Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến
Logo-cong-hien.png
Trao cho Những khám phá, sáng tạo đóng góp thiết thực vào sự phong phú và phát triển của đời sống âm nhạc đại chúng
Quốc gia Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Được trao bởi Báo Thể thao & Văn hóa
Lần đầu tiên 2004
Nhiều danh hiệu nhất Tùng Dương
Trang chủ conghien.thethaovanhoa.vn
Truyền hình
Kênh VTV1 (2004—nay)

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến là một giải thưởng âm nhạc của Việt Nam, diễn ra vào tháng 3 hoặc tháng 4 hàng năm do báo Thể thao & Văn hóa tổ chức. Đây là giải thưởng tôn vinh uy tín và có quy mô lớn của làng nhạc nhẹ Việt Nam, được coi là một giải "Grammy" của nhạc Việt.[1][2][3]

Năm 2004, lễ trao giải lần đầu tiên được tổ chức song chưa được gọi là giải Cống hiến (sau này được gọi là tiền Cống hiến). Giải thưởng chính thức được trao từ năm 2005 và được gọi là Giải Cống hiến 1. Giải Cống hiến quan tâm nhiều tới hoạt động của các nghệ sĩ trong suốt một năm chẵn hoạt động qua các chương trình, album, dự án âm nhạc,... Tính uy tín của giải thưởng tới từ việc các hạng mục được bình chọn từ lá phiếu của báo chí cả nước với tính công khai, minh bạch cao[1][4][5]. Nhạc sĩ Anh Quân nói: "Đây là giải thưởng duy nhất tôi còn kỳ vọng!"[1]. Thông thường, danh sách chi tiết các đề cử được báo Thể thao & Văn hóa công bố trong một buổi họp báo lớn trước khi có một đêm gala quy tụ các nghệ sĩ vào đầu năm mới.

Có 4 hạng mục chính của lễ trao giải, bao gồm "Album của năm", "Chương trình của năm", "Nhạc sĩ của năm" và giải thưởng quan trọng nhất – "Ca sĩ của năm". Tại Giải Cống hiến 2008, sau nhiều tranh luận, giải Cống hiến có phân tách hạng mục "Ca sĩ của năm" thành 2 hạng mục cho nghệ sĩ nam và nghệ sĩ nữ (Đàm Vĩnh HưngHồ Ngọc Hà đoạt giải). Tuy nhiên, 2 giải thưởng này bị chỉ trích gay gắt[4] nên sau đó lại bị gộp lại thành hạng mục ban đầu.

Năm 2013 là năm đầu tiên, Giải Cống hiến mở rộng ra tới 6 hạng mục trong đó có 2 hạng mục mới đó là "Bài hát của năm" và "Nghệ sĩ mới của năm"[6][7]. Từ mùa thứ 9 (2014), giải thưởng tiếp tục mở rộng cho "Chuỗi chương trình của năm"[8]. Từ mùa thứ 11, giải thưởng bổ sung thêm hạng mục "Video âm nhạc của năm"[9]. Tại mùa thứ 12 (2017), hạng mục mới "Nhà sản xuất của năm" đã được bổ sung thành hạng mục giải thưởng thứ 9 của giải thưởng[10].

Tính tới năm 2017, Tùng Dương là nghệ sĩ thành công nhất với 10 lần chiến thắng và cũng là nghệ sĩ được đề cử nhiều nhất với con số 17 (bao gồm cả các album kết hợp). Tiếp đến, Mỹ Tâm là nghệ sĩ được đề cử với 14 lần. Đứng thứ ba là Thanh LamĐức Tuấn với 10 lần được xướng tên trong các hạng mục. Sát nút, Trần Thu Hà, Hồ Ngọc Hà, Hà Anh TuấnĐỗ Bảo với 9 đề cử. Cuối cùng là nhạc sĩ Quốc Trung 8 đề cử. Ngoài ra, Saxophone Trần Mạnh Tuấn còn là nhạc công đầu tiên và duy nhất được đề cử 5 lần.

Ca khúc "Tháng tư về" của nhạc sĩ Dương Thụ là ca khúc chính thức của lễ trao giải kể từ mùa 2009.

Quy chế giải[sửa | sửa mã nguồn]

Tiêu chí[sửa | sửa mã nguồn]

"Có những khám phá, sáng tạo đóng góp thiết thực vào sự phong phú và phát triển của đời sống âm nhạc đại chúng" là tiêu chí của giải thưởng.

Giải thưởng Âm nhạc cống hiến là sự tôn vinh các nghệ sĩ và các sản phẩm do họ tạo ra (hoặc hợp tác với những nghệ sĩ khác để tạo ra) theo góc nhìn báo chí chứ không phải của chuyên ngành âm nhạc. Tiêu chí của giải thưởng Âm nhạc cống hiến dựa trên 2 yếu tố "công luận" và "phát hiện" để làm cơ sở chính cho việc xét đề cử và bầu chọn. Vì vậy những khám phá sáng tạo có thể được đông đảo công chúng biết đến (yếu tố công luận) hoặc cũng có thể chưa được đông đảo công chúng biết đến, nhưng nó thật sự là những khám phá sáng tạo thiết thực (yếu tố phát hiện).

Đối tượng[sửa | sửa mã nguồn]

Bao gồm các thành quả của các sự kiện âm nhạc diễn ra trong phạm vi từ ngày 1/1 đến 31/12 của năm. Các đối tượng này liên quan đến đời sống âm nhạc đại chúng và thuộc các hạng mục sau: album, chương trình, chuỗi chương trình, nhạc sĩ, ca sĩ, bài hát, nghệ sĩ mới, music video và nhà sản xuất.

  • Album của năm: Là album được phát hành tại Việt Nam, có một trong những yếu tố Việt Nam sau đây: bài hát Việt Nam, nhạc hòa tấu Việt Nam, nhạc ngoại lời Việt, nhạc Việt lời bằng tiếng nước ngoài, ca sĩ, nghệ sĩ Việt Nam. (Nếu bài hát Việt Nam là yếu tố Việt Nam duy nhất, bắt buộc album phải có số lượng 70% bài hát Việt Nam trở lên).
  • Chương trình của năm: Là chương trình âm nhạc trực tiếp phục vụ khán giả hoặc diễn ra trên sóng phát thanh, sóng truyền hình tại Việt Nam, có một trong những yếu tố Việt Nam như ở mục trên. (Nếu tiết mục Việt Nam là yếu tố Việt Nam duy nhất, bắt buộc chương trình phải có số lượng 70% tiết mục Việt Nam trở lên). Chương trình của năm là 1 hoặc nhiều chương trình do 1 hoặc nhiều ca sĩ, nhạc sĩ, đơn vị… tổ chức. Nếu có nhiều chương trình thì các tiết mục trình diễn trong mỗi chương trình cơ bản là giống nhau.
  • Ca sĩ của năm: Là ca sĩ (hoặc nhóm hát, nhóm nhạc) hoạt động chính ở Việt Nam, có một trong những yếu tố Việt Nam như ở mục đầu tiên.
  • Nhạc sĩ của năm: Là nhạc sĩ hoạt động chính ở Việt Nam, có một trong những yếu tố Việt Nam như ở mục đầu tiên.

Kể từ mùa 2012[11]:

  • Nghệ sĩ mới của năm: Là ca sĩ, nhạc sĩ chính thức tham gia vào những hoạt động âm nhạc mang tính chuyên nghiệp và tạo được tiếng vang trong công luận (xuất hiện trong vòng 2 năm, tính đến thời điểm xét giải thưởng) với các hình thức như album, sáng tác ca khúc, biểu diễn sân khấu) theo chiều hướng tích cực phù hợp với tiêu chí của giải Cống hiến. Nghệ sĩ mới không hạn chế về tuổi tác, ngoài ra nghệ sĩ mới cũng có thể được đề cử ở hạng mục album và chương trình của năm.
  • Bài hát của năm: Là bài hát (định dạng audio) được đông đảo công chúng yêu thích và phù hợp với tiêu chí của giải Cống hiến, được giới thiệu đến công chúng theo quy định thời gian chung của giải Cống hiến.
  • Music video của năm: Là bài hát (định dạng video)  được đông đảo công chúng yêu thích, có phần âm nhạc phù hợp với tiêu chí của giải Cống hiến, phần hình ảnh được sử dụng có ý tưởng, có hiệu quả; được giới thiệu đến công chúng theo quy định thời gian chung của giải Cống hiến.
  • Nhà sản xuất của năm: Là cá nhân, nhóm “định hướng” cho nghệ sĩ để hình thành các sản phẩm âm nhạc như: album, music video, single, chương trình âm nhạc, dự án âm nhạc… có những đóng góp đáng kể cho đời sống âm nhạc đại chúng Việt Nam phù hợp với tiêu chí của Giải, có 1 trong những yếu tố Việt Nam như ở mục a.

Đề cử và bầu chọn[sửa | sửa mã nguồn]

Các đối tượng được chọn vào danh sách đề cử các hạng mục phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về tiêu chí, thời gian và đối tượng như đã nêu trên. Quy trình đề cử: Sau ngày 31/12 hàng năm, Ban tổ chức đưa ra Dự kiến danh sách đề cử sau khi rà soát, đánh giá các sự kiện âm nhạc trong năm (dưới góc độ báo chí) cùng việc tham khảo ý kiến của các nhà chuyên môn. Sau đó tổ chức tham khảo ý kiến phóng viên sẽ tham gia bầu chọn để đưa ra danh sách đề cử chính thức. Mỗi hạng mục gồm 4 hoặc 5 đề cử tùy vào tình hình đời sống âm nhạc đại chúng trong năm đó.

  • Thành phần tham gia bầu chọn (hội đồng chấm): gồm những phóng viên âm nhạc hoặc văn hóa nghệ thuật đang hoạt động ở các loại hình báo chí (báo giấy, báo điện tử, truyền hình, phát thanh) đến từ miền Bắcmiền Nam.
  • Thể lệ bầu chọn: Mỗi hạng mục chọn 1 đề cử; chọn đủ các hạng mục trong phiếu bầu chọn; phiếu bầu chọn phải có họ tên, chữ ký của người bầu chọn; phiếu bầu phải được niêm phong khi người tham gia bầu chọn gởi cho Ban tổ chức.
  • Kết quả bầu chọn: Ban tổ chức sẽ kiểm phiếu công khai, có sự chứng kiến của đông đảo phóng viên (hoặc đại diện của tập thể phóng viên) của các báo.

Các giải thưởng sẽ được trao cho đề cử có số phiếu bầu chọn cao nhất. Trường hợp có 2 hoặc nhiều đề cử có phiếu bầu bằng nhau, Ban tổ chức sẽ quyết định kết quả bằng phiếu bầu xếp hạng của mình (phiếu bầu xếp hạng này được Ban tổ chức tiến hành trước khi diễn ra buổi kiểm phiếu).

Sửa đổi quy chế[sửa | sửa mã nguồn]

Tùy theo tình hình thực tiễn của đời sống âm nhạc đại chúng, hàng năm Ban tổ chức có thể điều chỉnh số lượng các hạng mục, số lượng phóng viên tham gia bầu chọn, hoặc một số quy định khác - trong trường hợp cần thiết (về thể lệ bầu chọn, quy mô giải thưởng…) nhằm đáp ứng tốt nhất việc phát hiện, vinh danh phù hợp với tình hình thực tiễn, giữ vững và phát huy những thành quả mà giải thưởng đạt được trước đó. Tất cả với mục đích làm cho uy tín và chất lượng giải thưởng ngày càng cao.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]