Bước tới nội dung

Giải bóng chuyền nữ FIVB Nations League

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Giải bóng chuyền nữ FIVB Nations League
Mùa giải hiện tại:
Sự kiện thể thao đang diễn ra Giải bóng chuyền nữ FIVB Nations League VNL 2026
Môn thể thaoVolleyball
Thành lập2017; 9 năm trước (2017)
Mùa giải đầu tiên2018
CEOAry Graça
Số đội18
Liên đoàn châu lụcQuốc tế (FIVB)
Đương kim vô địch Ý
(lần thứ 3)
Đội vô địch nhiều nhất Ý
 Hoa Kỳ
(3 lần)
Xuống hạngChallenger Cup (2018-2024)
WebsiteVolleyball Nations League

Giải bóng chuyền nữ FIVB Nations League là một giải bóng chuyền quốc tế [1] do Liên đoàn bóng chuyền quốc tế (FIVB), cơ quan quản lý toàn cầu của môn bóng chuyền tổ chức. Giải đấu có sự tham dự của các đội tuyển nữ quốc gia hàng đầu thế giới và là thành viên của FIVB. Giải đấu đầu tiên diễn ra từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2018, với vòng chung kết diễn ra tại Nam Kinh, Trung Quốc. Hoa Kỳ đã giành chiến thắng trong lần đầu tiên sau khi đánh bại Thổ Nhĩ Kỳ trong trận chung kết.

Vào tháng 7 năm 2018, FIVB thông báo rằng Trung Quốc sẽ đăng cai ba kỳ tiếp theo của vòng chung kết của giải đấu này, từ năm 2019–2021‌. Tuy nhiên, vào ngày 13 tháng 3 năm 2020, FIVB đã quyết định hoãn giải đấu này, dự kiến tổ chức sau Thế vận hội mùa hè 2020 do đại dịch COVID-19.[2] Cuối cùng, FIVB đã hủy bỏ giải đấu năm 2020 và xác nhận Ý là nước chủ nhà của vòng chung kết năm 2021.

Vào tháng 2 năm 2024, FIVB thông báo rằng giải đấu sẽ được mở rộng lên 18 đội kể từ năm 2025. Đồng thời, giải đấu cũng xóa bỏ thể thức thi đấu và xếp hạng cũ, với việc phân chia các đội cố định và các đội thử thách.

Việc thành lập giải đấu được công bố vào tháng 10 năm 2017 (cùng với thông báo về Challenger Cup) là một dự án chung của FIVB, IMG và 21 liên đoàn quốc gia.[3] Sự ra đời của giải đấu này đã thay thế giải đấu World Grand Prix, một sự kiện bóng chuyền quốc tế hàng năm từng diễn ra từ năm 1993 đến năm 2017 dành cho các đội tuyển quốc gia nữ.

Lịch sử giải đấu

[sửa | sửa mã nguồn]

Thông tin ban đầu

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 6 năm 2017, trang web Voley Plus của Argentina đưa tin rằng FIVB sẽ thay đổi thể thức thi đấu cho 2 giải đấu hàng năm của liên đoàn, đó là giải World League và World Grand Prix. Theo đó, bắt đầu từ năm 2018, World League và World Grand Prix sẽ chỉ có một bảng đấu duy nhất (không còn chia các nhóm 1, 2 và 3), bao gồm 16 đội tuyển quốc gia.[4] [5]

Vào tháng 10 năm 2017, FIVB đã công bố, thông qua một thông cáo báo chí, về việc thành lập giải đấu Nations League, xác nhận các giải đấu này sẽ thay thế cho giải World League và World Grand Prix. [3]

Tiếp thị

[sửa | sửa mã nguồn]

Liên đoàn bóng chuyền quốc tế đã hợp tác với công ty thiết kế và chiến lược thương hiệu toàn cầu Landor Associates để tạo ra thương hiệu Volleyball Nations League. Landor cũng đã đóng góp đồ họa truyền hình trong sân vận động và trên màn hình, đồng phục nhân viên, thiết kế cho ứng dụng và wesbite Volleyball World, huy chương và cúp chiến thắng. [6] [7]

Phát triển kỹ thuật số

[sửa | sửa mã nguồn]

Microsoft, công ty công nghệ đa quốc gia, đã ký một thỏa thuận với FIVB rằng liên đoàn quốc tế này cam kết sẽ thay đổi cách thức phân phối hình ảnh môn bóng chuyền, đồng thời nâng cao trải nghiệm của người xem trong những ngày diễn ra trận đấu cũng như trong không gian kỹ thuật số. [8] Theo thỏa thuận hợp tác này, 'Nền tảng kỹ thuật số thể thao Microsoft' đã được tạo ra để tạo ra các dịch vụ kỹ thuật số mới và cung cấp nội dung được cá nhân hóa theo yêu cầu nhằm thúc đẩy lượng khán giả toàn cầu của FIVB và cải thiện sự tương tác của người hâm mộ. [9]

Tiền thưởng

[sửa | sửa mã nguồn]

Theo FIVB, tiền thưởng cho cả giải đấu của nam và nữ là như nhau theo chính sách bình đẳng giới của FIVB.

Giải thưởng đồng đội

[sửa | sửa mã nguồn]

Ở vòng loại, đội chiến thắng được thưởng 9.500 đô la Mỹ cho mỗi chiến thắng và đội thua cuộc được thưởng 4.250 đô la Mỹ. [10]

Tiền thưởng được phân bổ cho các đội dựa trên vị trí xếp hạng của các đội trong vòng chung kết

  • Quán quân: 1.000.000 đô la Mỹ
  • Á quân: 500.000 đô la Mỹ
  • Hạng 3: 300.000 đô la Mỹ
  • Hạng 4: 180.000 đô la Mỹ
  • Hạng 5: 130.000 đô la Mỹ
  • Hạng 6: 85.000 đô la Mỹ
  • Hạng 7: 65.000 đô la Mỹ
  • Hạng 8: 40.000 đô la Mỹ

Giải thưởng Fair Play: Việc các vận động viên thừa nhận lỗi trước khi Video Challenge sẽ được ghi nhận để tránh lãng phí thời gian, trong trường hợp này, thẻ xanh sẽ được trao. Đội có nhiều thẻ xanh nhất sẽ nhận được giải thưởng tiền mặt trị giá 30.000 đô la. Trong trường hợp có nhiều đội có cùng số lượng thẻ xanh, đội có thứ hạng cao nhất sẽ được trao giải.

Giải thưởng cá nhân

[sửa | sửa mã nguồn]

Những cầu thủ được chọn vào Đội hình tiêu biểu của giải đấu sẽ nhận được 10.000 đô la Mỹ, trong khi Vận động viên xuất sắc nhất (MVP) sẽ được trao 30.000 đô la Mỹ. [11]

Hiệu suất thị trường

[sửa | sửa mã nguồn]

FIVB thông báo rằng giải đấu năm 2019 đã thu hút tổng cộng hơn 1,5 tỷ khán giả trên toàn thế giới. Con số này tăng 200 triệu so với năm 2018. Tổng cộng, hơn 600.000 vé đã được bán ra trong năm 2019. [12]

Thể thức thi đấu

[sửa | sửa mã nguồn]

Thể thức thi đấu ban đầu

[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như World Grand Prix trước đây, giải đấu được chia thành hai giai đoạn, mặc dù có những thay đổi trong thể thức thi đấu: vòng loại, với hệ thống các thành phố đăng cai luân phiên, và vòng chung kết diễn ra tại một thành phố đăng cai đã được lựa chọn trước.

Vòng loại diễn ra trong năm tuần, nhiều hơn 2 tuần so với thể thức của World Grand Prix. 16 đội tuyển sẽ được chia thành các bảng đấu. Mỗi tuần, mỗi đội tuyển sẽ thi đấu các trận với đội tuyển khác nhau trong cùng bảng đấu đó. Tất cả các trận đấu thuộc cùng một bảng đấu đều diễn ra tại một địa điểm.

Sau khi tất cả các trận đấu vòng loại đã diễn ra, năm đội đứng đầu bảng xếp hạng chung cuộc sẽ giành quyền vào vòng chung kết cùng với một suất dành cho nước chủ nhà. [13]

Tại giải đấu đầu tiên năm 2018, có 16 đội tuyển tranh tài, bao gồm 12 đội cố định, luôn đủ điều kiện tham gia, và 4 đội thử thách, có thể phải xuống hạng. [13]

  • Vòng loại

16 đội thi đấu vòng tròn tính điểm, trong đó mỗi đội chủ nhà sẽ đăng cai ít nhất một bảng đấu. Các đội được chia thành 4 bảng, mỗi bảng 4 đội, mỗi tuần và thi đấu trong năm tuần, với tổng cộng 120 trận đấu. Năm đội đứng đầu sau vòng đấu vòng tròn tính điểm sẽ cùng đội chủ nhà vào vòng chung kết. [13]

Đội xuống hạng sẽ là đội tuyển có thứ hạng thấp nhất ở vòng loại trong số các đội thử thách. Trong khi đó, quán quân Challenger Cup cùng năm sẽ điều kiện tham gia giải đấu năm tiếp theo với tư cách là một đội thử thách. [14] [15]

  • Vòng chung kết

Sáu đội vào vòng chung kết sẽ chia thành 2 bảng, mỗi bảng 3 đội theo thể thức vòng tròn một lượt. 2 đội đứng đầu mỗi bảng sẽ giành quyền vào bán kết. Các trận bán kết được diễn ra với thể thức đấu chéo đội đứng thứ nhất với đội đứng thứ hai ở mỗi bảng. Những người chiến thắng ở vòng bán kết sẽ tiến tới tranh chức vô địch Nations League. [13]

Thể thức thi đấu thay đổi lần 1

[sửa | sửa mã nguồn]

Thể thức 16 đội có sự thay đổi từ năm 2022. Toàn bộ giải đấu vẫn được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn vòng bảng và vòng chung kết. [16]

  • Vòng bảng

16 đội sẽ được chia thành 2 bảng, mỗi bảng có 8 đội. Mỗi đội sẽ thi đấu 12 trận trong ba tuần của vòng bảng. Mỗi đội tuyển sẽ thi đấu 4 trận đấu với các đội tuyển khác nhau ở mỗi tuần. Sẽ có 1 tuần nghỉ giữa 2 tuần vòng bảng. Tổng số trận đấu ở vòng bảng sẽ là 96. Như vậy, tổng cộng mỗi đội tuyển sẽ thi đấu 12 trận vòng bảng.

  • Vòng chung kết

Vòng chung kết có sự tham gia của 7 đội tuyển có thứ hạng cao nhất tại vòng bảng cùng với đội chủ nhà. Vòng chung kết có tổng cộng tám trận đấu: bốn trận tứ kết, hai trận bán kết và các trận tranh huy chương đồng và huy chương vàng. Tổng số trận đấu ở vòng chung kết sẽ là 8.

Thể thức thi đấu mới từ năm 2025

[sửa | sửa mã nguồn]

Giải đấu được mở rộng lên 18 đội từ năm 2025 cùng với những thay đổi về thể thức nhằm nâng cao chất lượng giải đấu.

Trước đó, để phù hợp với thể thức năm 2025, giải đấu năm 2024 sẽ không có đội xuống hạng. 16 đội tuyển của năm 2024 cùng với nhà vô địch Challenger Cup năm 2024 và đội tuyển có thứ hạng cao nhất trên bảng xếp hạng FIVB mà không tham gia giải đấu năm 2024 sẽ tranh tài ở giải đấu năm 2025.

Kể từ năm 2025, giải đấu xóa bỏ việc phân chia đội cố định và đội thử thách. Giải đấu vẫn giữ nguyên thể thức thi đấu cho mỗi đội tuyển gồm 3 tuần đấu, mỗi tuần đấu 4 trận. Tuy nhiên, với 18 đội tuyển, mỗi tuần đấu sẽ có 3 bảng, mỗi bảng 6 đội. Đội tuyển có thứ hạng thấp nhất sau vòng bảng sẽ phải rời giải đấu. Thay thế cho đội rời giải đấu vào năm kế tiếp là đội có thứ hạng cao nhất trên bảng xếp hạng FIVB tính đến cuối mùa giải đội tuyển quốc gia mà không tham gia giải đấu vào năm nay.[17]

Challenger Cup

[sửa | sửa mã nguồn]

Trước năm 2024, FIVB Volleyball Challenger Cup là cuộc thi dành cho các đội tuyển quốc gia diễn ra đồng thời với Volleyball Nations League. Challenger Cup bao gồm những đội không tham gia giải đấu hiện tại của Nations League nhằm lựa chọn một đội tuyển tham dự giải đấu vào năm kế tiếp. Giải đấu bao gồm một đội chủ nhà, đội có thứ hạng thấp nhất tại Nations League cùng năm và 4 hoặc 6 đội tuyển hàng đầu tại các liên đoàn châu lục không tham dự Natiosn League năm đó, được lựa chọn thông qua bảng xếp hạng FIVB hoặc các giải đấu của liên đoàn châu lục.[14]

Tuy nhiên, kể từ năm 2025, thể thức thi đấu của Nations League thay đổi khi chọn đội tuyển có thứ hạng cao nhất trên bảng xếp hạng FIVB không tham gia giải đấu của năm đó để thay thế cho đội xuống hạng vào năm sau. Do đó, giải đấu chính thức bị hủy bỏ.[18]

Chủ nhà

[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ nhà vòng chung kết

[sửa | sửa mã nguồn]
Số lần Chủ nhà Năm
3  Trung Quốc 2018, 2019, 2026
1  Ý 2021
 Thổ Nhĩ Kỳ 2022
 Hoa Kỳ 2023
 Thái Lan 2024
 Ba Lan 2025

Chủ nhà vòng bảng

[sửa | sửa mã nguồn]
Quốc gia Số lần Thành phố Năm
 Trung Quốc 15 Bắc Kinh 2025
Giang Môn 2018, 2019
 Hồng Kông 2018, 2019, 2023, 2024, 2025, 2026
 Ma Cao 2018, 2019, 2024
Nam Kinh 2026
Ninh Ba 2018, 2019
 Thổ Nhĩ Kỳ 8 Ankara 2018, 2019 (x2), 2022, 2026
Antalya 2023, 2024
Istanbul 2025
 Brasil 7 Barueri 2018
Brasília 2019, 2022, 2023, 2026
Rio de Janeiro 2024, 2025
 Nhật Bản 6 Chiba 2025
Fukuoka 2024
Nagoya 2023
Osaka 2026
Tokyo 2019
Toyota 2018
 Hoa Kỳ 5 Arlington, Texas 2024, 2025
Bossier City 2022
Lincoln 2018, 2019
 Thái Lan 5 Băng Cốc 2018, 2019, 2023, 2026
Nakhon Ratchasima 2018
 Ý 4 Conegliano 2019
Eboli 2018
Perugia 2019
Rimini 2021[19]
 Hà Lan 4 Apeldoorn 2018, 2019, 2025
Rotterdam 2018
 Serbia 4 Belgrade 2019, 2025, 2026
Kraljevo 2018
 Ba Lan 3 Bydgoszcz 2018
Opole 2019
Wałbrzych 2018
 Hàn Quốc 3 Boryeong 2019
Suwon 2018, 2023
 Canada 3 Calgary 2022
Ottawa 2025
Quebec 2026
 Bulgaria 2 Ruse 2019
Sofia 2022
 Đức 2 Stuttgart 2018, 2019
 Nga 2 Yekaterinburg 2018, 2019
 Philippines 2 Pasig 2026
Quezon 2022
 Argentina 1 Santa Fe 2018
 Bỉ 1 Kortrijk 2019

Các đội tuyển tham dự

[sửa | sửa mã nguồn]
Đội tuyển Vòng bảng Vòng chung kết Tư cách (2018-2024)
Số lần Đầu tiên Gần nhất Số lần Đầu tiên Gần nhất
 Argentina 1 2018 2018 Đội thử thách
 Bỉ 6 2018 2026 Đội thử thách
 Brasil 8 2018 2026 7 2018 2025 Đội cố định
 Bulgaria 6 2019 2026 Đội thử thách
 Canada 6 2021 2026 Đội thử thách
 Trung Quốc 8 2018 2026 6 2018 2025 Đội cố định
 Croatia 1 2023 2023 Đội thử thách
 Séc 2 2025 2026
 Cộng hòa Dominica 8 2018 2026 Đội thử thách
 Pháp 3 2024 2026 Đội thử thách
 Đức 8 2018 2026 2 2023 2025 Đội cố định
 Ý 8 2018 2026 5 2019 2025 Đội cố định
 Nhật Bản 8 2018 2026 5 2021 2025 Đội cố định
 Hà Lan 8 2018 2026 1 2018 2018 Đội cố định
 Ba Lan 8 2018 2026 4 2019 2025 Đội thử thách
 Nga 3 2018 2021 Đội cố định
 Serbia 8 2018 2026 2 2018 2022 Đội cố định
 Hàn Quốc 7 2018 2025 Đội cố định
 Thái Lan 8 2018 2026 2 2022 2024 Đội cố định
 Thổ Nhĩ Kỳ 8 2018 2026 7 2018 2025 Đội cố định
 Ukraina 1 2026 2026
 Hoa Kỳ 8 2018 2026 7 2018 2025 Đội cố định

Kết quả thi đấu

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Chủ nhà vòng chung kết Chung kết Tranh hạng 3 Số đội (Vòng loại/Vòng chung kết)
Vô địch Tỷ số Á quân Hạng 3 Tỷ số Hạng 4
2018 Trung Quốc
Nam Kinh

Hoa Kỳ
3–2
Thổ Nhĩ Kỳ

Trung Quốc
3–0
Brasil
16 / 6
2019 Trung Quốc
Nam Kinh

Hoa Kỳ
3–2
Brasil

Trung Quốc
3–1
Thổ Nhĩ Kỳ
16 / 6
2020 Trung Quốc
Nam Kinh
Hủy vì dịch COVID-19
2021 Ý
Rimini

Hoa Kỳ
3–1
Brasil

Thổ Nhĩ Kỳ
3–0
Nhật Bản
16 / 4
2022 Thổ Nhĩ Kỳ
Ankara

Ý
3–0
Brasil

Serbia
3–0
Thổ Nhĩ Kỳ
16 / 8
2023 Hoa Kỳ
Arlington

Thổ Nhĩ Kỳ
3–1
Trung Quốc

Ba Lan
3–2
Hoa Kỳ
16 / 8
2024 Thái Lan
Băng Cốc

Ý
3–1
Nhật Bản

Ba Lan
3–2
Brasil
16 / 8
2025 Ba Lan
Łódź

Ý
3–1
Brasil

Ba Lan
3–1
Nhật Bản
18 / 8
2026 Trung Quốc/Ma Cao
Ma Cao

Bảng tổng sắp huy chương

[sửa | sửa mã nguồn]
HạngĐoànVàngBạcĐồngTổng số
1 Hoa Kỳ3003
 Ý3003
3 Thổ Nhĩ Kỳ1113
4 Brasil0404
5 Trung Quốc0123
6 Nhật Bản0101
7 Ba Lan0033
8 Serbia0011
Tổng số (8 đơn vị)77721

Cầu thủ suất sắc nhất giải đấu (MVP)

[sửa | sửa mã nguồn]

Thành tích của các đội tuyển

[sửa | sửa mã nguồn]
Đội tuyển 2018 2019 2021 2022 2023 2024 2025 2026 Số lần
 Argentina 16th 1
 Bỉ 13th 7th 9th 15th 14th Q 6
 Brasil 4th 2nd 2nd 2nd 5th 4th 2nd Q 8
 Bulgaria 16th 14th 13th 16th 13th Q 6
 Canada 14th 12th 10th 10th 16th Q 6
 Trung Quốc 3rd 3rd 5th 6th 2nd 5th 5th Q 8
 Croatia 15th 1
 Séc 11th Q 2
 Cộng hòa Dominica 14th 8th 6th 9th 11th 11th 12th Q 8
 Pháp 14th 9th Q 3
 Đức 11th 10th 10th 10th 8th 13th 7th Q 8
 Ý 7th 5th 12th 1st 6th 1st 1st Q 8
 Nhật Bản 10th 9th 4th 7th 7th 2nd 4th Q 8
 Hà Lan 5th 11th 7th 11th 12th 9th 10th Q 8
 Ba Lan 9th 5th 11th 13th 3rd 3rd 3rd Q 8
 Nga 8th 14th 8th 3
 Serbia 5th 13th 13th 3rd 9th 12th 15th Q 8
 Hàn Quốc 12th 15th 15th 16th 16th 15th 18th 7
 Thái Lan 15th 12th 16th 8th 14th 8th 17th Q 8
 Thổ Nhĩ Kỳ 2nd 4th 3rd 4th 1st 6th 6th Q 8
 Ukraina Q 1
 Hoa Kỳ 1st 1st 1st 5th 4th 7th 8th Q 8

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. Renato Marques (ngày 11 tháng 3 năm 2020). "Women's Volleyball going ahead but FIVB does not rule out changes". Macau Daily Times. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2021.
  2. "FIVB announces changes to events calendar". FIVB. ngày 13 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2020.
  3. 1 2 "FIVB announces the Volleyball Nations League". FIVB.org. ngày 12 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2018.
  4. "FIVB drastically changes format for 2018 World League and Grand Prix, Italy remain member of elite!". WorldofVolley. ngày 19 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2018.
  5. "¡Qué bombazo!: La World League y el Grand Prix van a cambiar y Argentina será beneficiada" (bằng tiếng Tây Ban Nha). Voley Plus. ngày 16 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2018.
  6. "Landor partners with FIVB to launch Volleyball Nations League". Landor Associates. ngày 7 tháng 5 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2018.
  7. "Landor partners with FIVB for Volleyball Nations League". FIVB. ngày 7 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2018.
  8. "FIVB Partners with Microsoft, Changing the Way Fans Consume Volleyball". Around the Rings (ATR). ngày 15 tháng 5 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2021.
  9. "FIVB partners with Microsoft, changing the way fans consume Volleyball". Microsoft. ngày 18 tháng 5 năm 2018.
  10. "Volleyball Nations League Press Kit" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 5 tháng 6 năm 2023.
  11. "FIVB reveals prize money for 2018 Volleyball Nations League". wov.its4test.com (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2019.
  12. "VNL2019 – News detail – 1.5 billion global audience tune in to watch 2019 VNL – FIVB Volleyball Nations League 2019". www.volleyball.world. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2019.
  13. 1 2 3 4 "Pools overview released for thrilling inaugural season of VNL". FIVB.org. ngày 16 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2018.
  14. 1 2 "Volleyball Challenger Cup battle begins in Peru for one ticket to 2019 Women's VNL". FIVB.org. ngày 19 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2018.
  15. "Events: Fivb Volleyball Nations League | Sears Centre Arena". Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2018.
  16. "New Volleyball Nations League format announced".
  17. "VNL to expand to 18 teams from 2025 onwards". FIVB. ngày 13 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2024.
  18. "VNL Qualification System". volleyballworld.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2022.
  19. Toàn bộ các trận đấu của năm 2021 được diễn ra tại đây

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]