Girl's Day

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Girl's Day
걸스데이
걸스데이(Girl's Day) 2015 피닉스 섬머 페스티벌 일산 킨텍스 02.jpg
Từ trái sang phải: Minah, Yura, Sojin, Hyeri
Thông tin nghệ sĩ
Nguyên quán Seoul, Hàn Quốc
Thể loại K-pop, dance, pop, ballad
Năm hoạt động 2010-nay
Hãng đĩa Dream Tea, 1thek
Website dai5y.com
Thành viên hiện tại
Sojin
Yura
Minah
Hyeri
Cựu thành viên
Jihae
Jisun
Jiin

Girl's Day (Hangul걸스데이) là một nhóm nhạc nữ Hàn Quốc thuộc công ty quản lý Dream Tea Entertainment, một công ty con của Wellmade Star M. Các thành viên hiện tại của Girl's Day bao gồm: Sojin, Minah, Yura và Hyeri. Nhóm được biết đến với những ca khúc khá nổi tiếng như: "Something", "Darling", "Twinkle Twinkle", "Expectation", "Female President", v.v...

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi ra mắt[sửa | sửa mã nguồn]

Dream Tea bắt đầu quảng bá cho Girl's Day trước khi nhóm ra mắt bằng việc thành lập trang blog, kênh YouTube và tài khoản Twitter chính thức cho cả nhóm lẫn từng thành viên. Một diễn đàn cho người hâm mộ thành lập cũng đã được công ty công nhận là diễn đàn quốc tế chính thức của nhóm.

2010: Ra mắt, thay đổi thành viên, "Nothing Lasts Forever"[sửa | sửa mã nguồn]

Girl's Day vào tháng 11 năm 2010

Ngày 7 tháng 7, Girl's Day cho ra mắt video âm nhạc đầu tiên của mình cho bài hát "Tilt My Head". Hai ngày sau, Girl's Day Party 1, mini-album đầu tay của nhóm được phát hành. Ngày 12 tháng 9, chỉ sau 2 tháng từ khi bắt đầu hoạt động, hai thành viên Ji Sun và Ji In được thông báo là đã rời nhóm vì những lý do cá nhân, đồng thời Yura và Hyeri sẽ trở thành các thành viên mới.[1] Ngày 29 tháng 10, Girl's Day phát hành đĩa đơn nhạc số đầu tiên của nhóm, Girl's Day Party 2, với bài hát chủ đạo "Nothing Lasts Forever".

Tháng 12 năm 2010, Girl's Day thực hiện chương trình truyền hình đầu tiên của mình, We Are Dating, cùng với nhóm nhạc nam U-KISS.[2]

2011: "Twinkle Twinkle", Everyday, "Don't Flirt"[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa đơn "Twinkle Twinkle" được phát hành vào ngày 16 tháng 3 năm 2011 và đạt vị trí đầu bảng trên một số bảng xếp hạng âm nhạc trực tuyến.[3] Ngày 17 tháng 5, Girl's Day tổ biểu diễn lần đầu tiên ở nước ngoài tại Đài Loan cùng với U-KISS và Super Junior M trong một concert do tổng cục Du lịch Hàn Quốc tổ chức.

Mini-album thứ hai của Girl's Day, Everyday, được phát hành vào ngày 7 tháng 7. Bên cạnh bài hát chủ đạo, "Hug Me Once", album còn bao gồm "Young Love", hai đĩa đơn nhạc số trước đó của nhóm, "Nothing Lasts Forever" và "Twinkle Twinkle", cũng như phiên bản không lời của "Hug Me Once". Tháng 9, nhóm phát hành album đĩa đơn Girls' Day Party #4 với bài hát chủ đạo "Don't Flirt".[4]

2012: Everyday 2, Jihae rời nhóm, "Don't Forget Me"[sửa | sửa mã nguồn]

Girl's Day vào năm 2012

Girl's Day phát hành mini-album thứ ba của mình, Everyday 2, vào ngày 17 tháng 4 năm 2012 với bài hát chủ đạo "Oh! My God" cũng như "Don't Flirt" và 3 bài hát mới.

Ngày 17 tháng 10, Dream Tea thông báo rằng Jihae đã rời nhóm vì lý do cá nhân.[5] Bốn thành viên còn lại quay trở lại vào ngày 26 tháng 10 với bài hát "Don't Forget Me" nằm trong đĩa đơn nhạc số thứ năm Girl's Day Party #5.[6]

Girl's Day tại một sự kiện vào đầu năm 2013

2013: Expectation, Female President[sửa | sửa mã nguồn]

Girl's Day phát hành đĩa đơn "White Day" vào ngày 20 tháng 2.[7] Ngày 14 tháng 3, album Expectation được phát hành. Sau đó, nhóm phát hành lại album này với bài hát chủ đạo Female President" vào ngày 24 tháng 6. Ngày 7 tháng 7, Girl's Day giành được chiến thắng đầu tiên trên một chương trình âm nhạc kể từ khi ra mắt, mặc dù chương trình bị hủy phát sóng do vụ tai nạn của chuyến bay 214 của Asiana Airlines.[8] "Female President" cũng đã lọt vào top 20 bài hát K-pop của năm 2013 do Billboard Korea lựa chọn.[9]

Ngày 10 tháng 10, Girl's Day phát hành bài hát "Let's Go" do thành viên Sojin sáng tác để cổ vũ các học sinh trong kì thi sắp tới.

2014: Everyday 3, Everyday 4, I Miss You, Best Album[sửa | sửa mã nguồn]

Girl's Day tại LG BestShop, Gangnam, Seoul vào ngày 11 tháng 7 năm 2014

Ngày 3 tháng 1 năm 2014, mini-album thứ ba của Girl's Day, Everyday 3, được phát hành cùng với đĩa đơn "Something". Video âm nhạc của bài hát đạt 1 triệu lượt xem trong vòng một ngày. "Something" trở thành đĩa đơn đạt thứ hạng cao nhất của nhóm, ở vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng Korea K-Pop Hot 100 của Billboard và bảng xếp hạng nhạc số của Gaon, cũng như vị trí thứ nhất trên các bảng xếp hạng âm nhạc trực tuyến.

Tháng 7, đĩa đơn "Darling" được phát hành cùng với album Everyday 4 và đứng đầu nhiều bảng xếp hạng âm nhạc trực tuyến như Melon, Mnet, Olleh Music và Naver Music.[10] Ngày 15 tháng 10, Girl's Day phát hành bài hát "I Miss You".[11][12]

Ngày 26 tháng 11, nhóm phát hành album tuyển tập Best Album tại Nhật Bản.

2015-2016: LOVE và Nhật tiến[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng thời trong năm 2015, nhóm đã phát hành ca khúc "Ring My Bell" trong album thứ hai của nhóm là LOVE trên trang YouTube vào ngày 6-7 gây sốt với gần 11 triệu lượt xem.[13]

Vào ngày 30 tháng 9, nhóm ra mắt tại Nhật Bản với album phòng thu tiếng Nhật đầu tiên mang tên Girl's Day 2015 Autumn Party với các đĩa đơn "Darling", "Twinkle Twinkle" và "Ring My Bell" làm phiên bản tiếng Nhật.

Nhóm cũng ghóp mặt trong một showcase ở Đài Bắc và trình diễn 12 bài hát thu hút cho Girl's Day khoảng 2000 fan hâm mộ.

2017-nay: Everyday #5[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 27 tháng 3 năm 2017, Girl's Day chính thức trở lại với I’ll be yours cùng với mini-album Everyday #5. Album gồm sáu ca khúc: “I’ll be yours”, “Thirsty”, “Love Again”, “Kumbaya”, “Truth”, “Don’t be shy”“I’ll be yours” phiên bản nhạc nềnTrong số này, ca khúc “Kumbaya” và “Truth” được Sojin và Minah thể hiện solo. Đặc biệt hơn, trong album lần này, Girl’s Day lại một lần nữa kết hợp sản xuất với Ryan Jhun – người đã cùng 4 cô gái tạo ra bản hit “Nothing Lasts Forever” vào năm 2010. 

Thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Nghệ danh Tên thật Ngày sinh
Chuyển tự Latinh Hangul Chuyển tự Latinh Hangul Hán Việt
Sojin 소진 Park So-jin 박소진 Phác Tố Trân 21 tháng 5, 1986 (32 tuổi)
Yura 유라 Kim Ah-young 김아영 Kim Nga Linh 6 tháng 11, 1992 (25 tuổi)
Minah 민아 Bang Min-ah 방민아 Phương Mẫn Nga 13 tháng 5, 1993 (25 tuổi)
Hyeri 혜리 Lee Hye-ri 이혜리 Lý Huệ Lợi 9 tháng 6, 1994 (24 tuổi)

[sửa | sửa mã nguồn]

Các thành viên cũ của Girl's Day
Nghệ danh Tên thật Ngày sinh
Chuyển tự Latinh Hangul Chuyển tự Latinh Hangul
Jihae 지해 Woo Ji-hae 우지해 14 tháng 5, 1989 (29 tuổi)[14]
Jisun 지선 Hwang Ji-sun 황지선 17 tháng 10, 1989 (29 tuổi)[15]
Jiin 지인 Lee Ji-in 이지인 13 tháng 3, 1992 (26 tuổi)[16]
  • Jiin rời nhóm vào tháng 9 năm 2010 để theo đuổi sự nghiệp diễn xuất.[17] Năm 2014, cô gia nhập nhóm nhạc nữ mới Bebop.[18]
  • Jisun rời nhóm vào tháng 9 năm 2010 để theo học ngành âm nhạc.[19] Năm 2011, cô đổi nghệ danh thành JN và gia nhập nhóm nhạc nữ New.F.O.[20]
  • Jihae rời nhóm vào tháng 10 năm 2012 để tập trung cho học tập và vì một số lý do cá nhân khác.[5]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu[sửa | sửa mã nguồn]

Album phát hành lại[sửa | sửa mã nguồn]

Mini-album[sửa | sửa mã nguồn]

Album tuyển tập[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa đơn nhạc số[sửa | sửa mã nguồn]

  • How About Me (2010)
  • Nothing Lasts Forever (2010)
  • Twinkle Twinkle (2011)
  • Don't Flirt (2011)
  • Don't Forget Me (2012)
  • White Day (2013)
  • Please Tell Me (2013)
  • Let's Go (2013)

Chương trình truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Concert[sửa | sửa mã nguồn]

Hàn Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2014: Summer Party [21]

Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2014: Winter Party

Khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2014: KStar FanFest Everyday Concert in Singapore [22]

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ji Sun and Ji In leave Girl's Day
  2. ^ We Are Dating: Girl's Day and U-Kiss Meet
  3. ^ Vitalsign (ngày 18 tháng 3 năm 2011). “Girl’s Day’s "Twinkle Twinkle" triumphs on live music charts”. Allkpop.com. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2012. 
  4. ^ GhostWriter (ngày 1 tháng 9 năm 2011). “Girl’s Day reveals "Don’t Let Your Eyes Wander"!”. Allkpop.com. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2012. 
  5. ^ a ă “걸스데이, 지해 탈퇴…4인조로 26일 컴백”. Nate. Ngày 17 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2012. 
  6. ^ Sylphid (ngày 26 tháng 10 năm 2012). “Girl's Day Releases Comeback MV "Don't Forget Me" | Soompi”. Soompi. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2012. 
  7. ^ (단독) 걸스데이, 4인 체제로 '내년 2월 컴백' (bằng tiếng Hàn). Nate. Ngày 31 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2013. 
  8. ^ “Girl's Day win their first ever music show on canceled July 7 'Inkigayo'. allkpop. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2013. 
  9. ^ “20 Best K-Pop Songs of 2013: K-Town Picks”. Billboard. Ngày 23 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2015. 
  10. ^ “Girl's Day sweeps download charts”. The Korea Times. Ngày 14 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2015. 
  11. ^ [1]
  12. ^ GIRL’S DAY WILL RELEASE A CARD-TYPE ALBUM THROUGH “KINO”
  13. ^ GIRL’S DAY TO RELEASE “BEST ALBUM” EXCLUSIVELY IN JAPAN 11/26.
  14. ^ “Jihae's profile on Daum Music”. Daum Communications. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2012. 
  15. ^ “Hwang Ji-sun's profile on Daum Music under the stage name as Jisun”. Daum Communications. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2012. 
  16. ^ “Jiin's profile on Daum Music”. Daum Communications. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2012. 
  17. ^ “Girl's Day Jiin leaves the group”. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2010. 
  18. ^ “Former Girl's Day member Ji In gets ready to debut with girl group Bebop”. Allkpop. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2014. 
  19. ^ “Girl's Day Ji Sun leaves the group”. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2010. 
  20. ^ “Hwang Ji-sun's profile on Daum Music under the stage name as JN”. Daum Communications. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2012. 
  21. ^ Girl's Day reveal poster and details for their upcoming concert 'Summer Party'
  22. ^ Girl's Day Everyday Concert

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]