaine Martone
    • Hallowed Ground (Louis Langrée, Maya Angelou, Nathan Wyatt and Cincinnati Symphony Orchestra)
    • Mahler: Symphony No. 2 'Resurrection (Benjamin Zander, Stefan Bevier, Philharmonia Chorus and Orchestra)
    • Sibelius: Symphonies Nos. 6 and 7; Tapiola (Robert Spano and Atlanta Symphony Orchestra)
    • Vaughan Williams: Dona Nobis Pacem; Symphony No. 4; The Lark Ascending (Robert Spano, Norman Mackenzie, Atlanta Symphony Orchestra and Chorus)
  • David Starobin
    • All The Things You Are (Leon Fleisher)
    • Complete Crumb Edition, Vol. 16 (Ann Crumb, Patrick Mason, James Freeman and Orchestra 2001)
    • Game of Attrition – Arlene Sierra, Vol. 2 (Jac Van Steen and BBC National Orchestra of Wales)
    • Haydn, Beethoven and Schubert (Gilbert Kalish)
    • Mozart: Piano Concertos, No. 12, K. 414 and No. 23, K. 488 (Marianna Shirinyan, Scott Yoo and Odense Symphony Orchestra)
    • Music Of Peter Lieberson, Vol. 3 (Scott Yoo, Roberto Diaz, Steven Beck and Odense Symphony Orchestra)
    • Rochberg, Chihara and Rorem (Jerome Lowenthal)
    • Tchaikovsky: The Tempest, Op. 18 and Piano Concerto No. 1, Op. 23 (Joyce Yang, Alexander Lazarev and Odense Symphony Orchestra)

Classical[sửa | sửa mã nguồn]

Best Orchestral Performance
Best Opera Recording
Best Choral Performance

Performers who are not eligible for an award (such as orchestras, soloists or choirs) are mentioned in parentheses

  • The Sacred Spirit of Russia
  • Bach: Matthäus-Passion
    • René Jacobs, conductor (Werner Güra and Johannes Weisser; Akademie Für Alte Musik Berlin; Rias Kammerchor and Staats-Und Domchor Berlin)
  • Dyrud: Out of Darkness
    • Vivianne Sydnes, conductor (Erlend Aagaard Nilsen and Geir Morten Øien; Sarah Head and Lars Sitter; Nidaros Cathedral Choir)
  • Holst: First Choral Symphony; The Mystic Trumpeter
  • Mozart: Requiem Mass in D minor
    • John Butt (musician), conductor (Matthew Brook, Rowan Hellier, Thomas Hobbs and Joanne Lunn; Dunedin Consort)
Best Chamber Music/Small Ensemble Performance
Best Classical Instrumental Solo
Best Classical Solo Vocal Album
Best Classical Compendium
Best Contemporary Classical Composition
  • Adams, John Luther: Become Ocean
  • Clyne, Anna: Prince of Clouds
    • Anna Clyne, composer (Jaime Laredo, Jennifer Koh, Vinay Parameswaran and Curtis 20/21 Ensemble)
  • Crumb, George: Voices From The Heartland
    • George Crumb, composer (Ann Crumb, Patrick Mason, James Freeman and Orchestra 2001)
  • Paulus, Stephen: Concerto for Two Trumpets and Band
    • Stephen Paulus, composer (Eric Berlin, Richard Kelley, James Patrick Miller and UMASS Wind Ensemble)
  • Sierra, Roberto: Sinfonía No. 4
    • Roberto Sierra, composer (Giancarlo Guerrero and Nashville Symphony)

Music Video/Film[sửa | sửa mã nguồn]

Best Music Video
  • "Happy" – Pharrell Williams
    • We Are From LA, video director; Kathleen Heffernan, Solal Micenmacher, Jett Steiger and Cedric Troadec, video producers
  • "We Exist" – Arcade Fire
    • David Wilson, video director; Sue Yeon Ahn and Jason Baum, video producers
  • "Turn Down for What" – DJ SnakeLil Jon
    • Daniel Kwan and Daniel Scheinert, video directors; Judy Craig, Jonathan Wang, Candance Ouaknine and Bryan Younce, video producers
  • "Chandelier" – Sia
    • Sia Furler and Daniel Askill, video directors; Jennifer Heath and Jack Hogan, video producers
  • "The Golden Age" – Woodkid hợp tác với Max Richter
    • Yoann Lemoine, video director; Kathleen Heffernan, Roman Pichon Herrera, Christine Miller and Annabel Rosier, video producers
Best Music Film

Danh sách đề cử và giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Đề cử

Ba lần:

Hai lần:

Giải thưởng:

Tập tin:Sam Smith Grammy Award.jpg
Đây là hình ảnh Sam Smith tại lễ trao giải Grammy lần thứ 57 sau khi thắng 4 giải trong 6 lần đề cử.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Michael O'Connell (ngày 9 tháng 2 năm 2015). “TV Ratings: Grammy Awards Lose 3 Million Viewers From Last Year”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2015. 
  2. ^ “Grammys: LL Cool J To Host for Fourth Year in a Row”. The Hollywood Reporter. Ngày 21 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2015. 
  3. ^ [1]
  4. ^ “Taylor Swift - Grammy Talk”. tumblr.com. 
  5. ^ Lewis, Hilary (ngày 8 tháng 2 năm 2015). “Grammys: Ariana Grande Performs "Just a Little Bit of Your Heart". The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2015. 
  6. ^ “Meghan Trainor on Twitter”. Twitter. 
  7. ^ “Nick Jonas Will Present at GRAMMYs This Sunday!”. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2015. 
  8. ^ Washington, Arlene (ngày 9 tháng 2 năm 2015). “Grammys 2015: Juanes Performs "Juntos". The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2015. 
  9. ^ “Ryan Seacrest - Details on Beyonce’s Grammy Performance, Who Will Introduce Her -”. Ryan Seacrest. 
  10. ^ “Grammy Awards 2015: The Complete Winners List”. Rolling Stone.