Glee: The Music, The Rocky Horror Glee Show

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Glee: The Music, The Rocky Horror Glee Show
EP của Glee Cast
Phát hành 19 tháng 10, 2010 (2010-10-19)
(xem lịch sử phát hành)
Thu âm 2010
Thể loại Rock, nhạc phim
Thời lượng 21:27
Hãng đĩa Columbia
Sản xuất Dante Di Loreto (giám đốc sản xuất), Brad Falchuk (giám đốc sản xuất), Adam Anders, Peer Åström, Ryan Murphy
Thứ tự album của Glee Cast
Glee: The Music, Journey to Regionals
(2010)
Glee: The Music, The Rocky Horror Glee Show
(2010)
Glee: The Music, The Christmas Album
(2010)

Glee: The Music, The Rocky Horror Glee Show (tạm dịch: Glee: Âm nhạc, Buổi diễn Kinh dị nhạc Rock của Đội hát) là đĩa mở rộng (EP) được trình bày bởi dàn diễn viên của bộ phim Glee, phát hành vào ngày 19 tháng 10 năm 2010. Đĩa EP gồm 7 ca khúc từ tập phim đặc biệt "The Rocky Horror Glee Show", phát sóng ngày 26 tháng 10 năm 2010 trên kênh Fox. Trong tập chủ đề Halloween này, đội hát đã tái tạo lại bộ phim hài-nhạc kịch kinh dị năm 1973, The Rocky Horror Show, gồm những ca khúc được soạn và sáng tác bởi Richard O'Brien.[1] Dante Di LoretoBrad Falchuk sau đó đã trở thành giám đốc sản xuất của đĩa mở rộng này.

Bối cảnh và thực hiện[sửa | sửa mã nguồn]

Tập phim của Glee, "The Rocky Horror Glee Show" được phát sóng lần đầu tiên vào ngày 26 tháng 10 năm 2010 và trở thành một phần trong chuỗi chương trình chủ đề Halloween của kênh Fox, kèm theo những màn trình diễn của vở nhạc kịch The Rocky Horror Show do những thành viên của nhóm tái tạo lại.[2][3] Kế hoạch thực hiện tập phim này đã được tiết lộ tại San Diego Comic-Con International 2010 bởi người sáng lập của Glee, Ryan Murphy sau khi diễn viên của bộ phim, Chris Colfer đã chia sẻ khao khát thực hiện ca khúc "Time Warp" trong chương trình.[4] Jayma Mays, người thủ vai giáo viên tâm lý, Emma Pillsbury, đã tham gia thử vai với ca khúc "Touch-a, Touch-a, Touch-a, Touch Me" nhưng có một số thay đổi trong lời nhạc.[5][6] "Tôi chắc chắn sẽ lấy cô gái này trong bộ phim", Murphy chia sẻ trong phần tuyển vai của cô.[7] "Whatever Happened to Saturday Night" sau đó đã được trình diễn bởi John Stamos, còn ca khúc "Damn It, Janet" thì trình diễn bởi Cory MonteithLea Michele.[6]

Danh sách ca khúc của đĩa mở rộng đã được chính thông báo trong một bài báo ngày 28 tháng 9 năm 2010. Đĩa được phát hành kỹ thuật số và ghi đĩa vào ngày 19 tháng 10 năm 2010 tại Bắc Mỹ.[8][9]

Tiếp nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Andrew Leahey của Allmusic cho đĩa EP này ba sao rưỡi và gọi Glee: The Music, The Rocky Horror Glee Show là "một trong những bản thu âm xuất sắc nhất của Glee" và nói thêm đây là "một album tưởng nhớ gọn gàng, tỏa sáng và trình diễn tốt." Anh đặc biệt khen ngợi phần trình diễn của những nghệ sĩ không thường xuyên trình diễn trong chương trình như Naya Rivera, Jayma Mays, và John Stamos. Dù vậy, anh cho rằng Amber Riley không thích hợp với vai Tiến sĩ Frank-N-Furter.[10]

Glee: The Music, The Rocky Horror Glee Show xuất hiện trên bảng xếp hạng Billboard 200 với vị trí thứ sáu trong tuần 27 tháng 10 năm 2010 với 48,000 bản được tiêu thụ, trở thành tuần bán đầu tiên thấp nhất của nhóm tại Hoa Kỳ.[11] Phần xuất hiện xếp hạng này của Glee trở thành album nhạc phim thứ sáu của họ trong top 10 tại Mỹ và là vị trí cao nhất mà Rocky Horror từng vươn lên.[12] Vào tháng 4 năm 2011, đây đã trở thành đĩa EP của nhóm có số lượng đĩa tiêu thụ thấp nhất tại Mỹ khi chỉ bán được 160,000 bản.[13]

Danh sách ca khúc[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn bộ phần lời và nhạc sáng tác bởi Richard O'Brien

STT Tên bài hát Thời lượng
1. "Science Fiction Double Feature"   4:28
2. "Damn It, Janet"   2:41
3. "Whatever Happened to Saturday Night?"   3:04
4. "Sweet Transvestite"   2:59
5. "Touch a Touch a Touch a Touch Me"   2:29
6. "There's a Light (Over at the Frankenstein Place)"   2:33
7. "Time Warp"   3:13

Thực hiện[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách ở dưới là những người đã xác minh rằng mình đã thực hiện album này.[14]

Lịch sử phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Ngày phát hành Định dạng (CD, Kỹ thuật số) Chú thích
Canada 19 tháng 10 năm 2010 CD, Kỹ thuật số [15][16]
Đức 19 tháng 10 năm 2010 CD [17]
Ireland 19 tháng 10 năm 2010 Kỹ thuật số [18]
Hoa Kỳ 19 tháng 10 năm 2010 CD, Kỹ thuật số [8][19]
Nhật Bản 26 tháng 10 năm 2010 CD [20]
Úc 29 tháng 10 năm 2010 CD, Kỹ thuật số [21][22]
Đài Loan 15 tháng 3 năm 2011 CD [23]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Itzkoff, Dave (ngày 7 tháng 9 năm 2010). “He’s O.K.: ‘Rocky Horror’ Creator Given Residency in New Zealand”. The New York Times. The New York Times Company. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2010. 
  2. ^ Haunt from Fox: Halloween is spook-tacularly funny with two nights of thrills on Fox” (Thông cáo báo chí). Fox Broadcasting Company. Ngày 7 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2010. 
  3. ^ “Let's do The Time Warp again on an all-new "Glee" (Thông cáo báo chí). Fox Broadcasting Company. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2010. 
  4. ^ Collins, Scott (ngày 25 tháng 7 năm 2010). “COMIC-CON 2010: 'Glee' will do 'Rocky Horror' episode”. Los Angeles Times (Tribune Company). Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2010. 
  5. ^ Martin, Denise (ngày 26 tháng 4 năm 2009). 'Glee' team rewrites the school musical”. Los Angeles Times. Tribune Company. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2010. 
  6. ^ a ă Lyons, Margaret (ngày 15 tháng 10 năm 2010). 'Glee' does 'Rocky Horror': Listen to the previews here!”. Entertainment Weekly. Time Inc. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2010. 
  7. ^ Martin, Denise (ngày 26 tháng 4 năm 2009). 'Glee' team rewrites the school musical”. Los Angeles Times (Tribune Company). Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2010. 
  8. ^ a ă “Glee: The Music, The Rocky Horror Glee Show in Stores October 19” (Thông cáo báo chí). PR Newswire. Ngày 28 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2010. 
  9. ^ Lipshutz, Jason (ngày 28 tháng 9 năm 2010). 'Glee' Announces 'Rocky Horror' Album Details”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2010. 
  10. ^ Leahey, Andrew. “Glee: The Music, The Rocky Horror Glee Show - Review”. allmusic. Rovi Corporation. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2010. 
  11. ^ Caulfield, Keith (ngày 27 tháng 10 năm 2010). “Sugarland Tops Kings of Leon on Billboard 200”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2010. 
  12. ^ Grein, Paul (ngày 27 tháng 10 năm 2010). “Week Ending Oct. 24, 2010: Place Your Bets”. Chart Watch. Yahoo! Music. Yahoo!. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2010. 
  13. ^ Grein, Paul (ngày 27 tháng 4 năm 2011). “Week Ending ngày 24 tháng 4 năm 2011. Albums: Real Or TV?”. Chart Watch. Yahoo! Music. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2011. 
  14. ^ “Glee: The Music, The Rocky Horror Glee Show”. allmusic. Rovi Corporation. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2010. 
  15. ^ “Rocky Horror Glee Show”. Amazon.ca. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2010. 
  16. ^ “Glee: The Music - The Rocky Horror Glee Show”. iTunes Store Canada. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2010. 
  17. ^ “Rocky Horror Glee Show” (bằng tiếng Đức). Amazon.de. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2010. 
  18. ^ “Glee: The Music - The Rocky Horror Glee Show”. iTunes Store Ireland. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2010. 
  19. ^ “Glee: The Music, The Rocky Horror Glee Show”. Amazon.com. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2010. 
  20. ^ “Glee: The Music, The Rocky Horror Glee Show(US輸入盤)” (bằng tiếng Nhật). Sony Music Entertainment Japan. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2010. 
  21. ^ “Glee The Music; Rocky Horror Glee Show”. Sanity. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2010. 
  22. ^ “Glee: The Music - The Rocky Horror Glee Show”. iTunes Store Australia. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2010. 
  23. ^ “洛基恐怖秀 (迷你專輯) The Rocky Horror Show” (bằng tiếng Mandarin). Sony Music Entertainment (Taiwan). Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2011. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]