Gia tộc người Hoa

Gia tộc người Hoa (Chinese kin) là một cấu trúc tổ chức xã hội truyền thống của người Hoa được xây dựng dựa trên mối liên hệ huyết thống dòng dõi phụ hệ, những người có chung một tổ tiên, mang cùng một tên họ và có gốc gác từ Trung Quốc. Cấu trúc này lấy dòng dõi phụ hệ làm trung tâm, nơi người đàn ông giữ vai trò tộc trưởng, quyết định các vấn đề trọng đại của gia đình và dòng họ, các thành viên gia tộc có nghĩa vụ tuân thủ những quy tắc, gia phong, gia quy đã được định sẵn và có bổn phận đóng góp coi sóc hương hỏa.[1][2] Gia tộc Hoa không chỉ là một cấu trúc gia đình mở rộng[3] mà còn là một đơn vị cộng đồng tự quản, tự trị nội bộ và cát cứ do sự đoàn kết chặt chẽ, tương trợ lẫn nhau trong kinh doanh và đời sống,[4] đồng thời bảo tồn mạnh mẽ các giá trị văn hóa, tín ngưỡng và phong tục truyền thống của tổ tiên. Cấu trúc gia tộc Hoa được coi là một trong những loại hình gia đình có ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội và chính trị sở tại. Trong hoạt động kinh tế mậu dịch, các gia tộc Hoa thường xây dựng các mạng lưới kinh doanh (mạng lưới tre) dựa trên uy tín (chữ "tín") và sự tín nhiệm trong cộng đồng, giúp họ đạt được những thành tựu và thành công.
Đặc điểm
[sửa | sửa mã nguồn]Các hội tông tộc người Hoa còn được gọi là các hội thân tộc hay hội thờ cúng tổ tiên (Tông tộc thân hội/宗族社会;/宗族社會/Zōngzú shèhuì hay 宗族协会/宗族協會/Zōngzú xiéhuì) là một loại hình tổ chức quan hệ xã hội được tìm thấy trong các nhóm dân tộc Hán và là đơn vị cơ bản của tôn giáo thờ cúng tổ tiên người Hoa. Họ tập hợp những người có cùng họ thuộc cùng một tộc, những người thường có cùng nguồn gốc địa lý (quê cha đất tổ), và do đó có cùng vị thần bảo hộ. Họ không được xem là tách biệt khỏi chính tông tộc người Hoa, mà đúng hơn là hình thức tập đoàn của dòng tộc. Các đặc điểm chính bao gồm:
- Tên họ chung: Tất cả các thành viên trong gia tộc đều mang chung một tên họ. Con trai kế thừa tên họ của cha, trong khi con gái khi kết hôn sẽ mang tên họ của chồng.
- Gia phả (族谱): Gia phả hay còn gọi là phổ tộc hay tộc phả là một cuốn sách ghi chép chi tiết về nguồn gốc, tên tuổi, các sự kiện quan trọng và công trạng của tất cả tổ tiên nam giới và các bà vợ, thê thiếp. Đây là tư liệu bằng chứng, tín vật về sự liên tục của gia tộc. Cuốn phổ tộc này thường xuyên được biên chép từ người lớn tuổi nhất trong gia tộc, người sau đó sẽ truyền thừa lại trách nhiệm này cho thế hệ tiếp theo. Việc tu chính gia phả (修族谱/修族譜/Xiū zúpǔ) là một công việc quan trọng trong truyền thống Trung Hoa. Sau nhiều thế hệ, dòng tộc địa phương thường sẽ cho ra lò một tuyển tập từ các cuốn gia phả này. Công việc biên soạn và cập nhật gia phả được coi là một nhiệm vụ trọng yêu trong văn hóa người Hoa và là một cách để duy trì sự liên tục và bản sắc của dòng họ.
- Từ đường hay nhà thờ họ:[2] Là trung tâm tinh thần, văn hóa và xã hội của gia tộc. Đây là nơi thờ cúng tổ tiên, tổ chức các nghi lễ quan trọng và là nơi hội ngộ, họp mặt của các thành viên trong gia tộc.[5] Nhà thờ tông tộc hay nhà thờ thân tộc (Tông tộc đường/宗族堂/zōngzú táng) là nơi các hội nhóm thân tộc người Hoa tạo nên mạng lưới quan hệ cho các thành viên và họ dày công xây dựng, quản lý các hương tộc miếu thờ tổ tiên làm trung tâm tụ họp và các lễ nghi sinh hoạt.
- Tương hỗ lẫn nhau: Gia tộc có chức năng như một mạng lưới an sinh xã hội. Các thành viên có nghĩa vụ hỗ trợ nhau trong lúc khó khăn về kinh tế hoặc pháp lý. Gia tộc cũng thực hiện các hoạt động xã hội như lập quỹ giáo dục, giúp đỡ người nghèo trong tộc.[6]
- Chi phối cộng đồng: Gia tộc có vai trò duy trì các chuẩn mực đạo đức, giải quyết các tranh chấp nội bộ và bảo vệ danh dự của dòng họ mà người Hoa thường coi trọng thể diện.
Gia tộc Hoa đến nay vẫn là một yếu tố quan trọng trong việc định hình bản sắc văn hóa và các mối quan hệ xã hội của người Hoa ở khu vực bản xứ, sở tại. Những gia tộc người Hoa đã du nhập vào Việt Nam cùng với các làn sóng di dân từ Trung Quốc qua nhiều thế kỷ. Cấu trúc gia tộc này tương tự như "dòng họ" của người Việt, nhưng có những đặc điểm riêng biệt, đặc biệt là trong các cộng đồng người Hoa ở Chợ Lớn (Sài Gòn) và các thành phố lớn khác khi họ tỏa đến cư ngự. Những người Hoa khi di cư đến Việt Nam đã thành lập các hội tương tế, bang hội dựa trên tên họ, quê quán (hội đồng hương) để giúp đỡ nhau, bảo tồn văn hóa và quản trị nội bộ và cát cứ địa bàn, họ không lưu truyền hoặc chia sẽ các bí quyết gia truyền cho người ngoại tộc, ngoại đạo. Các hội này có hệ thống từ đường riêng, được xây dựng rất quy mô, quy củ và là nơi duy trì các bản sắc và phong tục truyền thống người Hoa. Từ cuối thế kỷ XIX và suốt thế kỷ XX, các gia tộc người Hoa đã trở thành một thế lực xã hội và kinh tế lớn tại các trung tâm thương mại sầm uất như Chợ Lớn và từng có giai đoạn chi phối, thâu tóm, lũng đoạn nền kinh tế.
Hình ảnh
[sửa | sửa mã nguồn]Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ Watson (1982, tr. 600)
- ^ a b Watson (1982, tr. 595-597)
- ^ Watson (1982, tr. 604-609)
- ^ Watson (1982, tr. 594)
- ^ Scholar of Chinese traditional religion Liyong Dai uses the term "Confucclesia", "Confucian church".
- ^ Watson (1982, tr. 601-602)
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- Watson, James L. (1982). "Chinese Kinship Reconsidered: Anthropological Perspectives on Historical Research". China Quarterly. 92 (92): 589–622. doi:10.1017/S0305741000000965. JSTOR 653680. S2CID 145418707.
- Tsai, Lily Lee (2002). "Cadres, Temple and Lineage Institutions, and Government in Rural China". The China Journal (48): 1–27. doi:10.2307/3182439. JSTOR 3182439. S2CID 147239659.
- Cohen, Myron L. (1990). "Lineage Organization in North China". The Journal of Asian Studies. 49 (3): 509–534. doi:10.2307/2057769. JSTOR 2057769. S2CID 163489363.