Bước tới nội dung

Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2023

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2023
2023 FIFA Women's World Cup - Australia/New Zealand (tiếng Anh)
FIFA Wahine o te Ipu o te Ao – Ahitereiria/Aotearoa 2023 (tiếng Māori)
Beyond Greatness
Tiếng Māori: I tua atu i te Nui
Chi tiết giải đấu
Nước chủ nhàÚc
New Zealand
Thời gian20 tháng 7 – 20 tháng 8
Số đội32 (từ 6 liên đoàn)
Địa điểm thi đấu10 (tại 9 thành phố chủ nhà)
Vị trí chung cuộc
Vô địch Tây Ban Nha (lần thứ 1)
Á quân Anh
Hạng ba Thụy Điển
Hạng tư Úc
Thống kê giải đấu
Số trận đấu64
Số bàn thắng164 (2,56 bàn/trận)
Số khán giả1.978.274 (30.911 khán giả/trận)
Vua phá lướiNhật Bản Miyazawa Hinata
(5 bàn thắng)
Cầu thủ
xuất sắc nhất
Tây Ban Nha Aitana Bonmatí
Cầu thủ trẻ
xuất sắc nhất
Tây Ban Nha Salma Paralluelo
Thủ môn
xuất sắc nhất
Anh Mary Earps
Đội đoạt giải
phong cách
 Nhật Bản
2019
2027

Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2023 hay còn gọi là Cúp bóng đá nữ thế giới 2023 (tiếng Anh: 2023 FIFA Women's World Cup; tiếng Māori: FIFA Wahine o te Ipu o te Ao 2023) là Giải vô địch bóng đá nữ thế giới lần thứ 9 được tổ chức tại ÚcNew Zealand. Đây là kỳ World Cup đầu tiên được tổ chức tại Châu Đại Dương và cũng là lần đầu tiên được tổ chức đồng thời ở hai quốc gia. Giải đấu diễn ra từ ngày 20 tháng 7 đến ngày 20 tháng 8 năm 2023.[1]

Giải đấu có 32 đội tham dự, gồm 30 đội vượt qua vòng loại cùng với hai nước chủ nhà ÚcNew Zealand. Trong đó 8 đội tuyển Maroc, Philippines, Việt Nam, Zambia, Cộng hòa Ireland, Haiti, Bồ Đào NhaPanama có lần đầu tiên tham dự. 64 trận đấu sẽ được tổ chức trên 10 sân vận động thuộc 9 thành phố chủ nhà.

Lễ khai mạc diễn ra tại Eden Park, Auckland trước trận đấu giữa New Zealand với Na Uy. Trận chung kết sẽ diễn ra vào ngày 20 tháng 8 năm 2023 tại Sân vận động Australia, Sydney. Hoa Kỳ là đương kim vô địch, nhưng đã bị loại ở vòng 16 đội bởi Thụy Điển. Đây là lần đầu tiên Hoa Kỳ không thể lọt vào tốp 3 đội xuất sắc nhất trong lịch sử tham dự Giải vô địch bóng đá nữ thế giới.[2] Đức, nhà vô địch thế giới 20032007 lần đầu tiên bị loại ngay từ vòng bảng. Brasil, á quân thế giới năm 2007 lần đầu tiên bị loại ngay từ vòng bảng kể từ giải đấu năm 1995. Maroc làm nên lịch sử khi giành vé vào vòng đấu loại trực tiếp ngay trong lần đầu tham dự giải. Canada lần đầu tiên bị loại ngay từ vòng bảng kể từ giải đấu năm 2011, trở thành đội đương kim vô địch Olympic đầu tiên bị loại ngay từ vòng bảng tại một kỳ World Cup nữ. New Zealand trở thành đội chủ nhà đầu tiên bị loại ngay từ vòng bảng tại một kỳ World Cup nữ, và chủ nhà thứ 3 của giải đấu cấp đội tuyển World Cup cả nam và nữ (sau đội tuyển Nam Phi và Qatar ở kỳ World Cup 20102022) không vượt qua được vòng bảng.

Tây Ban Nha giành chức vô địch lần đầu tiên trong lịch sử sau khi đánh bại Anh với tỉ số 1–0 trong trận chung kết.

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Giải vô địch bóng đá nữ thế giới là một giải đấu bóng đá hiệp hội chuyên nghiệp được tranh tài bởi các đội tuyển bóng đá nữ cấp cao của quốc gia, do FIFA tổ chức.[3] Giải đấu được tổ chức bốn năm một lần và một năm sau Giải vô địch bóng đá thế giới, được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1991 tại Trung Quốc và kể từ đó đã được mở rộng thành 32 đội sau phiên bản năm 2023. Giải đấu được diễn ra theo thể thức vòng tròn 8 bảng, sau đó là vòng đấu trực tiếp cho 16 đội. Đương kim vô địch là Hoa Kỳ, đội đã đánh bại Hà Lan 2–0 trong trận Chung kết Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2019.[4][5] Sự kiện ​​diễn ra trong khoảng thời gian một tháng, từ ngày 20 tháng 7 đến ngày 20 tháng 8 tại Úc và New Zealand. Giải vô địch bóng đá nữ thế giới lần này sẽ là giải đấu đồng tổ chức đầu tiên và cũng là giải vô địch bóng đá thế giới dành cho lứa tuổi thanh niên đầu tiên được tổ chức trên nhiều liên đoàn. Ngoài ra, đây sẽ là giải đấu dành cho người cao tuổi đầu tiên được tổ chức ở Châu Đại Dương, Giải vô địch bóng đá nữ thế giới đầu tiên ở Nam bán cầu và là giải đấu thứ ba được tổ chức ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.

Thay đổi thể thức[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 7 năm 2019, Chủ tịch FIFA Gianni Infantino đã đề xuất mở rộng Giải vô địch bóng đá nữ thế giới từ 24 lên 32 đội, bắt đầu từ năm 2023 và tăng gấp đôi số tiền thưởng của giải đấu.[6] Đề xuất được đưa ra sau thành công của Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2019 và 2015, sau khi tăng từ 16 lên 24 đội đã lập kỷ lục tham dự cho tất cả các giải đấu của FIFA bên cạnh Giải vô địch bóng đá nữ thế giới.[7] Việc mở rộng giải đấu để cho phép thêm tám đội tham gia đã tạo điều kiện cho nhiều hiệp hội thành viên hơn có cơ hội lớn hơn để đủ điều kiện tham dự giải đấu cuối cùng. Điều này đã thúc đẩy phạm vi tiếp cận và tăng cường sự chuyên nghiệp hóa của trò chơi dành cho nữ.[8]

Vào ngày 31 tháng 7, Hội đồng FIFA đã nhất trí quyết định mở rộng giải đấu lên 32 đội, bao gồm tám bảng bốn đội.[9]

Thành công đáng kinh ngạc của Giải vô địch bóng đá nữ thế giới năm nay [2019] tại Pháp cho thấy rất rõ rằng đây là thời điểm để tiếp tục động lực và thực hiện các bước cụ thể để thúc đẩy sự phát triển của bóng đá nữ. Tôi vui mừng khi thấy đề xuất này trở thành hiện thực.

Giải đấu mở đầu bằng một vòng bảng với 8 bảng 4 đội, 2 đội đứng đầu mỗi bảng tiến vào vòng đấu loại trực tiếp, bắt đầu với vòng 16 đội. Tổng số trận toàn giải tăng lên từ 52 lên 64. Giải đấu sao chép định dạng của FIFA World Cup được sử dụng từ năm 1998 đến 2022.

Lịch thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch thi đấu được FIFA công bố vào ngày 1 tháng 12 năm 2021, không tính thời gian bắt đầu.[10] Trận khai mạc của giải đấu với đồng chủ nhà New Zealand, sẽ diễn ra vào ngày 20 tháng 7 năm 2023 tại Eden Park. Trong khi trận đấu khai mạc tại Úc, sẽ diễn ra cùng ngày tại Sân vận động Australia. Các lịch thi đấu vòng bảng sẽ được phân chia giữa các đồng chủ nhà với mỗi đội đăng cai là bốn nhóm. Trận tranh hạng ba sẽ được diễn ra tại Lang Park vào ngày 19 tháng 8 năm 2023, trong đó trận chung kết sẽ diễn ra tại Sân vận động Australia vào ngày 20 tháng 8 năm 2023.[11][12]

Do cấu trúc của lịch thi đấu, Úc là đội duy nhất được xác nhận sẽ thi đấu tất cả các trận đấu của họ tại một quốc gia.[13][14]

Các lịch thi đấu vòng bảng cho mỗi nhóm sẽ được phân bổ cho quốc gia chủ nhà sau:[15]

Thời gian bắt đầu trận chung kết được xác nhận vào ngày 24 tháng 10 năm 2022, 2 ngày sau lễ bốc thăm,[16] nhằm "tối ưu hóa các chi tiết cụ thể của trận đấu vì lợi ích của những cầu thủ nữ hỗ trợ, các đội và truyền thông".[17] Vào ngày 31 tháng 1 năm 2023, trận đấu giữa Úc và Cộng hòa Ireland xác nhận được chuyển từ Sân vận động bóng đá Sydney sang Sân vận động Olympic Sydney lớn hơn do nhu cầu mua vé tăng cao.[18]

Một khoảnh khắc mặc niệm dự kiến ​​sẽ diễn ra trước trận đấu để tưởng nhớ các nạn nhân của vụ xả súng hàng loạt xảy ra ở Khu Thương mại Trung tâm Auckland sớm hơn trong ngày.[19]

Tiền thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Ban đầu, FIFA xác định tổng số tiền thưởng của giải đấu sẽ là 60 triệu USD, tăng gấp đôi so với mùa giải trước.[20] Nhưng vào tháng 3 năm 2023, chủ tịch FIFA Gianni Infantino xác nhận tiền thưởng sẽ tăng thêm thành 110 triệu USD, lên gấp 3 lần so với giải đấu trước và bằng 1/3 số tiền thưởng tại World Cup 2022 trước đó.[21]

Ngày 8 tháng 6 năm 2023, FIFA đã xác nhận số tiền thưởng được phân bổ dành cho mỗi đội[22][23]. Ngoài ra, chủ tịch FIFA Gianni Infantino cũng cho biết mỗi cá nhân cầu thủ tham dự giải đấu sẽ nhận số tiền thưởng tùy theo thành tích. Tiền thưởng dành cho mỗi cầu thủ của mỗi đội được phân bổ như sau:[22][23]

Vị trí Số đội tuyển Số tiền (triệu USD)
Mỗi đội Mỗi cầu thủ Tổng số
Vô địch 1 $4,29 $0,27 $10,5
Á quân 1 $3,015 $0,195 $7,5
Hạng ba 1 $2,61 $0,18 $6,75
Hạng tư 1 $2,455 $0,165 $6,25
Hạng 5–8 (tứ kết) 4 $2,18 $0,09 $17
Hạng 9–16 (vòng 16 đội) 8 $1,87 $0,06 $26
Hạng 17–32 (vòng bảng) 16 $1,56 $0,03 $36
Tổng cộng 32 $110

Lựa chọn chủ nhà[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc đấu thầu cho Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2023 đã bắt đầu vào ngày 19 tháng 2 năm 2019.[24] Các hiệp hội thành viên quan tâm đến việc đăng cai giải đấu phải gửi tuyên bố quan tâm trước ngày 15 tháng 3 và cung cấp đăng ký đấu thầu hoàn chỉnh trước ngày 16 tháng 4 năm 2019. Tuy nhiên, FIFA đã sửa đổi lịch trình đấu thầu khi giải đấu mở rộng lên 32 đội vào ngày 31 tháng 7. Các hiệp hội thành viên khác quan tâm đến việc đăng cai tổ chức giải đấu hiện có đến ngày 16 tháng 8 phải gửi tuyên bố quan tâm, trong khi hạn chót cho việc hoàn thành đăng ký đấu thầu của các hiệp hội thành viên mới và xác nhận lại các nhà thầu trước đó là vào ngày 2 tháng 9.[25]

Ban đầu, 9 quốc gia thể hiện sự quan tâm đến việc đăng cai tổ chức sự kiện: Argentina, Úc, Bolivia, Brazil, Colombia, Nhật Bản, Hàn Quốc (quan tâm đến việc tham gia đấu thầu chung với Triều Tiên), New Zealand và Nam Phi.[26] Bỉ bày tỏ quan tâm đến việc đăng cai giải đấu theo đúng thời hạn mới nhưng sau đó đã bỏ ở Bolivia vào tháng 9 năm 2019.[27][28] Úc và New Zealand sau đó đã thông báo rằng họ sẽ hợp nhất các hồ sơ dự thầu của mình trong một bản đệ trình chung.[29] Brazil, ColombiaNhật Bản đã tham gia cùng họ để gửi gói thầu cho FIFA trước ngày 13 tháng 12.[30] Tuy nhiên, cả Brazil và Nhật Bản sau đó đều rút lại hồ sơ dự thầu vào tháng 6 năm 2020 trước cuộc bỏ phiếu cuối cùng.[31][32]

Vào ngày 25 tháng 6 năm 2020, Úc và New Zealand đã giành quyền đăng cai Giải vô địch bóng đá nữ thế giới.[33] Quyết định được đưa ra sau cuộc bỏ phiếu của Hội đồng FIFA, với những người trúng thầu thu được 22 phiếu bầu, trong khi Colombia được 13 phiếu.[34] Không quốc gia nào trước đó đã tổ chức một giải đấu cấp cao của FIFA.

Đây sẽ là Giải vô địch bóng đá nữ thế giới đầu tiên được tổ chức ở nhiều quốc gia và là giải đấu World Cup thứ hai được tổ chức như vậy, sau FIFA World Cup 2002. Đây cũng là Giải vô địch bóng đá nữ thế giới đầu tiên được tổ chức ở bán cầu nam, giải đấu cấp cao đầu tiên của FIFA được tổ chức ở Châu Đại Dương và là giải đấu đầu tiên của FIFA được tổ chức trên nhiều liên đoàn (với Úc thuộc AFC và New Zealand thuộc OFC). Úc là hiệp hội thứ hai từ AFC tổ chức Giải vô địch bóng đá nữ thế giới, sau Trung Quốc ở cả 19912007.

Đấu thầu Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2023 (đa số 18 phiếu bầu)
Quốc gia đấu thầu Bình chọn
Vòng 1
 Úc
 New Zealand
22
 Colombia 13
Bình chọn lại 2
Tổng cộng bình chọn 35

Các đội tham dự[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng loại[sửa | sửa mã nguồn]

Các liên đoàn của FIFA tổ chức trình độ của họ thông qua các giải vô địch châu lục, ngoại trừ UEFA tổ chức cuộc thi vòng loại của riêng họ. Úc và New Zealand, với tư cách là đồng chủ nhà, tự động đủ điều kiện cho giải đấu, khiến 207 hiệp hội thành viên FIFA còn lại tham gia vòng loại nếu họ chọn làm như vậy.[35] Mặc dù Úc tự động đủ điều kiện tham dự Giải vô địch bóng đá nữ thế giới với tư cách đồng chủ nhà, họ đã tham dự Cúp bóng đá nữ châu Á. Tuy nhiên, New Zealand sẽ không tham dự Cúp bóng đá nữ châu Đại Dương vì họ đã đủ điều kiện với tư cách đồng chủ nhà. Hội đồng FIFA đã đình chỉ Liên đoàn bóng đá Tchad sau quyết định của chính phủ về việc thu hồi vĩnh viễn quyền hạn được giao cho FTFA.[36] Rwanda rút lui trước trận lượt đi với lý do thiếu sự chuẩn bị do không có giải vô địch địa phương nào được tranh chấp kể từ năm 2018.[37] Sudan ban đầu tham gia vòng loại nhưng sau đó rút lui với lý do lo ngại về an ninh sau cuộc đảo chính Sudan.[38] Sau khi thất bại trong trận đấu lượt đi, CHDC Congo buộc phải rút lui khỏi vòng loại CAF.[39] São Tomé và Príncipe ban đầu tham gia vòng loại nhưng đã rút khỏi nó trước trận đấu đầu tiên của họ.[40] Kenya rút lui ở vòng hai của vòng loại khu vực châu Phi trước trận lượt đi.[41] Việc tiếp quản một cách thù địch trụ sở Liên đoàn bóng đá PakistanLahore đã khiến Hội đồng FIFA đình chỉ liên đoàn.[36] Triều Tiên rút lui khỏi vòng loại Asian Cup nữ do lo ngại về an toàn liên quan đến đại dịch COVID-19.[42] Turkmenistan cũng rút lui khỏi vòng loại, với lý do hạn chế đi lại liên quan đến đại dịch.[43] Iraq quyết định không tham gia.[44] Afghanistan rút khỏi vòng loại vào cuối tháng 9 vì sự tham gia của đội nữ không chắc chắn do Taliban tiếp quản đất nước.[45] Do đại dịch COVID-19 bùng nổ trong đội của họ, đội chủ nhà Asian Cup nữ, Ấn Độ đã rút khỏi giải.[46] Samoa thuộc Mỹ đã chọn không tham gia vòng loại do tiếp tục gặp khó khăn liên quan đến đại dịch.[47] Nga đã bị loại khỏi vòng loại World Cup nữ vì họ đã bị FIFA và UEFA cấm do Nga xâm lược Ukraina.[48]

Việc phân bổ vị trí cho mỗi liên đoàn đã được Hội đồng FIFA xác nhận vào ngày 25 tháng 12 năm 2020:[49]

(*) Các suất dành cho hai quốc gia đăng cai là ÚcNew Zealand được lấy trực tiếp từ hạn ngạch phân bổ cho liên minh của họ, AFC và OFC tương ứng.

10 đội sẽ tham dự vòng play-off liên lục địa để quyết định 3 suất còn lại tại vòng chung kết bao gồm:

  • AFC (Châu Á): 2 suất
  • CAF (Châu Phi): 2 suất
  • CONCACAF (Bắc, Trung Mỹ và Caribe): 2 suất
  • CONMEBOL (Nam Mỹ): 2 suất
  • OFC (Châu Đại Dương): 1 suất
  • UEFA (Châu Âu): 1 suất

Có 32 quốc gia đã đủ điều kiện tham dự vòng chung kết, trong đó có 20 quốc gia đã tranh tài tại giải đấu trước đó vào năm 2019. Bồ Đào Nha, Haiti, Maroc, Philippines, Việt Nam, Zambia, Cộng hòa IrelandCộng hòa Panama sẽ có lần đầu tiên dự Giải vô địch bóng đá nữ thế giới. Haiti, Việt Nam và Bồ Đào Nha trở thành lần đầu tiên góp mặt giải đấu FIFA dành cho nữ của các quốc gia, trước đó chỉ tham dự một số giải đấu bóng đá nam của FIFA. Zambia đã làm nên lịch sử với tư cách là quốc gia không giáp biển đầu tiên ở châu Phi đủ điều kiện tham dự World Cup ở cả hai giới, trong khi Maroc trở thành quốc gia Ả Rập đầu tiên giành quyền tham dự World Cup dành cho nữ. Cộng hòa Ireland và Philippines đánh dấu lần đầu tiên họ tham dự bất kỳ giải đấu cấp cao nào dành cho nữ. Đan Mạch sẽ trở lại Giải vô địch bóng đá nữ thế giới kể từ năm 2007. Costa Rica, ColombiaThụy Sĩ sẽ trở lại sau khi vắng bóng tại Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2019. Ý lần đầu tiên trong lịch sử giành quyền tham dự hai kỳ World Cup liên tiếp, sau ba lần xuất hiện lẻ tẻ vào các năm 1991, 1999 và 2019.

Thái Lan, Cameroon, ChileScotland, tất cả đều giành quyền tham dự Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2019 mà không vượt qua vòng loại để tham dự giải đấu năm 2023. Iceland là đội có xếp hạng cao nhất trong Bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA không vượt qua được vòng loại, xếp thứ 16 vào thời điểm đó.[a] Zambia là đội có xếp hạng thấp nhất vượt qua vòng loại, xếp thứ 81 vào thời điểm đó.

Bốc thăm[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ bốc thăm ​​diễn ra tại Trung tâm AoteaAuckland, (New Zealand) vào lúc 19:30 NZDT (UTC+13) (13:30 theo giờ Việt Nam), ngày 22 tháng 10 năm 2022, trước khi hoàn thành vòng loại.[50][11][51] Những đội thắng trận play-off liên lục địa sẽ không được xác định tại thời điểm bốc thăm.

Tuyển thủ Mỹ đã nghỉ hưu và từng 2 lần vô địch World Cup nữ Carli Lloyd và người dẫn chương trình thể thao quốc tế của CNN Amanda Davies đã tiến hành lễ bốc thăm. Mỗi liên đoàn có một cầu thủ quốc tế đã nghỉ hưu đại diện cho họ làm trợ lý bốc thăm: Maia Jackman của New Zealand cho OFC và Julie Dolan của Úc cho AFC cùng với các cầu thủ nam Ian Wright của Anh cho UEFA, Alexi Lalas của Hoa Kỳ cho CONCACAF, Geremi của Cameroon cho CAF và người vô địch World Cup 2002 Gilberto Silva của Brasil cho CONMEBOL. Người giành huy chương vàng Thế vận hội trượt tuyết Zoi Sadowski-Synnottcủa New Zealand và vận động viên giành huy chương vàng Olympic bơi lội 4 lần Cate Campbell của Úc cũng góp mặt trong bốc thăm.[52]

Để bốc thăm, 32 đội sẽ được phân bổ vào 4 hạt giống dựa trên bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA vào ngày 13 tháng 10 năm 2022.[53] Hạt giống số 1 sẽ có cả hai đội với tư cách đồng chủ nhà là New Zealand và Úc (cả hai đều tự động được xếp vào vị trí A1 và B1, tương ứng) cùng với sáu đội xuất sắc nhất. Hạt giống số 2 sẽ chứa 8 đội tốt nhất tiếp theo, với 8 đội tốt nhất tiếp theo được phân bổ vào hạt giống sau (hạt giống số 3). Hạt giống số 4 sẽ chứa các đội có thứ hạng thấp nhất, cùng với các phần giữ chỗ cho ba đội thắng trận play-off liên lục địa. Ngoại trừ UEFA, các đội từ cùng một liên đoàn không được bốc thăm vào cùng một bảng. Tuy nhiên, vì mỗi bảng đấu play-off liên lục địa sẽ chứa nhiều liên đoàn và đội chiến thắng không được xác định vào thời điểm đó, đội giữ chỗ có thể cung cấp một bảng có hai đội từ cùng một liên đoàn (trừ liên đoàn của đội được xếp hạt giống). Riêng bảng đấu play-off có đội thuộc UEFA (Bồ Đào Nha) không được bốc thăm vào cùng bảng có hai đội UEFA. Việc bốc thăm sẽ bắt đầu với nhóm hạt giống số 1 và kết thúc với nhóm hạt giống số 4, với đội được chọn sẽ được phân bổ vào hạt giống có sẵn đầu tiên theo thứ tự bảng chữ cái. Các đội hạt giống số 1 sẽ tự động được bốc thăm vào vị trí 1 của mỗi hạt giống, các vị trí sau sẽ được rút ra cho các hạt giống còn lại.[54]

Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3 Nhóm 4
 New Zealand (22) (chủ nhà)
 Úc (13) (chủ nhà)
 Hoa Kỳ (1)
 Thụy Điển (2)
 Đức (3)
 Anh (4)
 Pháp (5)
 Tây Ban Nha (6)
 Canada (7)
 Hà Lan (8)
 Brasil (9)
 Nhật Bản (11)
 Na Uy (12)
 Ý (14)
 Trung Quốc (15)
 Hàn Quốc (17)
 Đan Mạch (18)
 Thụy Sĩ (21)
 Cộng hòa Ireland (24)
 Colombia (27)
 Argentina (29)
 Việt Nam (34)
 Costa Rica (37)
 Jamaica (43)
 Nigeria (45)
 Philippines (53)
 Nam Phi (54)
 Maroc (76)
 Zambia (81)
 Bồ Đào Nha (23)[b]
 Haiti (56)[c]
 Panama (57)[d]
  • Ghi chú
  1. ^ CHDCND Triều Tiên xếp thứ 10 bảng xếp hạng, rút lui khỏi vòng loại
  2. ^ Đội thắng play-off Bảng A, đội không được xác định tại thời điểm bốc thăm.
  3. ^ Đội thắng play-off Bảng B, đội không được xác định tại thời điểm bốc thăm.
  4. ^ Đội thắng play-off Bảng C, đội không được xác định tại thời điểm bốc thăm.

Đội hình[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi đội phải cung cấp cho FIFA một đội hình sơ bộ từ 35 đến 55 cầu thủ, đội hình này sẽ không được FIFA công bố. Từ đội hình sơ bộ, mỗi đội phải điền tên vào kết quả đội hình gồm 23 cầu thủ (trong đó có 3 thủ môn) trước ngày 9 tháng 7 năm 2023. Các cầu thủ khác trong kết quả đội hình có thể được thay thế bằng một cầu thủ trong đội hình sơ bộ do chấn thương hoặc bệnh nặng tối đa 24 giờ trước khi bắt đầu trận đấu đầu tiên của đội.[55]

Địa điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Úc và New Zealand đã đề xuất 13 địa điểm có thể có trên 12 thành phố đăng cai tổ chức giải đấu trong sổ thầu được đệ trình lên FIFA, đề xuất sử dụng tối thiểu 10 sân vận động — 5 sân vận động ở mỗi quốc gia.[56] Đề xuất ban đầu của đấu thầu chung sẽ cho thấy các địa điểm được chia thành ba vùng du lịch chính: vùng phía Nam Úc chứa Perth, Adelaide, Launceston và Melbourne, vùng phía Đông Úc bao gồm Brisbane, Newcastle, Sydney, Melbourne và Launceston và vùng New Zealand chứa Auckland, Hamilton, Wellington, Christchurch và Dunedin. Sân vận động bóng đá Sydney (Úc) là sân vận động mới duy nhất trong cuộc đấu thầu đang được cải tạo lớn thay thế sân vận động bóng đá cũ trên cùng địa điểm.

Đánh giá đấu thầu được FIFA phát hành vào ngày 10 tháng 6 năm 2020, trong đó lưu ý rằng phần lớn các sân vận động được liệt kê trong hồ sơ dự thầu đáp ứng các yêu cầu đăng cai của FIFA về sức chứa, ngoại trừ Adelaide và Auckland không đáp ứng yêu cầu tối thiểu về sức chứa cho các giai đoạn của cạnh tranh được đề xuất cho.[57] Hầu hết các sân vận động được giới thiệu trong cuộc đấu thầu, được lên kế hoạch cải tạo nhỏ với hệ thống đèn pha mới, cải tạo sân và phòng thay đồ phân biệt giới tính để kịp thời gian diễn ra giải đấu.

Vào ngày 31 tháng 3 năm 2021, FIFA đã công bố các lựa chọn địa điểm và thành phố đăng cai cuối cùng. Năm thành phố và sáu sân vận động sẽ được sử dụng ở Úc, cùng bốn thành phố và sân vận động ở New Zealand. Từ các địa điểm được đề xuất, NewcastleLaunceston đã không được chọn ở Úc, và Christchurch đã bị bỏ qua ở New Zealand. Eden ParkAuckland sẽ tổ chức trận khai mạc, còn Sân vận động AustraliaSydney sẽ tổ chức trận chung kết World Cup nữ 2023.[58][59] Các thành phố sẽ đồng thời sử dụng tên bản ngữ (Thổ ngữ Úc và tiếng Māori ở New Zealand) song song với tiếng Anh trong quá trình quảng bá giải nhằm "hòa giải và tôn trọng những chủ nhân chính gốc của vùng đất này".

Eden Park, Aucklandsân vận động bóng đá Sydney, Sydney sẽ tổ chức các trận khai mạc (vòng bảng), sẽ thi đấu từ ngày 20 tháng 7 năm 2023 đến ngày 3 tháng 8 năm 2023. Lang Park, BrisbaneSân vận động Australia, Sydney sẽ tổ chức trận tranh hạng ba và trận chung kết. sẽ được tổ chức lần lượt vào ngày 19 và 20 tháng 8 năm 2023.[60]

Úc Úc New Zealand New Zealand
Sydney Brisbane Auckland Wellington
Sân vận động Australia Sân vận động bóng đá Sydney Lang Park Eden Park Sân vận động Khu vực Wellington
Sức chứa: 83.500[61] Sức chứa: 42.512[62] Sức chứa: 52.263[63] Sức chứa: 48.276[64] Sức chứa: 39.000[65]

Các thành phố chủ nhà của Úc

Các thành phố chủ nhà của New Zealand

Melbourne Perth Adelaide Dunedin Hamilton
Sân vận động Melbourne Rectangular Sân vận động Perth Rectangular Sân vận động Hindmarsh Sân vận động Forsyth Barr Sân vận động Waikato
Sức chứa: 30.052[66] Sức chứa: 22.225[67] Sức chứa: 16.500 (có thể mở rộng lên 18.435)[68] Sức chứa: 28.744[69] Sức chứa: 25.111[70]

Trại đóng quân

Các trại căn cứ sẽ được 32 đội tuyển quốc gia sử dụng để ở và huấn luyện trước và trong giải đấu World Cup nữ. FIFA đã công bố các khách sạn và địa điểm tập luyện cho 29 đội tham dự vào ngày 11 tháng 12 năm 2022, với 3 đội còn lại chọn trại đóng quân của họ sau vòng loại giải đấu play-off.[71]

Trọng tài[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 1 năm 2023, Ủy ban trọng tài FIFA công bố danh sách 33 trọng tài, 55 trợ lý trọng tài và 19 trợ lý trọng tài video cho giải đấu.[72]

Lần đầu tiên tại Giải vô địch bóng đá nữ thế giới, 6 nữ trợ lý trọng tài video cũng được bổ nhiệm.

Danh sách trọng tài
Liên đoàn Trọng tài Trợ lý trọng tài Trợ lý trọng tài video
AFC Kate Jacewicz (Úc) Mohammadreza Abolfazli (Iran)

Bozono Makoto (Nhật Bản)
Joanna Charaktis (Úc)
Kim Kyoung-min (Hàn Quốc)
Lee Seul-gi (Hàn Quốc)
Park Misuk (Hàn Quốc)
Heba Saadia (Palestine)
Teshirogi Naomi (Nhật Bản)
Ramina Tsoi (Kyrgyzstan)
Xie Lijun (Trung Quốc)

Abdulla Al-Marri (Qatar)

Chris Beath (Úc)
Muhammad Taqi (Singapore)

Kim Yu-jeong (Hàn Quốc)
Oh Hyeon-jeong (Hàn Quốc)
Casey Reibelt (Úc)
Yoshimi Yamashita (Nhật Bản)
CAF Vincentia Amedome (Togo) Carine Atezambong Fomo (Cameroon)

Diana Chikotesha (Zambia)
Soukaina Hamdi (Maroc)
Fatiha Jermoumi (Maroc)
Fanta Kone (Mali)
Mary Njoroge (Kenya)
Queency Victoire (Mauritius)

Bouchra Karboubi (Maroc)
Akhona Makalima (Nam Phi)
Salima Mukansanga (Rwanda)
CONCACAF Marianela Araya (Costa Rica) Chantal Boudreau (Canada)
Enedina Caudillo (Mexico)

Karen Diaz Medína (Mexico)
Felisha Mariscal (Hoa Kỳ)
Brooke Mayo (Hoa Kỳ)
Kathryn Nesbitt (Hoa Kỳ)
Shirley Perello (Honduras)
Sandra Ramirez (Mexico)
Mijensa Rensch (Suriname)
Stephanie Yee Sing (Jamaica)

Carol Anne Chenard (Canada)

Drew Fischer (Canada)
Tatiana Guzman (Nicaragua)
Armando Villarreal (Hoa Kỳ)

Marie-Soleil Beaudoin (Canada)
Melissa Borjas (Honduras)
Katia García (Mexico)
Katja Koroleva (Hoa Kỳ)
Myriam Marcotte (Canada)
Tori Penso (Hoa Kỳ)
CONMEBOL Edina Alves Batista (Brasil) Monica Amboya (Ecuador)

Neuza Back (Brasil)
Mary Blanco Bolívar (Colombia)
Mariana de Almeida (Argentina)
Daiana Milone (Argentina)
Leila Moreira da Cruz (Brasil)
Migdalia Rodríguez Chirino (Venezuela)
Loreto Toloza (Chile)
Leslie Vásquez (Chile)

Salomé Di Iorio (Argentina)

Nicolás Gallo (Colombia)
Daiane Muniz dos Santos (Brasil)
Juan Soto (Venezuela)

Emikar Calderas Barrera (Venezuela)
María Carvajal (Chile)
Anahi Fernandez (Uruguay)
Laura Fortunato (Argentina)
OFC Anna-Marie Keighley (New Zealand) Sarah Jones (New Zealand)

Maria Salamasina (Samoa)

UEFA Iuliana Demetrescu (Romania) Natalie Aspinall (Anh)

Paulina Baranowska (Ba Lan)
Élodie Coppola (Pháp)
Francesca Di Monte (Ý)
Polyxeni Irodotou (Síp)
Karolin Kaivoja (Estonia)
Chrysoula Kourompylia (Hy Lạp)
Susanne Küng (Thụy Sĩ)
Manuela Nicolosi (Pháp)
Michelle O'Neill (Ireland)
Franca Overtoom (Hà Lan)
Guadalupe Porras Ayuso (Tây Ban Nha)
Katrin Rafalski (Đức)
Lucie Ratajová (Cộng hòa Séc)
Sanja Rođak-Karšić (Croatia)
Maryna Striletska (Ukraina)
Mihaela Tepusa (Romania)
Anita Vad (Hungary)

Ella De Vries (Bỉ)

Marco Fritz (Đức)
Alejandro Hernández Hernández (Tây Ban Nha)
Massimiliano Irrati (Ý)
Juan Martínez Munuera (Tây Ban Nha)
Sian Massey-Ellis (Anh)
Pol van Boekel (Hà Lan)

Maria Sole Ferrieri Caputi (Ý)
Cheryl Foster (Wales)
Stéphanie Frappart (Pháp)
Marta Huerta de Aza (Tây Ban Nha)
Lina Lehtovaara (Phần Lan)
Ivana Martinčić (Croatia)
Kateryna Monzul (Ukraina)
Tess Olofsson (Thụy Điển)
Esther Staubli (Thụy Sĩ)
Rebecca Welch (Anh)

Vòng bảng[sửa | sửa mã nguồn]

32 đội tuyển quốc gia sẽ được chia thành 8 bảng đấu, 4 đội (bảng A đến H). Các đội ở mỗi bảng sẽ thi đấu vòng tròn một lượt tính điểm, chọn 2 đội đứng đầu sẽ vào vòng đấu loại trực tiếp.[73]

Tiêu chí hòa giải cho chơi theo nhóm
Thứ hạng của các đội tại vòng bảng được xác định như sau:[73]
  1. Điểm thu được trong tất cả các trận đấu vòng bảng (3 điểm cho một trận thắng, 1 điểm cho một trận hòa, 0 điểm cho một trận thua);
  2. Hiệu số bàn thắng thua trong tất cả các trận đấu vòng bảng;
  3. Số bàn thắng ghi được trong tất cả các trận đấu vòng bảng;
  4. Điểm thu được trong các trận đấu giữa các đội liên quan;
  5. Hiệu số bàn thắng thua trong các trận đấu giữa các đội liên quan;
  6. Số bàn thắng ghi được trong các trận đấu giữa các đội liên quan;
  7. Điểm kỷ luật trong tất cả các trận đấu vòng bảng (chỉ có thể áp dụng một điểm trừ cho một người chơi trong một trận đấu duy nhất):
    • −1 điểm nếu có thẻ vàng;
    • −3 điểm nếu có thẻ đỏ gián tiếp (thẻ vàng thứ hai);
    • −4 điểm nếu có thẻ đỏ trực tiếp;
    • −5 điểm nếu có thẻ vàng và thẻ đỏ trực tiếp) ;
  8. Bốc thăm.

Bảng A[sửa | sửa mã nguồn]

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự
1  Thụy Sĩ 3 1 2 0 2 0 +2 5 Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp
2  Na Uy 3 1 1 1 6 1 +5 4
3  New Zealand (H) 3 1 1 1 1 1 0 4
4  Philippines 3 1 0 2 1 8 −7 3
Nguồn: FIFA
(H) Chủ nhà
New Zealand 1–0 Na Uy
Chi tiết
Khán giả: 42.137
Trọng tài: Yoshimi Yamashita (Nhật Bản)
Philippines 0–2 Thụy Sĩ
Chi tiết
Khán giả: 13.711
Trọng tài: Vincentia Amedome (Togo)

New Zealand 0–1 Philippines
Chi tiết
Khán giả: 32.357
Trọng tài: Katia García (México)
Thụy Sĩ 0–0 Na Uy
Chi tiết
Khán giả: 10.769
Trọng tài: Stéphanie Frappart (Pháp)

Thụy Sĩ 0–0 New Zealand
Chi tiết
Khán giả: 25.947
Trọng tài: Tori Penso (Hoa Kỳ)
Na Uy 6–0 Philippines
Chi tiết
Khán giả: 34.697
Trọng tài: Marie-Soleil Beaudoin (Canada)

Bảng B[sửa | sửa mã nguồn]

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự
1  Úc (H) 3 2 0 1 7 3 +4 6 Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp
2  Nigeria 3 1 2 0 3 2 +1 5
3  Canada 3 1 1 1 2 5 −3 4
4  Cộng hòa Ireland 3 0 1 2 1 3 −2 1
Nguồn: FIFA
(H) Chủ nhà
Úc 1–0 Cộng hòa Ireland
Chi tiết
Khán giả: 75.784
Trọng tài: Edina Alves Batista (Brasil)
Nigeria 0–0 Canada
Chi tiết
Khán giả: 21.410
Trọng tài: Lina Lehtovaara (Phần Lan)

Canada 2–1 Cộng hòa Ireland
Chi tiết
Khán giả: 17.065
Trọng tài: Laura Fortunato (Argentina)
Úc 2–3 Nigeria
Chi tiết
Khán giả: 49.156
Trọng tài: Esther Staubli (Thụy Sĩ)

Canada 0–4 Úc
Chi tiết
Khán giả: 27.706
Trọng tài: Stéphanie Frappart (Pháp)
Cộng hòa Ireland 0–0 Nigeria
Chi tiết
Khán giả: 24.884
Trọng tài: Katia García (México)

Bảng C[sửa | sửa mã nguồn]

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự
1  Nhật Bản 3 3 0 0 11 0 +11 9 Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp
2  Tây Ban Nha 3 2 0 1 8 4 +4 6
3  Zambia 3 1 0 2 3 11 −8 3
4  Costa Rica 3 0 0 3 1 8 −7 0
Nguồn: FIFA
Tây Ban Nha 3–0 Costa Rica
Chi tiết
Khán giả: 22.966
Trọng tài: Casey Reibelt (Úc)
Zambia 0–5 Nhật Bản
Chi tiết
Khán giả: 16.111
Trọng tài: Tess Olofsson (Thụy Điển)

Nhật Bản 2–0 Costa Rica
Chi tiết
Khán giả: 6.992
Trọng tài: Maria Sole Ferrieri Caputi (Ý)
Tây Ban Nha 5–0 Zambia
Chi tiết
Khán giả: 20.983
Trọng tài: Oh Hyeon-jeong (Hàn Quốc)

Nhật Bản 4–0 Tây Ban Nha
Chi tiết
Khán giả: 20.957
Trọng tài: Katja Koroleva (Hoa Kỳ)
Costa Rica 1–3 Zambia
Melissa  47' Chi tiết
Khán giả: 8.117
Trọng tài: Bouchra Karboubi (Maroc)

Bảng D[sửa | sửa mã nguồn]

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự
1  Anh 3 3 0 0 8 1 +7 9 Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp
2  Đan Mạch 3 2 0 1 3 1 +2 6
3  Trung Quốc 3 1 0 2 2 7 −5 3
4  Haiti 3 0 0 3 0 4 −4 0
Nguồn: FIFA
Anh 1–0 Haiti
Chi tiết
Khán giả: 44.369
Trọng tài: Emikar Caldera Barrera (Venezuela)
Đan Mạch 1–0 Trung Quốc
Chi tiết
Khán giả: 16.989
Trọng tài: Marie-Soleil Beaudoin (Canada)

Anh 1–0 Đan Mạch
Chi tiết
Khán giả: 40.439
Trọng tài: Tess Olofsson (Thụy Điển)
Trung Quốc 1–0 Haiti
Chi tiết
Khán giả: 12.675
Trọng tài: Marta Huerta de Aza (Tây Ban Nha)

Trung Quốc 1–6 Anh
Chi tiết
Khán giả: 13.497
Trọng tài: Casey Reibelt (Úc)
Haiti 0–2 Đan Mạch
Chi tiết
Khán giả: 17.897
Trọng tài: Oh Hyeon-jeong (Hàn Quốc)

Bảng E[sửa | sửa mã nguồn]

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự
1  Hà Lan 3 2 1 0 9 1 +8 7 Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp
2  Hoa Kỳ 3 1 2 0 4 1 +3 5
3  Bồ Đào Nha 3 1 1 1 2 1 +1 4
4  Việt Nam 3 0 0 3 0 12 −12 0
Nguồn: FIFA
Hoa Kỳ 3–0 Việt Nam
Chi tiết
Khán giả: 41.107
Trọng tài: Bouchra Karboubi (Maroc)
Hà Lan 1–0 Bồ Đào Nha
Chi tiết
Khán giả: 11.991
Trọng tài: Kateryna Monzul (Ukraina)

Hoa Kỳ 1–1 Hà Lan
Chi tiết
Khán giả: 27.312
Trọng tài: Yoshimi Yamashita (Nhật Bản)
Bồ Đào Nha 2–0 Việt Nam
Chi tiết
Khán giả: 6.645
Trọng tài: Salima Mukansanga (Rwanda)

Bồ Đào Nha 0–0 Hoa Kỳ
Chi tiết
Khán giả: 42.958
Trọng tài: Rebecca Welch (Anh)
Việt Nam 0–7 Hà Lan
Chi tiết
Khán giả: 8.215
Trọng tài: Ivana Martinčić (Croatia)

Bảng F[sửa | sửa mã nguồn]

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự
1  Pháp 3 2 1 0 8 4 +4 7 Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp
2  Jamaica 3 1 2 0 1 0 +1 5
3  Brasil 3 1 1 1 5 2 +3 4
4  Panama 3 0 0 3 3 11 −8 0
Nguồn: FIFA
Pháp 0–0 Jamaica
Chi tiết
Khán giả: 39.045
Trọng tài: María Carvajal (Chile)
Brasil 4–0 Panama
Chi tiết
Khán giả: 13.142
Trọng tài: Cheryl Foster (Wales)

Pháp 2–1 Brasil
Chi tiết
Khán giả: 49.378
Trọng tài: Kate Jacewicz (Úc)
Panama 0–1 Jamaica
Chi tiết
Khán giả: 15.987
Trọng tài: Kateryna Monzul (Ukraina)

Panama 3–6 Pháp
Chi tiết
Khán giả: 40.498
Trọng tài: Laura Fortunato (Argentina)
Jamaica 0–0 Brasil
Chi tiết
Khán giả: 27.638
Trọng tài: Esther Staubli (Thụy Sĩ)

Bảng G[sửa | sửa mã nguồn]

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự
1  Thụy Điển 3 3 0 0 9 1 +8 9 Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp
2  Nam Phi 3 1 1 1 6 6 0 4
3  Ý 3 1 0 2 3 8 −5 3
4  Argentina 3 0 1 2 2 5 −3 1
Nguồn: FIFA
Thụy Điển 2–1 Nam Phi
Chi tiết Magaia  48'
Khán giả: 18.317
Trọng tài: Katja Koroleva (Hoa Kỳ)
Ý 1–0 Argentina
Girelli  87' Chi tiết
Khán giả: 30.889
Trọng tài: Melissa Borjas (Honduras)

Argentina 2–2 Nam Phi
Chi tiết
Khán giả: 8.834
Trọng tài: Anna-Marie Keighley (New Zealand)
Thụy Điển 5–0 Ý
Chi tiết
Khán giả: 29.143
Trọng tài: Cheryl Foster (Wales)

Argentina 0–2 Thụy Điển
Chi tiết
Khán giả: 17.907
Trọng tài: Salima Mukansanga (Rwanda)
Nam Phi 3–2 Ý
Chi tiết Caruso  11' (ph.đ.)74'
Khán giả: 14.967
Trọng tài: María Carvajal (Chile)

Bảng H[sửa | sửa mã nguồn]

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự
1  Colombia 3 2 0 1 4 2 +2 6 Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp
2  Maroc 3 2 0 1 2 6 −4 6
3  Đức 3 1 1 1 8 3 +5 4
4  Hàn Quốc 3 0 1 2 1 4 −3 1
Nguồn: FIFA
Đức 6–0 Maroc
Chi tiết
Khán giả: 27.256
Trọng tài: Tori Penso (Hoa Kỳ)
Colombia 2–0 Hàn Quốc
Chi tiết
Khán giả: 24.323
Trọng tài: Rebecca Welch (Anh)

Đức 1–2 Colombia
Popp  89' (ph.đ.) Chi tiết
Khán giả: 40.499
Trọng tài: Melissa Borjas (Honduras)
Hàn Quốc 0–1 Maroc
Chi tiết Jraïdi  6'
Khán giả: 12.886
Trọng tài: Edina Alves Batista (Brasil)

Hàn Quốc 1–1 Đức
Cho So-hyun  6' Chi tiết Popp  42'
Khán giả: 38.945
Trọng tài: Anna-Marie Keighley (New Zealand)
Maroc 1–0 Colombia
Lahmari  45+4' Chi tiết
Khán giả: 17.342
Trọng tài: Maria Sole Ferrieri Caputi (Ý)

Vòng đấu loại trực tiếp[sửa | sửa mã nguồn]

Ở vòng đấu loại trực tiếp, nếu một trận đấu hòa hết 90 phút của thời gian thi đấu bình thường thì sẽ thi đấu hiệp phụ (hai hiệp, mỗi hiệp 15 phút). Nếu tỷ số vẫn hòa sau hiệp phụ, đội thắng sẽ được phân định bằng loạt sút luân lưu.

Sơ đồ[sửa | sửa mã nguồn]

 
Vòng 16 độiTứ kếtBán kếtChung kết
 
              
 
5 tháng 8 – Auckland
 
 
 Thụy Sĩ1
 
11 tháng 8 – Wellington
 
 Tây Ban Nha5
 
 Tây Ban Nha (s.h.p.)2
 
6 tháng 8 – Sydney (Úc)
 
 Hà Lan1
 
 Hà Lan2
 
15 tháng 8 – Auckland
 
 Nam Phi0
 
 Tây Ban Nha2
 
5 tháng 8 – Wellington
 
 Thụy Điển1
 
 Nhật Bản3
 
11 tháng 8 – Auckland
 
 Na Uy1
 
 Nhật Bản1
 
6 tháng 8 – Melbourne
 
 Thụy Điển2
 
 Thụy Điển (p)0 (5)
 
20 tháng 8 – Sydney (Úc)
 
 Hoa Kỳ0 (4)
 
 Tây Ban Nha1
 
7 tháng 8 – Sydney (Úc)
 
 Anh0
 
 Úc2
 
12 tháng 8 – Brisbane
 
 Đan Mạch0
 
 Úc (p)0 (7)
 
8 tháng 8 – Adelaide
 
 Pháp0 (6)
 
 Pháp4
 
16 tháng 8 – Sydney (Úc)
 
 Maroc0
 
 Úc1
 
7 tháng 8 – Brisbane
 
 Anh3 Tranh hạng ba
 
 Anh (p)0 (4)
 
12 tháng 8 – Sydney (Úc)19 tháng 8 – Brisbane
 
 Nigeria0 (2)
 
 Anh2 Thụy Điển2
 
8 tháng 8 – Melbourne
 
 Colombia1  Úc0
 
 Colombia1
 
 
 Jamaica0
 

Vòng 16 đội[sửa | sửa mã nguồn]

Thụy Sĩ 1–5 Tây Ban Nha
Chi tiết
Khán giả: 43.217
Trọng tài: Cheryl Foster (Wales)

Nhật Bản 3–1 Na Uy
Chi tiết
Khán giả: 33.042
Trọng tài: Edina Alves Batista (Brasil)

Hà Lan 2–0 Nam Phi
Chi tiết
Khán giả: 40.233
Trọng tài: Yoshimi Yamashita (Nhật Bản)


Anh 0–0 Nigeria
Chi tiết
Loạt sút luân lưu
4–2
Khán giả: 49.461
Trọng tài: Melissa Borjas (Honduras)

Úc 2–0 Đan Mạch
Chi tiết
Khán giả: 75.784
Trọng tài: Rebecca Welch (Anh)

Colombia 1–0 Jamaica
Chi tiết
Khán giả: 27.706
Trọng tài: Kate Jacewicz (Úc)

Pháp 4–0 Maroc
Chi tiết
Khán giả: 13.557
Trọng tài: Tori Penso (Hoa Kỳ)

Tứ kết[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Ban Nha 2–1 (s.h.p.) Hà Lan
Chi tiết
Khán giả: 32.021
Trọng tài: Stéphanie Frappart (Pháp)

Nhật Bản 1–2 Thụy Điển
Chi tiết
Khán giả: 43.217
Trọng tài: Esther Staubli (Thụy Sĩ)

Úc 0–0 Pháp
Chi tiết
Loạt sút luân lưu
7–6
Khán giả: 49.461
Trọng tài: María Carvajal (Chile)

Anh 2–1 Colombia
Chi tiết
Khán giả: 75.784
Trọng tài: Katja Koroleva (Hoa Kỳ)

Bán kết[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Ban Nha 2–1 Thụy Điển
Chi tiết
Khán giả: 43.217
Trọng tài: Edina Alves Batista (Brasil)

Úc 1–3 Anh
Chi tiết
Khán giả: 75.784
Trọng tài: Tori Penso (Hoa Kỳ)

Trận tranh hạng ba[sửa | sửa mã nguồn]

Thụy Điển 2–0 Úc
Chi tiết
Khán giả: 49.461
Trọng tài: Cheryl Foster (Wales)

Chung kết[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Ban Nha 1–0 Anh
Chi tiết
Khán giả: 75.784
Trọng tài: Tori Penso (Hoa Kỳ)

Vô địch[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch World Cup 2023

Tây Ban Nha
Lần thứ nhất

Thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ ghi bàn[sửa | sửa mã nguồn]

Đã có 164 bàn thắng ghi được trong 64 trận đấu, trung bình 2.56 bàn thắng mỗi trận đấu.

5 bàn thắng

4 bàn thắng

3 bàn thắng

2 bàn thắng

1 bàn thắng

1 bàn phản lưới nhà

Nguồn: ESPN

Kiến tạo[sửa | sửa mã nguồn]

3 kiến tạo

2 kiến tạo

1 kiến tạo

Nguồn: ESPN

Kỷ luật[sửa | sửa mã nguồn]

Một cầu thủ hoặc quan chức của đội sẽ tự động bị treo giò trận tiếp theo nếu vi phạm các lỗi sau:[73]

  • Nhận thẻ đỏ (thời gian treo giò có thể kéo dài nếu phạm lỗi nghiêm trọng)
  • Nhận 2 thẻ vàng trong 2 trận đấu; thẻ vàng đã bị xóa sau khi trận đấu kết thúc (thẻ vàng không áp dụng cho bất kỳ trận đấu quốc tế nào khác trong tương lai)

Các đình chỉ sau đây đã được thực hiện trong suốt giải đấu:

Cầu thủ/Quan chức Vi phạm Đình chỉ
Nigeria Deborah Abiodun Thẻ đỏ Bảng B gặp Canada (lượt trận 1; 21 tháng 7) Bảng B gặp Úc (lượt trận 2; 27 tháng 7)
Bảng B gặp Cộng hòa Ireland (lượt trận 3; 31 tháng 7)
Vòng 16 đội gặp Anh (7 tháng 8)
Zambia Catherine Musonda Thẻ vàng Thẻ vàng-đỏ (thẻ đỏ gián tiếp) Bảng C gặp Nhật Bản (lượt trận 1; 22 tháng 7) Bảng C gặp Tây Ban Nha (lượt trận 2; 26 tháng 7)
Jamaica Khadija Shaw Thẻ vàng Thẻ vàng-đỏ (thẻ đỏ gián tiếp) Bảng F gặp Pháp (lượt trận 1; 23 tháng 7) Bảng F gặp Panama (lượt trận 2; 29 tháng 7)
Argentina Miriam Mayorga Thẻ vàng Bảng G gặp Ý (lượt trận 1; 24 tháng 7)
Thẻ vàng Bảng G gặp Nam Phi (lượt trận 2; 28 tháng 7)
Bảng G gặp Thụy Điển (lượt trận 3; 2 tháng 8)
Cộng hòa Nam Phi Kholosa Biyana Thẻ vàng Bảng G gặp Thụy Điển (lượt trận 1; 23 tháng 7)
Thẻ vàng Bảng G gặp Argentina (lượt trận 2; 28 tháng 7)
Bảng G gặp Ý (lượt trận 3; 2 tháng 8)
Trung Quốc Zhang Rui Thẻ đỏ Bảng D gặp Haiti (lượt trận 2; 28 tháng 7) Bảng D gặp Anh (lượt trận 3; 1 tháng 8)
Philippines Sofia Harrison Thẻ đỏ Bảng A gặp Na Uy (lượt trận 3; 30 tháng 7) Đình chỉ sau giải đấu
Hoa Kỳ Rose Lavelle Thẻ vàng Bảng E gặp Hà Lan (lượt trận 2; 27 tháng 7)
Thẻ vàng Bảng E gặp Bồ Đào Nha (lượt trận 3; 1 tháng 8)
Vòng 16 đội gặp Thụy Điển (6 tháng 8)
Colombia Manuela Vanegas Thẻ vàng Bảng H gặp Hàn Quốc (lượt trận 1; 25 tháng 7)
Thẻ vàng Bảng H gặp Maroc (lượt trận 3; 3 tháng 8)
Vòng 16 đội gặp Jamaica (8 tháng 8)
Hà Lan Daniëlle van de Donk Thẻ vàng Bảng E gặp Bồ Đào Nha (lượt trận 1; 23 tháng 7)
Thẻ vàng Vòng 16 đội gặp Nam Phi (6 tháng 8)
Tứ kết gặp Tây Ban Nha (11 tháng 8)
Anh Lauren James Thẻ đỏ Vòng 16 đội gặp Nigeria (7 tháng 8) Tứ kết gặp Colombia (12 tháng 8)
Bán kết gặp Úc (16 tháng 8)
Tây Ban Nha Oihane Hernández Thẻ vàng Bảng C gặp Nhật Bản (lượt trận 3; 31 tháng 7)
Thẻ vàng Tứ kết gặp Hà Lan (11 tháng 8)
Bán kết gặp Thụy Điển (15 tháng 8)

Bảng xếp hạng giải đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Theo quy ước thống kê trong bóng đá, các trận đấu phải quyết định bằng hiệp phụ được tính là thắng thua, trong khi các trận đấu quyết định bằng loạt luân lưu 11m được tính là hòa.

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Kết quả chung cuộc
1  Tây Ban Nha 7 6 0 1 18 7 +11 18 Vô địch
2  Anh 7 5 1 1 13 4 +9 16 Á quân
3  Thụy Điển 7 5 1 1 14 4 +10 16 Hạng ba
4  Úc 7 3 1 3 10 8 +2 10 Hạng tư
5  Nhật Bản 5 4 0 1 15 3 +12 12 Bị loại ở
tứ kết
6  Pháp 5 3 2 0 12 4 +8 11
7  Hà Lan 5 3 1 1 12 3 +9 10
8  Colombia 5 3 0 2 6 4 +2 9
9  Hoa Kỳ 4 1 3 0 4 1 +3 6 Bị loại ở
vòng 16 đội
10  Nigeria 4 1 3 0 3 2 +1 6
11  Đan Mạch 4 2 0 2 3 3 0 6
12  Maroc 4 2 0 2 2 10 −8 6
13  Jamaica 4 1 2 1