Giai Quý phi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Thanh Tuyên Tông Giai Quý phi
清宣宗佳貴妃
Đạo Quang Đế Quý phi
Thông tin chung
Phối ngẫuThanh Tuyên Tông
Đạo Quang Hoàng đế
Tước hiệu[Giai Quý nhân; 佳貴人]
[Giai tần; 佳嬪]
[Giai Quý nhân; 佳貴人]
[Hoàng khảo Giai tần; 皇考佳嬪]
[Hoàng tổ Giai phi; 皇祖佳妃]
[Hoàng tổ Giai Quý phi; 皇祖佳貴妃]
Sinh1816
Gia Khánh năm thứ 21, ngày 3 tháng 12
Mất1890
Quang Tự năm thứ 16, ngày 6 tháng 4
An táng18 tháng 4 năm 1894
Mộ Đông lăng (慕东陵), Thanh Tây lăng

Giai Quý phi Quách Giai thị (chữ Hán: 佳貴妃郭佳氏; 1816 - 1890) là 1 phi tần của Thanh Tuyên Tông Đạo Quang Hoàng đế.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Giai Quý phi Quách Giai thị, sinh ngày 3 tháng 12 (âm lịch), không rõ gia thế của Quách Giai thị và thời gian bà nhập cung, chỉ biết bà cùng Hằng tần Thái Giai thị qua Bát kỳ tuyển tú mà nhập cung. Theo lệ nhà Thanh, thì những người con gái từ 13 tuổi trở lên đều phải tham gia Bát kỳ tuyển tú, có lẽ bà nhập cung vào khoảng độ tuổi này, và để có thể nhập cung qua Bát kỳ tuyển tú thì chắc chắn bà không phải Bao y.

Năm Đạo Quang thứ 14 (1834), Quách Giai thị được sơ phong làm Giai Quý nhân (佳贵人). Theo Mãn văn, "Giai" có âm là 「Giltungga」, ý rằng "Anh tuấn". Năm thứ 16 (1836), ngày 20 tháng 2 (âm lịch), lấy Lễ bộ Thượng thư Quý Khánh (貴慶) làm Chính sứ, Nội các Học sĩ Oa Cái Nột (倭什訥) làm Phó sứ, tuyên sách phong Quách Giai thị làm Giai tần (佳嬪)[1].

Sách văn viết:

Năm thứ 20 (1840), ngày 23 tháng 2 (âm lịch), không rõ vì lý do gì, Quách Giai thị bị truất xuống lại Quý nhân. Năm Đạo Quang thứ 30 (1850), Hàm Phong Đế lên ngôi, tấn tôn các hậu phi của Tiên Đế, bà được tôn làm Hoàng khảo Giai tần (皇考佳嫔), cư Thọ Tam sở (壽三所)[2].

Năm Hàm Phong thứ 10 (1860), ngày 14 tháng 12 (âm lịch) tại Tị Thử Sơn Trang, chư vị tần phi của Tiên đế, trong đó có Giai tần được Hàm Phong Đế điều chỉnh việc cấp lương thực hằng ngày. Cùng năm, ngày 29 tháng 12 (âm lịch), Hàm Phong Đế bắt đầu ban thưởng cho các tần phi của Tiên đế, trong đó lần lượt là: Lâm Quý thái phi, Thành tần, Đồng tần, Tường tần, Giai tầnThái Thường tại, cộng 5 vị. Cũng trong năm ấy, Hàm Phong Đế vì sự kiện nước Anhnước Pháp liên công Bắc Kinh, bèn đưa hoàng thất trú nạn ở Nhiệt Hà. Các tần phi của Tiên đế chỉ có 5 vị trên được đưa theo đi cùng.

Năm Hàm Phong thứ 11 (1861), ngày 10 tháng 10 (âm lịch), Hàm Phong Đế băng thệ, triều đình của Đồng Trị Đế tiếp tục tấn phong bà làm Hoàng tổ Giai phi (皇祖佳妃). Năm thứ 13 (1874), ngày 16 tháng 11, Từ An Thái hậuTừ Hi Thái hậu ra chỉ tấn tôn lên hàng Hoàng tổ Giai Quý phi (皇祖佳貴妃)[3].

Năm Quang Tự thứ 16 (1891), ngày 6 tháng 4 (âm lịch), Giai Quý phi qua đời, hưởng thọ 75 tuổi[4][5]. Năm thứ 19 (1894), ngày 18 tháng 4 (âm lịch), giờ Mẹo, quan tài của bà được táng tại Mộ Đông lăng (慕东陵), thuộc Thanh Tây lăng cùng các phi tần khác[6].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 道光皇帝命禮部尚書貴慶為正使,內閣學士倭什訥為副使,冊封貴人郭佳氏為佳嬪。冊文曰:「鞠衣起化。六宮佐中閫之勤。蘭殿分猷。九御重內官之選。徽章克協。寵命攸頒。咨爾貴人郭佳氏。淑慎性成。柔嘉質秉。理蠶桑而襄事。椒館揚芬。備翟茀以叨榮。萱闈錫慶。茲仰承皇太后懿旨。晉封爾為佳嬪。申之冊命。爾其恩承綸綍。迓蕃祉以長膺。度式珩璜。勵芳型而益懋。欽哉。」參見《清實錄‧宣宗成皇帝實錄》(北京:中華書局,1986),卷292,頁526,道光十六年十二月己巳條。
  2. ^ 咸豐元年三月,咸豐帝命禮部尚書惠豐持節齎冊,尊封佳貴人為佳嬪,冊文曰:「蘭宮翊化。協矩度於珩璜。椒掖揚庥。備尊榮於簡冊。載稽茂典。宜奉隆稱。皇考佳貴人。懿質含貞。婉心迪哲。恪恭奉職。翟衣昭承侍之勤。雍肅垂型。彤管播令儀之譽。聿加位號。用表推崇。謹以金冊尊封為皇考佳嬪。於戲。玉檢輝騰。特重彝章之賁。瑤階瑞溢。長膺福履之綏。謹言。」。參見《清實錄‧文宗顯皇帝實錄》(北京:中華書局,1986),卷29,頁413,咸豐元年三月壬寅條。
  3. ^ 參見《清實錄‧穆宗毅皇帝實錄》(北京:中華書局,1986),卷373,頁938,同治十三年十一月乙卯條。
  4. ^ 《新整内务府杂件》敬事房 礼仪 5505包 557 5—66—6:光绪十六年四月初六日,王永隆请得佳贵妃六脉已绝,于是日亥初一刻逝了。四月初六日祥福奉旨:“本日亥初一刻,佳贵妃薨逝,著派总管崔永祥、敬事房首领夏顺保,本宫首领杨平安执香前引,掌仪司首领太监,请出左门外,校尉接请出神武门东门。未初二刻,至吉祥所宫门外,掌仪司首领太监接请至前殿西边,回床安放毕退出。四月初七日掌仪司来文为知会事,据钦天监选择得本日酉时佳贵妃入金棺,为此知会。
  5. ^ 參見《大清會典事例(光緒朝)》,卷495。
  6. ^ 參見《大清會典事例(光緒朝)》,卷432。