Giải phẫu học

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Giải phẫu)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Một bức vẽ giải phẫu chi tiết trong cuốn De humani corporis fabrica của Andreas Vesalius, vào thế kỷ XVI. Cuốn sách đã đánh dấu sự ra đời của bộ môn giải phẫu học.

Giải phẫu học (Tiếng Anh: anatomy, lấy từ chữ Hy Lạp là anatomē, nghĩa là "mổ xẻ") là một trong các phân ngành của sinh học, liên quan đến nghiên cứu hình thái và cấu tạp của cơ thể sinh vật.[1] Giải phẫu học cũng là một nhánh trong khoa học tự nhiên mà đi sâu vào tổ chức cấu trúc trong các sinh vật sống. Đây là một bộ môn khoa học lâu đời, với nguồn gốc có từ tận thời Tiền sử.[2] Phân ngành này vốn gắn liền với các ngành khác như sinh học phát triển, phôi học, giải phẫu so sánh, sinh học tiến hóaphát sinh chủng loại học,[3] vì thông qua giải phẫu, ta có thể quan sát những biến đổi về cấu trúc trong một khoảng thời gian ngắn (như sự phát triển của phôi) hoặc rất dài (như trong tiến hóa). Trong khi giải phẫu học nghiên cứu về cấu trúc thì sinh lý học nghiên cứu về chức năng của sinh vật cũng như các cơ quan, vì vậy, hai bộ môn này tạo thành một cặp liên ngành trong khoa học tự nhiên và thường được nghiên cứu cùng nhau. Giải phẫu người là một trong những ngành khoa học cơ bản thiết yếu được áp dụng trong y học.[4]

Các ngành của giải phẫu có thể được chia thành giải phẫu vĩ môgiải phẫu vi mô. Giải phẫu vĩ mô, hay giải phẫu thô, là nghiên cứu các bộ phận cơ thể của động vật chỉ với mắt thường. Giải phẫu vĩ mô cũng bao gồm các nhánh của giải phẫu bề ngoài. Giải phẫu vi mô, hay giải phẫu hiển vi, lại sử dụng các dụng cụ quang học hỗ trợ để nghiên cứu các mô từ các cấu trúc khác nhau, được gọi là mô học, và cả trong nghiên cứu tế bào.

Lịch sử của giải phẫu học được đặc trưng bởi sự hiểu biết ngày càng tiến bộ về cấu trúc và chức năng của các cơ quan trên cơ thể con người. Các phương pháp sử dụng để giải phẫu cũng có những bước tiến đáng kể: từ chỉ mổ xẻ thô xác động vật, ngày nay, ta sử dụng các kỹ thuật hình ảnh y học tiên tiến như X-quang, siêu âmchụp cộng hưởng từ để nghiên cứu.

Định nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh giải phẫu người, vẽ bởi Charles Landseer

Từ "anatomy" (giải phẫu) trong tiếng Anh có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp anatomē nghĩa là "mổ xẻ". Về từ nguyên, ἀνατέμνω (anatémnō, nghĩa là "Tôi cắt tách và mở ra"), trong đó ἀνά (aná, "tách"), và τέμνω (témnō, "tôi cắt").[5][6] Giải phẫu học là bộ môn nghiên cứu khoa học về các hệ thống, cơ quan và của sinh vật. Điều này bao gồm cả mô tả về hình dạng và vị trí của các bộ phận khác nhau, "thành phần" cấu tạo nên bộ phận đó cũng như mối quan hệ giữa các bộ phận đó với các bộ phận khác. Giải phẫu là bộ môn khá đặc thù nếu so sánh với sinh lý họchóa sinh, là hai bộ môn lần lượt nghiên cứu về chức năng cũng như các quá trình hóa học của một bộ phận nào đó. Ví dụ, một nhà giải phẫu sẽ quan tâm đến hình dạng, kích thước, vị trí, cấu trúc, nguồn cung máu và các dây thần kinh của một cơ quan, chẳng hạn như gan; trong khi đó, một nhà sinh lý học lại quan tâm đến việc tiết mật, vai trò của gan trong dinh dưỡng và điều hòa các chức năng cơ thể.[7]

Giải phẫu học được chia thành một số phân ngành nhỏ hơn như giải phẫu vĩ mô (giải phẫu thô) và giải phẫu vi mô (giải phẫu hiển vi).[8] Giải phẫu vĩ mô nghiên cứu về các cấu trúc đủ lớn để có thể thấy bằng mắt thường. Giải phẫu bề mặt cũng được xếp vào giải phẫu vĩ mô, phân ngành này chuyên nghiên cứu các đặc điểm cơ thể có thể nhìn thấy ở bên ngoài mà không mổ vào bên trong. Giải phẫu vi mô (bộ môn mô - phôi) là nghiên cứu về các cấu trúc ở cấp độ hiển vi. Mô học (nghiên cứu về mô) và phôi học (nghiên cứu về phôi) cũng được xếp vào nhóm ngành này.[3]

Giải phẫu có thể được nghiên cứu bằng cả phương pháp xâm lấn và không xâm lấn với mục đích là thu được thông tin về cấu trúc và tổ chức của các cơ quan và hệ thống.[3] Phương pháp được sử dụng có thể kể đến như giải phẫu (hay mổ xẻ), tức là ta sẽ "mở" cơ thể sinh vật và nghiên cứu các cơ quan. Một phương pháp khác là nội soi, sử dụng một dụng cụ có gắn máy quay và đưa vào cơ thể qua một vết mổ nhỏ, những hình ảnh thu được sẽ cho ta thông tin về các cơ quan nội tạng cũng như các cấu trúc khác. Chụp động mạch bằng tia X hoặc chụp mạch cộng hưởng từ là phương pháp để thu được hình ảnh cho các mạch máu.[9][10][11][12]

Thuật ngữ "giải phẫu" thường được dùng để chỉ giải phẫu người. Tuy nhiên, về cơ bản thì các loài khác trong giới Động vật cũng có các cấu trúc và mô tương tự như chúng ta, vì vậy, "giải phẫu" còn có thể muốn đề cập đến giải phẫu các loài động vật nói chung. Thuật ngữ "giải phẫu động vật" (zootomy) đôi khi cũng được sử dụng để chỉ riêng việc giải phẫu các động vật không phải người. Cấu trúc và mô của thực vật có bản chất không giống như động vật và chúng được nghiên cứu trong bộ môn khác là giải phẫu thực vật.[7]

Mô động vật[sửa | sửa mã nguồn]

Thiết đồ cắt của một tế bào động vật (chứa lông roi)

Giới Động vật gồm các sinh vật đa bào, sống dị dưỡng và có thể vận động (dù trong tiến hóa, một số loài đã không còn khả năng này, chẳng hạn như san hô). Hầu hết các động vật có cơ thể được biệt hóa thành các mô riêng biệt, những động vật này còn được gọi là eumetazoa. Chúng có một khoang tiêu hóa nằm trong cơ thể, với một hoặc hai lỗ mở ra ngoài; giao tử được tạo ra tại cơ quan sinh dục đa bào và có giai đoạn phôi nang trong quá trình phát triển từ hợp tử của mình. Lưu ý, ngành Thân lỗ (chẳng hạn như bọt biển) không được xếp vào động vật, do chúng có các tế bào không được biệt hóa.[13]

Không giống như tế bào thực vật, tế bào động vật không có thành tế bào hay lục lạp. Nếu tế bào động vật có không bào thì có số lượng bào quan này nhiều hơn nhưng có kích thước nhỏ hơn so với ở thực vật. Các mô cơ thể gồm có nhiều loại tế bào, tính cả những loại tế bào được tìm thấy ở cơ, dây thần kinh và da. Mỗi loại tế bào thường có màng tế bào cấu tạo từ phospholipid, tế bào chất và nhân. Tất cả các tế bào khác nhau của động vật đều có nguồn gốc từ các lá phôi. Những động vật không xương sống với cấu trúc đơn giản hơn được phát triển từ phôi hai lá (gồm lá phôi ngoài và lá phôi trong). Những động vật phức tạp hơn lại có cấu trúc và cơ quan được hình thành từ phôi ba lá. Tất cả các mô và cơ quan của những động vật này đều có nguồn gốc từ ba lá phôi gồm lá phôi ngoài, lá phôi giữa và lá phôi trong.[14]

Mô động vật có thể được nhóm thành bốn loại cơ bản: mô liên kết, biểu mô, mô cơmô thần kinh.

Mô liên kết[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh phóng đại cao sụn trong mờ (nhuộm bằng phương pháp H.E)

Mô liên kết có dạng sợi và được tạo thành từ các tế bào nằm rải rác trên phần vô cơ gọi là chất nền ngoại bào. Mô liên kết tạo hình cho các cơ quan và giữ chúng đúng vị trí. Các loại mô liên kết chính gồm có mô liên kết lỏng, mô mỡ, mô liên kết sợi, sụn và xương. Chất nền ngoại bào chứa các protein, loại protein chủ yếu và phong phú nhất là collagen. Collagen đóng vai trò chính trong việc tổ chức và duy trì các mô. Chất nền ngoại bào có thể được biến đổi để tạo thành xương giúp nâng đỡ và bảo vệ cơ thể. Bộ xương ngoài là lớp bảo vệ dày và cứng bên ngoài cơ thể động vật. Lớp bảo vệ này có thể được làm cứng bằng cách khoáng hóa chất nền, như ở động vật giáp xác hoặc bằng cách liên kết chéo các protein, như ở côn trùng. Bộ xương trong, ngược lại, lại ở bên trong cơ thể và có mặt ở tất cả các loài động vật phát triển, cũng như trong nhiều loài kém phát triển hơn.[14]

Biểu mô[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh phóng đại thấp màng nhầy dạ dày (nhuộm bằng phương pháp H.E)

Biểu mô hay mô biểu bì gồm các tế bào được xếp ken chặt với nhau, liên kết với nhau bởi các phân tử kết dính tế bào. Khoảng không gian giữa các tế bào với nhau là rất nhỏ. Các tế bào của biểu mô có thể có dạng dẹt (giống gạch lát sàn nhà), dạng khối (giống viên xúc xắc) hoặc dạng cột (giống hình viên gạch). Các tế bào này được xếp trên phiến nền (basal lamina). Phiến nền là lớp phía trên của lớp màng nền, còn lớp phía dưới của màng nền là phiến lưới.[15] Phiến lưới nằm cạnh mô liên kết trong chất nền ngoại bào được tiết ra bởi tế bào biểu mô.[16] Có nhiều loại biểu mô khác nhau, mỗi loại được biến đổi để phù hợp với chức năng cụ thể. Chẳng hạn, đường hô hấp được lót bởi một loại biểu mô có các lông rung; các tế bào biểu mô với các lông siêu nhỏ (còn gọi là riềm bàn chải) lót ở ruột non và biểu mô lót trong ruột già có các lông ruột. Da, lớp phủ bên ngoài cơ thể ở động vật có xương sống, được cấu tạo nhiều lớp biểu mô dẹt với phần bên ngoài được sừng hóa. Tế bào sừng chiếm tới 95% trên tổng số tế bào trong da.[17] Các tế bào biểu mô ở phía mặt bên ngoài của cơ thể thường tiết ra chất nền ngoại bào. Ở các động vật đơn giản, đây có thể chỉ là một lớp glycoprotein.[14] Ở những động vật tiến hóa hơn, nhiều tuyến được hình thành từ các tế bào biểu mô.[18]

Mô cơ[sửa | sửa mã nguồn]

Thiết đồ phóng đại cao cắt qua cơ vân và một dây thần kinh nhỏ (nhuộm bằng phương pháp H.E)

Các tế bào cơ hợp lại thành mô hoạt động theo phương thức co rút. Mô cơ có chức năng tạo ra lực, hình thành cử động hoặc vận động các cơ quan nội tạng. Cơ được hình thành từ các sợi tơ cơ, gồm ba loại: cơ vân (hay cơ xương), cơ trơncơ tim. Cơ trơn là các tế bào cơ kéo dài thành hình thoi, không có khía vân ngang khi kiểm tra bằng kính hiển vi. Loại cơ này co chậm và yếu nhưng nhưng duy trì sự co lâu hơn. Cơ trơn được tìm thấy trong các cơ quan như xúc tu hải quỳ và thành cơ thể của hải sâm. Cơ vân có khả năng co lại nhanh, mạnh nhưng chỉ trong một thời gian hạn chế nhất định. Loại cơ này được tìm thấy trong các cơ hàm. Ở động vật bậc cao, cơ vân xuất hiện thành bó, bám vào xương để gây chuyển động và cơ thường được sắp xếp theo dạng đôi một đối kháng. Cơ trơn được tìm thấy trong các thành của tử cung , bàng quang , ruột , dạ dày , thực quản , đường thởmạch máu. Cơ tim chỉ có ở tim, thực hiện co bóp và bơm máu đi khắp cơ thể.[19]

Mô thần kinh[sửa | sửa mã nguồn]

Mô thần kinh gồm các tế bào thần kinh (nơron) và các tế bào thần kinh đệm (thần kinh giao). Ở một số động vật biển hình thái đối xứng có khả năng di chuyển chậm như các động vật thuộc ngành Sứa lượcngành Thích ty bào (bao gồm hải quỳ và sứa), thần kinh có dạng mạng lưới thần kinh. Ở hầu hết các động vật, dây thần kinh được hợp lại thành bó. Ở động vật bậc thấp, tế bào thần kinh thụ thể trong thành cơ thể gây ra phản ứng cục bộ với một kích thích. Ở động vật phức tạp hơn, các tế bào thụ thể chuyên biệt như hóa thụ thể (chemoreceptor) và quang thụ thể (photoreceptor) tập hợp lại và truyền đạt thông tin dọc theo mạng lưới thần kinh đến các vùng khác của cơ thể sinh vật. Các tế bào thần kinh kết nối với nhau trong hạch thần kinh.[20] Ở động vật bậc cao, các thụ thể chuyên biệt là cơ sở của các cơ quan tiếp nhận cảm giác. Ở động vật bậc cao còn có hệ thần kinh trung ương (nãotủy sống) và hệ thần kinh ngoại biên . Hệ thần kinh ngoại biên gồm nhánh cảm giác: truyền thông tin từ cơ quan cảm giác khi tiếp nhận kích thích từ môi trường và nhánh vận động chi phối vận động cho cơ quan đích, trả lời các kích thích đó.[21][22] Hệ thần kinh ngoại biên được chia thành hệ thần kinh soma truyền cảm giác và kiểm soát cơ vân, và hệ thần kinh tự chủ kiểm soát không ý thức hoạt động cơ trơn, một số tuyến, nội tạng, bao gồm dạ dày.[23]

Giải phẫu động vật có xương sống[sửa | sửa mã nguồn]

Sọ chuột

Tất cả các động vật có xương sống có một cấu trúc cơ thể khá giống nhau, đặc biệt là trong giai đoạn phôi thai: các động vật đều hình thành dây sống, thừng nguyên sống, ống thần kinh, cung họng và đuôi phía sau hậu môn. Tủy sống được cột sống bảo vệ, nằm phía trên thừng nguyên sống và phía sau ống tiêu hóa.[24] Mô thần kinh có nguồn gốc từ lớp ngoại bì, mô liên kết có nguồn gốc từ trung bì và ruột có nguồn gốc từ nội bì. Ở phía sau cùng là đoạn đuôi, liên tiếp với tủy sống nhưng không liên tiếp với ruột. Miệng nằm ở mặt trước còn hậu môn ở mặt sau, vị trí dưới đuôi.[25] Một trong những đặc điểm quan trọng của động vật có xương sống là có sự hình thành, phát triển cột sống và phân đoạn thành các đốt sống. Ở hầu hết các loài động vật có xương sống, thừng nguyên sống phát triển thành nhân tủy của đĩa gian đốt sống. Tuy nhiên, một số ít động vật có xương sống (họ Cá tầmbộ Cá vây tay) vẫn còn thừng nguyên sống đến khi trưởng thành.[26] Động vật có quai hàm có đặc điểm tiêu giản phần phụ (vây, chân). Các chi của động vật có xương sống là các cơ quan tương đồng vì cấu trúc xương có những nét giống nhau và được thừa hưởng từ một tổ tiên chung. Nhà tự nhiên học Charles Darwin đã dựa vào lý thuyết này để củng cố thuyết tiến hóa của mình.[27]

Giải phẫu cá[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Giải phẫu cá
Sơ đầu cấu tạo trong của cá

Cơ thể cá được chia thành ba phần: đầu, thân và đuôi. Sự phân chia này đôi khi không thể xác định bằng hình dạng bên ngoài. Bộ xương là cấu trúc nâng đỡ bên trong cơ thể cá, có thể là sụn (đối với lớp cá sụn) hoặc xương (trong liên lớp cá xương). Thành phần chính của bộ xương cá là cột sống, gồm các đốt sống khớp có khối lượng nhẹ tiếp nối với nhau mạnh mẽ. Xương sườn gắn với cột sống. Cá không có chi hoặc chi bị tiêu giản. Vây cá nối tiếp xương sống hoặc gai mềm gọi là vây tia. Vây đuôi không có kết nối trực tiếp với cột sống mà được các cơ thân mình hỗ trợ hoạt động.[28] Tim cá có hai ngăn, bơm máu đến bề mặt hô hấp của mang và khắp cơ thể theo hệ tuần hoàn.[29] Mắt được điều chỉnh để thích nghi với hoạt động nhìn dưới nước nhưng có tầm nhìn hạn chế. Cá chỉ có tai trong, không có tai ngoài hoặc tai giữa. Các rung động với tần số thấp được tiếp nhận bởi một hệ thống cơ quan cảm giác chạy dọc theo phía bên cơ thể, giúp cơ thể phản ứng lại các chuyển động gần đó và sự thay đổi áp lực nước.[28]

Cá mập và cá đuối là các loài cá cơ sở trong cây phát sinh chủng loại với nhiều đặc điểm giải phẫu nguyên thủy tương tự như các loài cá cổ đại. Bộ xương cấu tạo từ sụn. Cơ thể có xu hướng phẳng dẹt, thường có năm cặp mang và một miệng lớn ở vị trí mặt dưới của vùng đầu. Da được bao phủ bởi các vây tia hình tấm riêng biệt. Cá có lỗ huyệt, nơi đường tiết niệu và bộ phận sinh dục được bộc lộ, nhưng không có bong bóng cá. Cá sụn sản xuất một số lượng nhỏ trứng có kích thước lớn, có lòng đỏ. Một số loài có phương thức sinh sản noãn thai sinh (con non phát triển bên trong cơ thể mẹ) nhưng một số khác lại đẻ trứng.[30]

Cá xương cho thấy các đặc điểm giải phẫu mang tính dẫn xuất hơn, tức là có nhiều thay đổi lớn mang tính tiến hóa từ các bộ phận trên cơ thể cá cổ đại. Chúng có bộ xương làm từ xương thật, cơ thể xu hướng phẳng hai bên, có năm cặp mang được bảo vệ bởi một nắp mang, miệng ở gần mũi. Da được bao bọc nhờ các lớp vảy xếp chồng lên nhau . Cá xương có bong bóng cá giúp cơ thể duy trì độ sâu không đổi trong cột nước, nhưng không có lỗ huyệt. Cá xương tưới ra lượng lớn trứng kích thước bé, lòng đỏ nhỏ vào cột nước.[30]

Giải phẫu lưỡng cư[sửa | sửa mã nguồn]

Frog skeleton
Bộ xương của ếch sừng Surinam (Ceratophrys cornuta)
Khoang miệng phình to là đặc trưng của ếch khi hô hấp. Chúng cũng có thể dùng cơ chế hô hấp này để tạo nên những tiếng kêu lớn.

Động vật lưỡng cư là một lớp động vật bao gồm ếch, kỳ nhônglưỡng cư không chân (caecilian). Đây là nhóm các động vật có tứ chi, nhưng các loài lưỡng cư không chân và một vài loài kỳ nhông lại không có hoặc tiêu giảm kích thước của chân. Xương chính của các loài này rỗng, nhẹ và được hóa cốt (làm chắc) hoàn toàn; các đốt sống của chúng được lồng ghép với nhau và có các mối nối đốt sống. Xương sườn của động vật lưỡng cư thường ngắn và có thể được hợp nhất với đốt sống. Hộp sọ của những loài này thì thường rộng và ngắn, và thường không được làm cứng hoàn toàn. Da của chúng chứa ít keratin và không có vảy, nhưng lại chứa nhiều tuyến nhầy và ở một số loài là các tuyến chất độc. Tim của động vật lưỡng cư có ba ngăn, hai tâm nhĩ và một tâm thất. Chúng cũng có bàng quang và chất thải chứa nitơ được bài tiết chủ yếu dưới dạng urê. Động vật lưỡng cư thở bằng phương pháp gọi là bơm khoang miệng: đầu tiên, nhờ sự phối hợp của các cơ, không khí sẽ được hút qua lỗ mũi vào khu vực khoang miệng, các lỗ này sau đó được đóng lại và không khí được dồn xuống phổi nhờ quá trình co của cơ cổ họng.[31] Chính nhờ cách thở này, một số con ếch đực có thể tạo ra những tiếng kêu to rất đặc trưng, như ta hay nghe thấy vào mùa hè, bằng cách hít vào nhiều lần và không thở ra.[32] Bên cạnh cách thở bằng phổi, lưỡng cư cũng có thể trao đổi khí qua da với điều kiện là da phải luôn được giữ ẩm.[33]

Ở ếch, xương chậu của chúng rất khỏe và chân sau dài và mạnh hơn nhiều so với chân trước. Bàn chân chúng có bốn hoặc năm chi và các ngón chân thường có màng để bơi hoặc có màng hút để leo trèo. Ếch có đôi mắt to và không có đuôi. Kỳ giông thì có ngoại hình khá giống với thằn lằn; chân của chúng ngắn và được bố trí lệch, bụng của các loài này thì thõng xuống gần hoặc tiếp xúc với mặt đất và chúng có một cái đuôi dài. Lưỡng cư không chân có bề ngoài trông giống như giun đất và không có chi. Chúng đào hang bằng cách co các vùng cơ dọc theo cơ thể và chúng bơi bằng cách trườn cơ thể từ bên này sang bên kia. [34]

Giải phẫu bò sát[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Giải phẫu bò sát
Bộ xương của một con rắn đuôi chuông lưng đốm thoi.

Động vật bò sát là một lớp động vật bao gồm rùa, tuatara, thằn lằn, rắncá sấu. Nhóm các loài này có bốn chân, nhưng rắn và một vài loài thằn lằn lại không có hoặc đã tiêu giảm kích thích chi đi rất nhiều. Xương của chúng được hóa cốt tốt hơn và xương của chúng cũng khỏe hơn xương của động vật lưỡng cư. Răng những loài này có hình nón và kích thước nhìn chung là khá đồng nhất. Các tế bào bề mặt của lớp biểu bì được biến đổi thành vảy sừng, tạo nên một lớp chống thấm cho cơ thể. Bò sát không thể sử dụng da để hô hấp như động vật lưỡng cư, bù lại, chúng có hệ hô hấp hiệu quả hơn để hút không khí vào phổi bằng cách mở rộng thành ngực. TIm của bò sát khá giống với lưỡng cư nhưng có thêm một vách ngăn giúp phân tách dòng máu giàu oxy hóa và máu nghèo oxy hiệu quả hơn. Hệ thống sinh sản đã phát triển theo hướng thụ tinh trong, cơ quan sinh sản cũng có mặt ở hầu hết các loài. Trứng của chúng được bao quanh bởi một lớp màng ối giúp giữ ẩm. Bò sát thường đẻ trứng trên đất liền, một số loài thì sinh sản theo hình thức noãn thai sinh (tức là trứng đã nở thành thai trước khi đẻ). Các loài này có bàng quang nhỏ và dạng chất thải nitơ được bài tiết là axit uric. [35]

Rùa là nhóm loài nổi bật với bộ "áo giáp" bảo vệ của mình. Cơ thể rùa được bọc bởi một lớp mai sừng ở trên và một tấm giáp phía dưới, cả hai đều cứng và không linh hoạt. Những phiến bảo vệ này được hình thành từ các tấm xương gắn với lớp hạ bì, được bao phủ bởi các sừng và được hợp nhất một phần với xương sườn và cột sống. Cổ của rùa khá dài và linh hoạt, đầu và chân của chúng đều có thể rụt lại vào trong vỏ. Rùa là loài ăn thực vật, cấu trúc răng bò sát điển hình đã được thay bằng những phiến sắc nhọn, gồ ghề. Ở các loài rùa sống dưới nước, chân trước đã được biến đổi thành chân chèo.[36]

Giải phẫu chim[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Giải phẫu chim
Một phần của cánh chim, vẽ bởi Albrecht Dürer, 1500–1512

Chim là động vật bốn chi, chi sau sử dụng để đi hoặc nhảy, chi trước là đôi cánh phủ đầy lông, thích nghi cho hoạt động bay. Chim là loài hằng nhiệt, có tốc độ chuyển hóa cơ bản cao , hệ xương nhẹ và hệ cơ mạnh mẽ. Xương dài mỏng, rỗng và rất nhẹ. Túi khí mở rộng từ phổi lan tới vùng trung tâm một số xương. Xương ức rộng và thường có cựa và các đốt sống cùng hợp nhất. Chim không có răng. Hàm hẹp, tiến hóa thành mỏ có chất sừng. Đôi mắt tương đối lớn, đặc biệt là ở các loài sống về đêm như cú.[37]

Lớp biểu bì phát triển thành lông vũ. Lông bay lớn mọc trên cánh và đuôi. Lông viền bao phủ bề mặt cơ thể chim. Lông mịn xuất hiện trên chim non và dưới lông vũ của chim di chuyển nước. Tuyến da duy nhất của chim là tuyến phao câu, tiết ra chất nhờn giúp lông không thấm nước khi chim rỉa lông. Chân có vảy, bàn chân và móng vuốt có ở trên đầu các ngón chân.[37]

Giải phẫu thú[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Giải phẫu thú

Thú có vú là lớp động vật có xương sống đa dạng về loài. Các loài sống chủ yếu trên cạn, một số loài sống dưới nước, một số loài tiến hóa để bay lượn. Thú có bốn chi, một số loài sống dưới nước không có chi hoặc chi tiến hóa thành vây, chi trước loài dơi biến đổi thành cánh. Chân của hầu hết các động vật có vú ở dưới thân mình, giúp đứng vững trên mặt đất. Xương của động vật có vú hóa sừng và răng được phủ bởi một lớp men răng. Răng bị rụng một lần (răng sữa) trong suốt cuộc đời của động vật, tuy vậy, loài thuộc bộ Cá voi không thay răng. Thú có vú có ba xương nhỏ trong tai giữaốc tai trong tai trong. Da thú có các tuyến mồ hôi. Tại một số vị trí trên cơ thể, tuyến này được chuyên biệt hóa, ví dụ như tuyến vú, nơi sản xuất sữa nuôi con non. Thú có vú thở bằng phổi, được cơ hoành ngăn cách ngực với bụng hỗ trợ hít không khí vào phổi. Tim thú có bốn ngăn, máu giàu oxi và máu nghèo oxi được ngăn cách riêng biệt. Chất thải rắn được bài tiết chủ yếu dưới dạng phân urê.[38]

Thú có vú là động vật có màng ối , và hầu hết đều có phương thức sinh sản thai sinh. Riêng thú mỏ vịt và họ Tachyglossidae thì đẻ trứng. Hầu hết các động vật có vú đều có nhau thai, giúp thai nhi lấy dinh dưỡng từ cơ thể mẹ. Ngoại trừ thú có túi, giai đoạn bào thai thú có túi quá ngắn, con sinh ra tự tìm đến túi của mẹ, bám vào núm vú, lấy chất dinh dưỡng để hoàn thành sự phát triển.[38]

Giải phẫu người[sửa | sửa mã nguồn]

Một ví dụ về phương pháp giải phẫu hiện tại: sử dụng phương pháp chụp cộng hưởng tử hạt nhân (MRI scan) để khảo sát lắt cát mặt phẳng đứng dọc qua đầu người
Nhờ có kích thước bộ não lớn, con người có thể thực hiện được các thao tác tay phức tạp

Cơ thể người tương tự các động vật có vú khác. Người có đầu, cổ, thân (bao gồm ngựcbụng), hai tay và hai chân.

Nhìn chung, các sinh viên học các ngành liên quan đến sinh học, y học, trị liệu đều phải học giải phẫu học đại thể và giải phẫu học vi thể (mô học). Các tài liệu để học môn giải phẫu bao gồm mô hình, xương, sách giáo khoa, thiết đồ, hình ảnh, bài giảng, atlas giải phẫu. Sinh viên tự học dưới sự hướng dẫn của giảng viên. Sinh viên y khoa nói chung cũng được thực tập giải phẫu qua việc tự mình phẫu tích (hoặc quan sát giảng viên thực hiện) và lượng giá kiến thức trên thi thể người hiến tặng. Nghiên cứu về giải phẫu học vi thể (mô học) cần được thực tập trên các chế phẩm mô học (các lát cắt mô) quan sát dưới kính hiển vi.[39]

Giải phẫu người, y sinh học di truyền, sinh lý họchóa sinh y học là những môn khoa học y tế cơ bản, thường được dạy cho sinh viên y khoa trong năm đầu tiên tại trường y của các quốc gia trên thế giới.[40] Tại Việt Nam, giải phẫu người, y sinh học di truyền được học trong năm thứ nhất, còn sinh lý học và hóa sinh y học được học trong năm thứ hai. Đây là 4 môn cơ sở ngành, được lựa chọn để thi tuyển bác sĩ nội trú, đào tạo sau đại học.[41]

Giải phẫu người được dạy theo định khu hoặc hệ thống; tức là thao tác nghiên cứu giải phẫu theo từng vùng khu trú, hoặc nghiên cứu dọc theo một hệ thống các cơ quan cụ thể, chẳng hạn như hệ thần kinh hoặc hệ hô hấp.[40] Môt trong những quyển sách giáo khoa giải phẫu nổi tiếng nhất trên thế giới là quyển Gray's Anatomy (Giải phẫu Gray), đã được sắp xếp lại từ cách trình bày theo giải phẫu hệ thống sang cách trình bày theo giải phẫu khu vực, phù hợp với phương pháp giảng dạy hiện đại.[42][43] Các bác sĩ, đặc biệt là phẫu thuật viên và bác sĩ làm việc trong một số chuyên khoa chẩn đoán, như mô bệnh họcX quang đều phải nắm rất vững về kiến thức môn giải phẫu học.[44]

Các nhà giải phẫu học được trường y hoặc bệnh viện giảng dạy tuyển dụng. Họ vừa tham gia giảng dạy giải phẫu cho sinh viên và học viên, vừa đi sâu nghiên cứu một số hệ thống, cơ quan, mô hoặc tế bào nhất định.[44]

Giải phẫu động vật không xương sống[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu của con Daphnia, một động vật giáp xác phù du

Động vật không xương sống là các sinh vật từ sinh vật nhân đơn bào đơn giản nhất như trùng đế giày đến các động vật đa bào phức tạp như bạch tuộc, tôm hùmchuồn chuồn. Động vật không xương sống chiếm khoảng 95% tổng số các loài động vật. Các tế bào động vật nguyên sinh đơn bào có cấu trúc cơ bản giống như tế bào của động vật đa bào, nhưng một số bào quan được chuyên biệt. Động vật nguyên sinh di chuyển bằng roi hoặc tiên mao hoặc di chuyển thông qua sự hình thành giả túc (tay giả), lấy thức ăn bằng hình thức thực bào. Năng lượng cũng có thể được cung cấp nhờ quang hợp và tế bào được hỗ trợ bởi bộ xương trong hoặc bộ xương ngoài. Một số động vật nguyên sinh có thể hình thành khuẩn lạc.[45]

Động vật đa bào là cá thể có tế bào phân hóa, giữ các chức năng chuyên biệt. Các loại mô của động vật đa bào cơ bản nhất là biểu mômô liên kết, cả hai đều có mặt trong hầu hết các động vật không xương sống. Bề mặt ngoài của lớp biểu bì hình thành từ các tế bào biểu mô và tiết ra một cấu trúc nền ngoại bào bảo vệ sinh vật. Bộ xương trong có nguồn gốc từ trung bì, có mặt trong ngành Da gai, Thân lỗ và một số Chân đầu. Bộ xương ngoài có nguồn gốc từ lớp ngoại bì, chứa kitin, xuất hiện ở Chân khớp (côn trùng, nhện, ve, tôm, cua). Canxi cacbonat tạo thành vỏ của Thân mềm , Tay cuộn và một số họ Giun nhiều tơ; Silic dioxit tạo thành bộ xương ngoài của tảo silictrùng tia .[46] Nhiều động vật không xương sống khác không có cấu trúc cứng nhưng lớp biểu bì tiết ra nhiều chất phủ bề mặt như tế bào dạng kim (pinacoderm, biểu bì bọt biển), lớp biểu bì gelatin của ngành Thích ty bào ( polyp, hải quỳ, sứa ) và lớp biểu bì collagen của ngành Giun đốt. Lớp biểu mô bên ngoài của một số loài có thể là tế bào cảm giác, tế bào tuyến và tế bào châm (cnydocyte), cũng có thể có các phần nhô ra như vi nhung mao, mao, tơ cứng, lông gaimấu.[47]

Giải phẫu chân khớp[sửa | sửa mã nguồn]

Các ngành của giải phẫu[sửa | sửa mã nguồn]

Giải phẫu học phát triển theo nhiều hướng và phân hóa thành nhiều ngành khác nhau:[48]

Cách phân chia Các ngành Nội dung Các ngành nhỏ hơn

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lịch sử giải phẫu

Thời cổ đại[sửa | sửa mã nguồn]

Thời trung cổ đến sơ kỳ cận đại[sửa | sửa mã nguồn]

Hậu kỳ cận đại[sửa | sửa mã nguồn]


Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Merriam Webster Dictionary
  2. ^ Rotimi, Booktionary. “Anatomy”. 
  3. ^ a ă â “Introduction page, "Anatomy of the Human Body". Henry Gray. 20th edition. 1918”. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2007. 
  4. ^ Arráez-Aybar et al. (2010). Relevance of human anatomy in daily clinical practice. Annals of Anatomy-Anatomischer Anzeiger, 192(6), 341–348.
  5. ^ O.D.E. 2nd edition 2005
  6. ^ Trịnh Văn Minh tập 1 2017, tr. 13.
  7. ^ a ă Bozman, E. F. biên tập (1967). Everyman's Encyclopedia: Anatomy. J. M. Dent & Sons. tr. 272. ASIN B0066E44EC. 
  8. ^ “Anatomy”. The Free Dictionary. Farlex. 2007. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2013. 
  9. ^ Gribble N, Reynolds K (1993). “Use of Angiography to Outline the Cardiovascular Anatomy of the Sand Crab Portunus pelagicus Linnaeus”. Journal of Crustacean Biology 13 (4): 627–637. JSTOR 1549093. doi:10.1163/193724093x00192. 
  10. ^ Benson KG, Forrest L (1999). “Characterization of the Renal Portal System of the Common Green Iguana (Iguana iguana) by Digital Subtraction Imaging”. Journal of Zoo and Wildlife Medicine 30 (2): 235–241. PMID 10484138. 
  11. ^ “Magnetic Resonance Angiography (MRA)”. Johns Hopkins Medicine. 
  12. ^ “Angiography”. National Health Service. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  13. ^ Dorit, R. L.; Walker, W. F.; Barnes, R. D. (1991). Zoology. Saunders College Publishing. tr. 547–549. ISBN 978-0-03-030504-7. 
  14. ^ a ă â Ruppert, Edward E.; Fox, Richard, S.; Barnes, Robert D. (2004). Invertebrate Zoology, 7th edition. Cengage Learning. tr. 59–60. ISBN 978-81-315-0104-7. 
  15. ^ Dorland's (2012). Illustrated Medical Dictionary. Elsevier Saunders. tr. 203. ISBN 978-1-4160-6257-8. 
  16. ^ Dorland's (2012). Illustrated Medical Dictionary. Elsevier Saunders. tr. 1002. ISBN 978-1-4160-6257-8. 
  17. ^ McGrath, J.A.; Eady, R.A.; Pope, F.M. (2004). Rook's Textbook of Dermatology (7th ed.). Blackwell Publishing. pp. 3.1–3.6. ISBN 978-0-632-06429-8.
  18. ^ Bernt, Karen (2010). “Glandular epithelium”. Epithelial Cells. Davidson College. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2013. 
  19. ^ Ruppert, Edward E.; Fox, Richard, S.; Barnes, Robert D. (2004). Invertebrate Zoology, 7th edition. Cengage Learning. tr. 103. ISBN 978-81-315-0104-7. 
  20. ^ Ruppert, Edward E.; Fox, Richard, S.; Barnes, Robert D. (2004). Invertebrate Zoology, 7th edition. Cengage Learning. tr. 104. ISBN 978-81-315-0104-7. 
  21. ^ Johnston, T.B; Whillis, J biên tập (1944). Grey's Anatomy: Descriptive and Applied (ấn bản 28). Langmans. tr. 1038. 
  22. ^ Ruppert, Edward E.; Fox, Richard, S.; Barnes, Robert D. (2004). Invertebrate Zoology, 7th edition. Cengage Learning. tr. 105–107. ISBN 978-81-315-0104-7. 
  23. ^ Moore, K.; Agur, A.; Dalley, A. F. (2010). “Essesntial Clinical Anatomy”. Nervous System (ấn bản 4). Inkling. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2014. 
  24. ^ Waggoner, Ben. “Vertebrates: More on Morphology”. UCMP. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2011. 
  25. ^ Romer, Alfred Sherwood (1985). The Vertebrate Body. Holt Rinehart & Winston. ISBN 978-0-03-058446-6. 
  26. ^ Liem, Karel F.; Warren Franklin Walker (2001). Functional anatomy of the vertebrates: an evolutionary perspective. Harcourt College Publishers. tr. 277. ISBN 978-0-03-022369-3. 
  27. ^ “What is Homology?”. National Center for Science Education. 17 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2013. 
  28. ^ a ă Dorit, R. L.; Walker, W. F.; Barnes, R. D. (1991). Zoology. Saunders College Publishing. tr. 816–818. ISBN 978-0-03-030504-7. 
  29. ^ “The fish heart”. ThinkQuest. Oracle. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013. 
  30. ^ a ă Kotpal, R. L. (2010). Modern Text Book of Zoology: Vertebrates. Rastogi Publications. tr. 193. ISBN 978-81-7133-891-7. 
  31. ^ Stebbins, Robert C.; Cohen, Nathan W. (1995). A Natural History of Amphibians. Princeton University Press. tr. 24–25. ISBN 978-0-691-03281-8. 
  32. ^ Campbell, Neil; Urry; Reece, Jane (2011). Biology. Pearson. tr. 920. ISBN 978-0321558237. 
  33. ^ Dorit, R. L.; Walker, W. F.; Barnes, R. D. (1991). Zoology. Saunders College Publishing. tr. 843–859. ISBN 978-0-03-030504-7. 
  34. ^ Stebbins, Robert C.; Cohen, Nathan W. (1995). A Natural History of Amphibians. Princeton University Press. tr. 26–35. ISBN 978-0-691-03281-8. 
  35. ^ Dorit, R. L.; Walker, W. F.; Barnes, R. D. (1991). Zoology. Saunders College Publishing. tr. 861–865. ISBN 978-0-03-030504-7. 
  36. ^ Dorit, R. L.; Walker, W. F.; Barnes, R. D. (1991). Zoology. Saunders College Publishing. tr. 865–868. ISBN 978-0-03-030504-7. 
  37. ^ a ă Dorit, R. L.; Walker, W. F.; Barnes, R. D. (1991). Zoology. Saunders College Publishing. tr. 881–895. ISBN 978-0-03-030504-7. 
  38. ^ a ă Dorit, R. L.; Walker, W. F.; Barnes, R. D. (1991). Zoology. Saunders College Publishing. tr. 909–914. ISBN 978-0-03-030504-7. 
  39. ^ “Studying medicine”. Medschools Online. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013. 
  40. ^ a ă “Introduction page, "Anatomy of the Human Body". Henry Gray. 20th edition. 1918”. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2007. 
  41. ^ “Thông báo tuyển sinh Bác sĩ nội trú 2018 (trích từ THÔNG BÁO TUYỂN SINH SAU ĐẠI HỌC NĂM 2018)”. Phòng quản lý sau đại học trường Đại học Y Hà Nội. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2019. 
  42. ^ Publisher's page for Gray's Anatomy. 39th edition (US). 2004. ISBN 978-0-443-07168-3. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2007.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  43. ^ Publisher's page for Gray's Anatomy. 39th edition (UK). 2004. ISBN 978-0-443-07168-3. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 12 năm 2004. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2007. 
  44. ^ a ă “American Association of Anatomists”. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013. 
  45. ^ Ruppert, Edward E.; Fox, Richard, S.; Barnes, Robert D. (2004). Invertebrate Zoology, 7th edition. Cengage Learning. tr. 23–24. ISBN 978-81-315-0104-7. 
  46. ^ “Exoskeleton”. Encyclopædia Britannica. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2013. 
  47. ^ Ebling, F. J. G. “Integument”. Encyclopædia Britannica. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2013. 
  48. ^ Trịnh Văn Minh tập 1 2017, tr. 13 – 16.
Sách
  • GSTS. BS. Trịnh Văn Minh (2017). Giải phẫu người (Tập 1: Giải phẫu học đại cương. Chi trên - Chi dưới - Đầu - Mặt - Cổ). Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. ISBN 978-604-0-00744-5. 
  • GSTS. BS. Trịnh Văn Minh (2014). Giải phẫu người (Tập 3: Hệ thần kinh - Hệ nội tiết). Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. ISBN 978-604-0-04586-7. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]