Glee (mùa 2)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Glee (mùa 2)
Quốc gia gốc Mỹ
Thứ tự tập 22
Phát sóng
Kênh gốc Fox
Thời gian phát sóng 21 tháng 9, 2010 (2010-09-21) – 24 tháng 5, 2011 (2011-05-24)
Lịch phát hành DVD
Phát hành DVD
Khu vực 1 13 tháng 9, 2011 (2011-09-13)
Region 2 19 tháng 9, 2011 (2011-09-19)
Region 4 5 tháng 10, 2011 (2011-10-05)
Mùa phim
← Trước
Mùa 1
Kế →
Mùa 3
Danh sách các tập phim của Glee

Mùa thứ hai của sê ri phim truyền hình nhạc kịch hài Glee được phát sóng lần đầu tiên từ ngày 21 tháng 9 năm 2010 đến ngày 24 tháng 5 năm 2011 trên Fox tại Mỹ. 22 tập phim được sản xuất bởi 20th Century Fox Television và Ryan Murphy Television, do Dante Di Loreto cũng như các tác giả Ryan MurphyBrad Falchuk chỉ đạo sản xuất, cùng với đồng tác giả và đồng sản xuất Ian Brennan.

Glee xoay quanh nhóm hát New Directions của trường trung học hư cấu McKinley ở Lima, Ohio. Mùa thứ hai kể về quá trình của nhóm từ các giải đấu khu vực đến giải vô địch quốc gia ở thành phố New York, trong lúc các thành viên giải quyết những vấn đề như giới tính, các mối quan hệ, tôn giáo, sự kỳ thị giới tính, bắt nạt, những tin đồn, sử dụng rượu bia khi chưa đủ tuổi cũng như những vấn đề xã hội khác. Các nhân vật trung tâm bao gồm huấn luyện viên nhóm hát Will Schuester (Matthew Morrison), huấn luyện viên đội cổ vũ Sue Sylvester (Jane Lynch), giáo viên cố vấn Emma Pillsbury (Jayma Mays), các thành viên nhóm hát Artie Abrams (Kevin McHale), Brittany Pierce (Heather Morris), Finn Hudson (Cory Monteith), Kurt Hummel (Chris Colfer), Mercedes Jones (Amber Riley), Noah "Puck" Puckerman (Mark Salling), Quinn Fabray (Dianna Agron), Rachel Berry (Lea Michele), Santana Lopez (Naya Rivera), Mike Chang (Harry Shum Jr.) và Tina Cohen-Chang (Jenna Ushkowitz), bên cạnh đó là vợ cũ của Will Terri (Jessalyn Gilsig) và bố Kurt Burt (Mike O'Malley)

Mặc dù có nhiều tập phim được đánh giá cao, mùa thứ hai nhận được những phản hồi trái chiều từ phía các nhà phê bình. Về mặt âm nhạc, mùa thứ hai tiếp tục thành công của mùa thứ nhất với 5 album nhạc phim và hơn 100 đĩa đơn trực tuyến được phát hành. Glee cũng phá kỷ lục về số lượng bài hát của cùng một nghệ sĩ xuất hiện trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 với 156 bài khi mùa thứ hai kết thúc. Hai đĩa đơn "Teenage Dream" và "Loser Like Me" đều đạt hơn 200,000 lượt tải về trong tuần đầu tại Mỹ đồng thời lọt vào top 10 ở Mỹ và Canada, cũng như được chứng nhận đĩa vàng ở Mỹ. Mùa phim được đề cử 12 giải Emmy, 5 giải Quả cầu vàng, 5 giải Satellite Awards và hơn 50 giải khác. Ba bộ DVD đã được phát hành, bao gồm Glee – Season 2, Volume 1 (từ tập 1 đến tập 10), Glee – Season 2, Volume 2 (từ tập 11 đến tập 22) và Glee – The Complete Second Season.

Danh sách các tập[sửa | sửa mã nguồn]

Thứ tự
trong cả phim
Thứ tự
trong mùa 2
Tên Đạo diễn Kịch bản Ngày phát sóng
sản xuất
Lượng người xem ở Mỹ
(triệu)
231 "Audition" Brad FalchukIan Brennan21 tháng 9, 2010 (2010-09-21)2ARC0112.45[1]
Nhóm hát và đội cổ vũ của trường trung học McKinley bị cắt giảm ngân sách để chi thêm tiền cho đội bóng bầu dục và huấn luyện viên mới của họ Shannon Beiste (Dot-Marie Jones), nên Will SchuesterSue Sylvester lên kế hoạch giành lại số tiền đó. FinnRachel cố gắng tìm kiếm thành viên mới cho New Directions, nhưng Rachel lại cảm thấy bị đe dọa bởi tài năng của Sunshine (khách mời Charice), một học sinh trao đổi từ Philippines. Quinn thay thế vị trí đội trưởng đội cổ vũ của Santana, Finn bị loại khỏi đội bóng bầu dục còn TinaMike (Harry Shum, Jr.) thì bắt đầu hẹn hò. 
242 "Britney/Brittany" Ryan MurphyRyan Murphy28 tháng 9, 2010 (2010-09-28)2ARC0213.51[2]
New Directions muốn biểu diễn một ca khúc của Britney Spears tại một buổi lễ của trường, nhưng Will lại phản đối. Bạn trai mới của Emma, Carl (John Stamos), một nha sĩ, điều trị cho các thành viên của nhóm hát Brittany, Santana, Rachel và Artie, họ mơ thấy mình biểu diễn các ca khúc của Britney Spears khi đang bị gây mê. Artie tham gia đội bóng bầu dục còn Finn thì được phục chức. Will cuối cùng cũng đồng ý biểu diễn một ca khúc của Britney Spears và đảm nhận giọng hát chính để gây ấn tượng cho Emma, nhưng màn buổi lễ kết thúc trong hỗn loạn. 
253 "Grilled Cheesus" Alfonso Gomez-RejonBrad Falchuk5 tháng 10, 2010 (2010-10-05)2ARC0311.20[3]
Khi nhìn thấy khuôn mặt của chúa Giê-xu trên chiếc bánh kẹp pho mát của mình, Finn bước vào một cuộc khủng hoảng hiện sinh. Do đó, các thành viên nhóm hát thảo luận về vấn đề tôn giáo, nhưng Kurt, người theo chủ nghĩa vô thần, cảm thấy không thoải mái khi đồng thời đang phải trải qua một cuộc khủng hoảng trầm trọng hơn bởi bố mình, Burt, bị đột quỵ và rơi vào hôn mê. Sue nghi ngờ đức tin của mình và trò chuyện với chị gái Jean về Chúa. 
264 "Duets" Eric StoltzIan Brennan12 tháng 10, 2010 (2010-10-12)2ARC0411.36[4]
Khi Puck bị đưa đến trại cải tạo, New Directions chào đón thành viên mới Sam (Chord Overstreet), và Will tổ chức một cuộc thi hát đôi. Kurt muốn cặp với Sam vì nghi ngờ rằng Sam là người đồng tính, nhưng Finn và Burt khuyên ngăn cậu, nên Kurt biểu diễn một mình. Finn và Rachel bí mật phá hỏng màn biểu diễn của mình để Sam và Quinn chiến thắng và Sam cảm thấy được chào đón; bữa tối phần thưởng của Sam và Quinn trở thành cuộc hẹn đầu tiên của cặp đôi này. 
275 "The Rocky Horror Glee Show" Adam ShankmanRyan Murphy & Tim Wollaston26 tháng 10, 2010 (2010-10-26)2ARC0511.76[5]
Sau khi Will biết được tình cảm mà Emma dành cho The Rocky Horror Picture Show, anh quyết định cho nhóm hát biểu diễn vở nhạc kịch này để gây quỹ và giành lại cô từ tay Carl, đồng thời nhờ cô giúp đỡ trong việc sản xuất. Tuy nhiên, sau nhiều rắc rối, New Directions đã không thể biểu diễn trước khán giả. 
286 "Never Been Kissed" Bradley BueckerBrad Falchuk9 tháng 11, 2010 (2010-11-09)2ARC0610.99[6]
Will tách nhóm ra hai phe để tổ chức một cuộc thi giữa nam và nữ. Kurt, người bị Karofsky (Max Adler) quấy rối, do thám cho New Directions ở học viện Dalton, nơi cậu gặp Blaine (Darren Criss), giọng ca chính của nhóm Warblers. Blaine cổ vũ Kurt tự bảo vệ mình và hỗ trợ cậu trong một cuộc đối đầu với Karofsky. Huấn luyện viên Beiste biết được rằng các thành viên nam đã có suy nghĩ không tốt về cô và nộp đơn xin thôi việc, nhưng Will thuyết phục cô ở lại. Puck quay trở lại và phát triển một tình bạn với Artie, đồng thời giúp Artie có một cuộc hẹn với Brittany. 
297 "The Substitute" Ryan MurphyIan Brennan16 tháng 11, 2010 (2010-11-16)2ARC0711.70[7]
Will bị ốm và được thay thế bởi Holly Holliday (Gwyneth Paltrow), người cho các thành viên nhóm hát lựa chọn ca khúc mà mình muốn biểu diễn. Sue trở thành hiệu trưởng mới sau khi Figgins cũng bị ốm, và tiến hành một số thay đổi bao gồm việc sa thải Will, nhưng sau đó đã phục chức cho anh. Kurt và Blaine trở thành bạn, còn Mercedes thì tổ thức một cuộc phản đối chống lại Sue. 
308 "Furt" Carol BankerRyan Murphy23 tháng 11, 2010 (2010-11-23)2ARC0810.41[8]
Mẹ của Sue, Doris Sylvester (Carol Burnett), ghé thăm cô vì đám cưới sắp tới của Sue với chính mình. Mẹ Finn, Carole (Romy Rosemont), và bố Kurt, Burt, cũng sắp kết hôn. Nhà trường từ chối phản đối những lời đe dọa Kurt của Karofsky, dẫn đến việc Kurt chuyển trường đến học viện Dalton và Sue rời khỏi vị trí hiệu trưởng. Quinn chấp nhận lời đính ước của Sam. 
319 "Special Education" Paris BarclayBrad Falchuk30 tháng 11, 2010 (2010-11-30)2ARC0911.68[9]
Theo lời khuyên của Emma, Will quyết định giao những vị trí hát chính trong màn biểu diễn ở Sectionals cho các thành viên ít được chú ý của New Directions. Với thành viên mới Lauren Zizes (Ashley Fink) thay thế cho Kurt, New Directions, Warblers (với thành viên mới Kurt), và Hipsters đối đầu nhau tại Sectionals: New Directions và Warblers cùng lọt vào vòng Regionals. Carl và Emma kết hôn ở Las Vegas; Rachel thú nhận với Finn rằng mình đã hôn nhau với Puck sau khi biết được rằng Finn đã nói dối về việc ngủ với Santana. 
3210 "A Very Glee Christmas" Alfonso Gomez-RejonIan Brennan7 tháng 12, 2010 (2010-12-07)2ARC1011.07[10]
Ban giám hiệu tổ chức hoạt động trao đổi quà Secret Santa, nhưng Sue khiến mình trở thành người nhận được tất cả các món quà. Artie biết được rằng Brittany vẫn còn tin vào ông già Noel, và thuyết phục các thành viên khác của nhóm không cho cô biết sự thật. Khi Brittany yêu cầu một ông già Noel ở trung tâm thương mại làm cho Artie có thể đi lại được, Artie nhờ huấn luyện viên Beiste đóng giả ông già Noel để cho cô biết rằng điều đó là không thể. Kurt nói với Will rằng cậu đã phải lòng Blaine. Finn chia tay với Rachel. 
3311 "The Sue Sylvester Shuffle" Brad FalchukIan Brennan6 tháng 2, 2011 (2011-02-06)2ARC1126.80[11]
Giải vô địch bóng bầu dục được tổ chức ở trường trung học McKinley, va ca khúc "Thriller" được biểu diễn trong giờ nghỉ giữa hiệp. Will và huấn luyện viên Beiste cố gắng làm cho nhóm hát và đội bóng hợp tác với nhau, còn Sue thì làm mọi cách để giành được chức vô địch quốc gia đồng thời phá hoại kế hoạch của họ. Nhưng cuối cùng McKinley vô địch giải bóng bầu dục, còn Sue thì mất ba thành viên đội cổ vũ và thua giải Regionals. 
3412 "Silly Love Songs" Tate DonovanRyan Murphy8 tháng 2, 2011 (2011-02-08)2ARC1211.58[12]
Will giao nhiệm vụ cho nhóm hát biểu diễn những bản tình ca nhân ngày lễ Tình nhân. Finn tổ chức dịch vụ hôn để quyên góp tiền cho nhóm và để hôn Quinn. Puck phải lòng Lauren, nhưng bài hát mà cậu dành tặng cô lại phản tác dụng. Blaine và Dalton Academy Warblers biểu diễn "When I Get You Alone" tại một cửa hàng quần áo, nhưng mọi chuyện không diễn ra như dự tính. 
3513 "Comeback" Bradley BueckerRyan Murphy15 tháng 2, 2011 (2011-02-15)2ARC1310.53[13]
Rachel cố gắng để được nổi tiếng trở lại ở McKinley với sự giúp đỡ của Brittany nhưng thất bại. Sam thành lập một ban nhạc Justin Bieber để hâm nóng tình cảm của mình với Quinn, nhưng sau đó biết được rằng Quinn đã ngoại tình với Finn và chia tay với cô rồi bắt đầu hẹn hò với Santana. Sue tìm cách phá hoại New Directions từ bên trong, và sau khi thất bại, trở thành huấn luyện viên của Aural Intensity, đối thủ của họ ở giải Regionals. 
3614 "Blame It on the Alcohol" Eric StoltzIan Brennan22 tháng 2, 2011 (2011-02-22)2ARC1410.58[14]
Hiệu trưởng Figgins muốn giáo dục các học sinh về mối nguy hiểm của việc sử dụng bia rượu khi chưa đủ tuổi. Rachel tổ chức một bữa tiệc, và sau khi uống rượu đã đề nghị chơi trò xoay chai. Sau khi hôn Rachel, Blaine nghi ngờ giới tính của mình. Will gọi điện cho Emma khi đang say và bị Sue làm bẽ mặt trước toàn trường. Màn biểu diễn của New Directions tại buổi lễ về sử dụng rượu bia của trường trở thành một thảm họa. 
3715 "Sexy" Ryan MurphyBrad Falchuk8 tháng 3, 2011 (2011-03-08)2ARC1511.92[15]
Holly Holliday thay thế chức vụ giáo viên giáo dục giới tính. Santana và Brittany xin lời khuyên của cô về mối quan hệ giữa họ. Emma tổ chức Celibacy Club, và cùng chồng mình, Carl, đối mặt với một số vấn đề hôn nhân nhờ sự giúp đỡ của Holly; khi Emma thú nhận việc vẫn còn tình cảm với Will, Carl quyết định ly thân. Finn và Quinn quay trở lại với nhau. Burt trò chuyện với Kurt về vấn đề giới tính. 
3816 "Original Song" Bradley BueckerRyan Murphy15 tháng 3, 2011 (2011-03-15)2ARC1611.15[16]
Khi ca khúc dự định dành cho giải Regionals bị Sue phá hoại, New Directions tự viết và biểu diễn các ca khúc của riêng mình để thi đấu với Dalton Academy Warblers và Aural Intensity do Sue làm huấn luyện viên; các khách mời Kathy GriffinLoretta Devine đóng vai trò giám khảo. Blaine phải lòng Kurt và họ bắt đầu một mối quan hệ. 
3917 "A Night of Neglect" Carol BankerIan Brennan19 tháng 4, 2011 (2011-04-19)2ARC179.80[17]
Nhóm hát biểu diễn các ca khúc của những nghệ sĩ mà họ cho rằng bị bỏ quên tại một buổi gây quỹ để Artie, Mike, Tina và Brittany có thể tham dự cuộc thi Academic Decathlon. Sue lên kế hoạch phá hoại buổi diễn. Sunshine, người đã tham gia Vocal Adrenaline, muốn được biểu diễn ở buổi gây quỹ nhưng không được huấn luyện viên của cô, một trong những đồng minh của Sue, cho phép. Lauren thuyết phục Mercedes trở thành một diva đúng nghĩa để giành được những gì mình muốn. 
4018 "Born This Way" Alfonso Gomez-RejonBrad Falchuk26 tháng 4, 2011 (2011-04-26)2ARC188.62[18]
Santana ép buộc Karofsky tổ chức một câu lạc bộ chống bắt nạt để thuyết phục Kurt quay trở lại McKinley và New Directions; Kurt trở lại và Warblers hát chào tạm biệt cậu. Lauren đối đầu với Quinn để dành danh hiệu nữ hoàng dạ hội với sự hỗ trợ của Puck, và khám phá ra một số thông tin bất ngờ về quá khứ của cô. Hầu hết các thành viên của nhóm hát khuyên ngăn Rachel không nên sửa mũi sau khi Finn làm gãy nó khi đang nhảy. 
4119 "Rumours" Tim HunterRyan Murphy3 tháng 5, 2011 (2011-05-03)2ARC198.85[19]
Sue phục hồi The Muckraker, tờ báo của trường, và cho đăng những thông tin về các thành viên của nhóm hát nhằm gây ra sự chia rẽ. Quinn yêu cầu Finn dứt khoát về mối quan hệ giữa họ cũng như tình bạn của cậu với Rachel. Brittany chia tay với Artie sau khi cậu nghi ngờ mối quan hệ của cô với Santana và gọi cô là đồ ngốc vì không nhận ra được những âm mưu của Santana. Sam bị buộc phải tiết lộ rằng gia đình cậu hiện đang sống tại một nhà nghỉ sau khi nhà của họ bị tịch thu. April Rhodes (Kristin Chenoweth) quay trở lại để thuyết phục Will biểu diễn cùng cô trên sân khấu Broadway. 
4220 "Prom Queen" Eric StoltzIan Brennan10 tháng 5, 2011 (2011-05-10)2ARC209.29[20]
Cuộc chạy đua dành ngôi vị nữ hoàng dạ hội trở nên căng thẳng, hiệu trưởng Figgins giao nhiệm vụ biểu diễn trong đêm dạ hội cho New Directions. Mercedes cảm thấy buồn vì không có người đi dự dạ hội cùng, nên Rachel sắp xếp để Sam đưa cả hai người họ tới dự dạ hội. Jesse St. James (Jonathan Groff) trở lại để theo đuổi Rachel, điều này khiến Finn tức giận. Kurt tìm cách giúp đỡ Karofsky về vấn đề giới tính và đi cùng Blaine tới dạ hội. Một cặp đôi bất ngờ đã chiến thắng danh hiệu vua và nữ hoàng dạ hội. 
4321 "Funeral" Bradley BueckerRyan Murphy17 tháng 5, 2011 (2011-05-17)2ARC218.97[21]
Ngày càng gần đến ngày thi đấu của giải quốc gia, Will xin Jesse một vài lời khuyên để chiến thắng. Sue phá hoại chuyến đi của nhóm đến New York, nhưng vợ cũ của Will, Terri, cuối cùng đã khắc phục được thiệt hại. Khi chị gái Sue, Jean, qua đời và cô không thể đối phó được với chuyện này, Finn và Kurt nhờ nhóm hát giúp đỡ họ lên kế hoạch cho đám tang. Finn chia tay với Quinn do những tình cảm của mình với Rachel. 
4422 "New York" Brad FalchukBrad Falchuk24 tháng 5, 2011 (2011-05-24)2ARC2211.80[22]
New Directions đến thành phố New York để tham dự giải quốc gia và một lần nữa đối đầu với Vocal Adrenaline. Will chuẩn bị tham gia Broadway cùng April mà không cho họ biết. Finn nỗ lực giành lại tình cảm của Rachel, còn Kurt thì giúp Rachel quyết định cho tương lai của mình. Trong màn biểu diễn của New Directions có một sự gián đoạn đột ngột, dẫn đến sự thất bại của họ. 

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa thứ hai được sản xuất bởi 20th Century Fox Television và Ryan Murphy Television, được phát sóng trên Fox ở Mỹ. Chỉ đạo sản xuất bao gồm Dante Di Loreto cũng như các tác giả Ryan Murphy và Brad Falchuk.[23][24] Tất cả các tập phim đều do Ryan, Brad và Ian Brennan viết kịch bản. Ryan và Brad mỗi người đều đạo diễn 3 tập phim, các tập còn lại do Alfonso Gomez-Rejon, Eric Stoltz, Adam Shankman, Bradley Buecker, Carol Banker, Paris Barclay, Tate DonovanTim Hunter đạo diễn. Kinh phí sản xuất cho mỗi tập từ 3.2 triệu đến 3.8 triệu đô la Mỹ, tăng 20% so với mùa thứ nhất,[24] trừ tập 11 được ước tính lên tới 5 triệu đô la Mỹ,[25] và tập cuối được ghi hình trong vòng một tuần ở thành phố New York với mức kinh phí 6 triệu đô la Mỹ, cao nhất từ trước đến nay đối với một tập phim Glee.[26]

Mùa phim bắt đầu được phát sóng từ ngày 21 tháng 9 năm 2010 vào 8 giờ tối (ET) thứ Ba.[27] Tập đặc biệt "The Sue Sylvester Shuffle" được phát sóng sau khi Super Bowl XLV diễn ra vào ngày 6 tháng 2 năm 2011.[28] Sau đó, Fox dự định chuyển giờ chiếu của phim thành 9 giờ tối thứ Tư,[29] nhưng đã xem xét lại lịch chiếu của mình và quyết định vẫn giữ Glee ở thứ Ba để tập trung phát triển các chương trình khác ở thứ Tư và thứ Năm.[30] Tập 18, "Born This Way", là tập phim dài 90 phút đầu tiên của Glee.[31] Mùa thứ hai kết thúc vào ngày 24 tháng 5 năm 2011, tập cuối được phát sóng vào lúc 9 giờ tối (ET) sau đêm chung kết của American Idol.[32] Việc thực hiện mùa thứ ba được công bố vào ngày 23 tháng 5 năm 2010 trước khi mùa thứ nhất kết thúc.[33]

Ryan Murphy muốn mùa thứ hai tập trung vào các nhân vật phụ trong mùa thứ nhất, đặc biệt là Santana, Brittany và Mike. Ông cho biết, "Tất cả mọi người đều có cơ hội tỏa sáng. Thay vì nhồi nhét làm cho mùa thứ hai trở nên to tát, điều mà mọi người dự đoán, chúng tôi sẽ đi vào chiều sâu. Chúng tôi sẽ tiếp tục những cốt truyệt của các nhân vật chính, nhưng cũng sẽ dành thời gian cho các nhân vật phụ. Ai cũng sẽ có những khoảng khắc của riêng mình."[34]

Chỉ có hai tập phim tribute:[35] "Britney/Brittany" (Britney Spears)[36][37] và "Rumours" (album Rumours của Fleetwood Mac).[38] Thêm vào đó, tập 5, "The Rocky Horror Glee Show", lấy chủ đề The Rocky Horror Show.[39] Mặc dù Ryan định cho ra mắt những bài hát tự sáng tác ngay từ tháng 10 năm 2009,[40] chúng xuất hiện lần đầu trong phim ở mùa thứ hai.[31][41]

Diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

Naya Rivera (trái) và Heather Morris (diễn viên) (phải) đều trở thành diễn viên chính của phim trong mùa thứ hai

Mười hai diễn viên chính của mùa thứ nhất đều quay trở lại trong mùa thứ hai: Matthew Morrison vai huấn luyện viên nhóm hát Will Schuester, Jane Lynch vai huấn luyện viên đội cổ vũ Sue Sylvester, Jayma Mays vai giáo viên cố vấn Emma Pillsbury, Jessalyn Gilsig vai vợ cũ của Will Terri Schuester, cũng như Dianna Agron, Chris Colfer, Kevin McHale, Lea Michele, Cory Monteith, Amber Riley, Mark Salling, Harry Shum Jr. và Jenna Ushkowitz vai các thành viên của nhóm hát, bao gồm Quinn Fabray, Kurt Hummel, Artie Abrams, Rachel Berry, Finn Hudson, Mercedes Jones, Noah "Puck" Puckerman, Mike Chang và Tina Cohen-Chang.[23] Heather MorrisNaya Rivera, trước đây đảm nhận hai vai phụ Brittany Pierce và Santana Lopez, trở thành các diễn viên chính trong phim,[42] cũng như Mike O'Malley vai bố của Kurt Burt Hummel.[43]

Hai diễn viên phụ Harry Shum, Jr.Ashley Fink cũng đảm nhận các vai Mike ChangLauren Zizes, thành viên của New Directions.[44][45] Hai diễn viên phụ khác từ mùa thứ nhất đã không quay trở lại, bao gồm Dijon Talton vai thành viên nhóm hát Matt Rutherford[46]Patrick Gallagher vai huấn luyện viên đội bóng bầu dục Ken Tanaka (được thay thế bởi Dot-Marie Jones vai Shannon Beiste).[47][48] Các diễn viên phụ tiếp tục tham gia phim bao gồm Iqbal Theba vai hiệu trưởng Figgins, Stephen Tobolowsky vai cựu huấn luyến viên nhóm hát Sandy Ryerson, Romy Rosemont vai mẹ Finn Carole Hudson, Max Adler vai Dave Karofsky, James Earl vai Azimio, Josh Sussman vai phóng viên của tờ báo trường Jacob Ben Israel, Lauren Potter vai thành viên đội cổ vũ Becky Jackson, Jonathan Groff vai bạn trai cũ của Rachel Jesse St. James và Kristin Chenoweth vai April Rhodes.[38][49] Một số nhân vật phụ mới cũng được bổ sung như Chord Overstreet vai Sam Evans,[50][51] Darren Criss vai Blaine Anderson,[52] Cheyenne Jackson vai Dustin Goolsby,[53] Charice vai Sunshine Corazon,[54] John Stamos vai nha sĩ Carl Howell[55]Gwyneth Paltrow vai Holly Holliday.[56]

Meat LoafBarry Bostwick, hai diễn viên chính trong The Rocky Horror Picture Show, xuất hiện trong tập 5[57] với vai quản lý đài truyền hình và đồng nghiệp của Sue.[58] Adam Kolkin đảm nhận vai Kurt lúc 8 tuổi trong tập 3,[59][60] và trong tập 7, một số diễn viên nhí vào vai phiên bản lúc nhỏ của các thành viên trong New Direction.[61] Mẹ của Sue, Doris Sylvester (Carol Burnett), cũng xuất hiện.[62] Nhà báo Katie Couric trở thành khách mời với tư cách là chính mình khi phỏng vấn Sue trong tập 11.[63]

Một chương trình truyền hình thực tế với mục đích tuyển vai công khai cho phim ban đầu được lên kế hoạch phát sóng trên Fox trước khi mùa thứ hai bắt đầu[64][65] nhưng đã bị hủy bỏ do Ryan Murphy muốn tập trung cho phim và lo rằng chương trình này sẽ ảnh hưởng không tốt đến Glee.[66] Ý tưởng này được tiếp tục bởi Oxygen, và The Glee Project bắt đầu lên sóng từ tháng 6 năm 2011 sau khi mùa thứ hai kết thúc. Người chiến thắng nhận được một vai diễn khách mời trong mùa thứ ba của Glee.[67] Cả bốn thí sinh lọt vào vòng chung kết đều đạt giải: hai giải nhất được xuất hiện trong 7 tập và hai giải nhì được xuất hiện trong 2 tập.[68]

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa thứ hai của Glee chuyển sang cover nhiều bài hát nằm trong Top 40 hơn so với mùa thứ nhất, nhằm thu hút khán giả trẻ. Sau khi sử dụng các bài hát của năm 2010 như "Just the Way You Are" của Bruno Mars và "Forget You" của Cee Lo Green, chỉ đạo âm nhạc PJ Bloom nhận xét, "Chúng tôi sử dụng các bài hát trong phim khi chúng đang thành công trên các bảng xếp hạng." Anh cho biết quá trình lựa chọn các bài hát, kiểm tra bản quyền, thu âm và ghi hình diễn ra ít nhất là trong vài tuần. Nhà sản xuất âm nhạc Adam Anders còn tiết lộ rằng việc này có thể còn diễn ra trước cả khi giải quyết vấn đề bản quyền bởi các tác giả của Glee có cơ hội được nghe trước các bài hát sắp ra mắt.[69]

Phiên bản "Teenage Dream" của Katy Perry (trong ảnh) do Darren Criss thể hiện là bài hát bán chạy nhất trong ngày và tuần đầu tiên của Glee

EP Glee: The Music, The Rocky Horror Glee Show được phát hành giữa tháng 10 năm 2010 cùng với tập 5.[70] Glee: The Music, The Christmas Album, bao gồm các bài hát với chủ đề Giáng sinh, được phát hành vào ngày 9 tháng 11 năm 2010, và Glee: The Music, Volume 4, bao gồm các bài hát trong nửa đầu mùa thứ hai, cũng được phát hành cuối tháng 11.[71] Glee: The Music, Volume 5, bao gồm các bài hát từ tập 11 đến tập 16, được phát hành vào ngày 8 tháng 3 năm 2011.[72] Glee: The Music Presents the Warblers, bao gồm các bài hát do Dalton Academy Warblers thể hiện, được phát hành vào ngày 19 tháng 4 năm 2011.[73] Glee: The Music, Volume 6, album nhạc phim cuối cùng của mùa thứ hai, được phát hành vào ngày 23 tháng 5 năm 2011.[74]

Âm nhạc của mùa thứ hai đã đạt được một số thành số thành công trên các bảng xếp hạng. Glee: The Music, The Rocky Horror Glee Show đạt thứ hạng cao nhất ở vị trí thứ 6 trên bảng xếp hạng Billboard 200 với 48,000 bản, lượng đĩa thấp nhất trong tuần đầu ở Mỹ so với các album khác của phim,[75] nhưng đồng thời lại là thứ hạng cao nhất mà một album Rocky Horror từng đạt được.[76] Glee: The Music, The Christmas AlbumGlee: The Music, Volume 5 đều đạt vị trí đầu bảng, lần lượt ở Canada[77] và Úc;[78] album đạt thứ hạng cao nhất ở Mỹ là Glee: The Music Presents the Warblers ở vị trí thứ hai.[79] Album nhạc Giáng sinh được chứng nhận bạch kim ở Mỹ,[80] còn Glee: The Music, Volume 4 thì suýt được chứng nhận đĩa bạch kim đôi ở Úc.[81] Bản cover "O Holy Night" xuất hiện lần đầu tiên ở vị trí đầu bảng trên bảng xếp hạng Holiday Digital Songs.[82] Đĩa đơn đạt thứ hạng cao nhất trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 là bài hát tự sáng tác "Loser Like Me", xuất hiện lần đầu tiên ở vị trí thứ 6[83] với 210,000 lượt tải về trong tuần đầu, chỉ sau "Teenage Dream" của Katy Perry, và trở thành đĩa đơn đầu tiên của Glee đứng đầu bảng xếp hạng Digital Songs của Billboard, đồng thời vượt kỷ lục 177,000 lượt tải về trong tuần đầu của "Don't Stop Believin'".[84][85] "Teenage Dream" và "Loser Like Me" là các đĩa đơn thứ hai và ba của Glee được chứng nhận đĩa vàng ở Mỹ; sau "Don't Stop Believin'".[80]

Kỷ lục của một nhóm nhạc có nhiều bài hát xuất hiện trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 nhất, trước đó do The Beatles giữ, bị phá vỡ khi 6 bài hát trong tập 2, "Britney/Brittany", lọt vào bảng xếp hạng vào ngày 16 tháng 10 năm 2010, nâng tổng số các bài hát của Glee xuất hiện trên bảng xếp hạng này lên 75, đứng thứ ba trong tất cả các nghệ sĩ chỉ sau James BrownElvis Presley.[86] 4 bài hát nữa lọt vào bảng xếp hạng vào ngày 18 tháng 11 năm 2010, nâng con số này lên 93 và giúp Glee vượt qua James Brown lên vị trí thứ nhì.[87] Ngày 16 tháng 2 năm 2011, Glee được công bố là đã vượt qua Elvis để nắm giữ vị trí thứ nhất với 113 bài hát.[88] Glee kết thúc mùa thứ hai với 156 bài hát lọt vào Billboard Hot 100.[89] Các bản cover của phim đã tác động tích cực lên bản gốc của một số nghệ sĩ. Sau khi tập "Britney/Brittany" lên sóng, các bài hát của Britney Spears được cover bán được 35,000 bản.[24] Tập "Rumours" thậm chí còn có sức ảnh hưởng lớn hơn tới album cùng tên của Fleetwood Mac: 5 ngày sau khi tập phim lên sóng, album Rumours lọt vào các bảng xếp hạng tại Úc ở vị trí thứ hai;[90] đồng thời được chứng nhận đĩa vàng thứ 13 ở Úc vào cuối tháng 5.[91]

Sự đón nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá phê bình[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù Metacritic cho mùa thứ hai điểm trung bình 76/100 dựa trên 11 bài đánh giá, số điểm này có từ tháng 9 và tháng 10 năm 2010 và chỉ phản ánh hai tập đầu mà thôi.[92] Toàn bộ mùa phim nhận được những phản hồi trái chiều từ các nhà phê bình. Robert Canning của IGN viết rằng tập cuối "New York" "là một kết thúc tạm ổn cho một mùa phim thú vị", còn Kevin Fallon của The Atlantic thì nói rằng mùa thứ hai "gây bực mình một cách không thể chối cãi" nhưng "vẫn có nhiều lý do để đón xem và thưởng thức".[93][94] Anthony Benigno của The Faster Times và Todd VanDerWerff của The A.V. Club lần lượt cho mùa phim điểm "C+"[95] và "B-"[96] Brett Berk của Vanity Fair kết luận: "Chất lượng mùa thứ hai của Glee giống như địa hình của Utah, hay sự nghiệp diễn xuất của Amanda Peet—chỉ tạm chấp nhận được và phải dựa vào ngoại hình đẹp, nhưng đôi khi cũng có một vài khí chất riêng, khó hiểu, hãi hùng, và một chút u sầu—theo một cách hay." [97]

Một số tập phim bị phàn nàn bởi các nhóm lợi ích. Parents Television Council chỉ trích "Britney/Brittany", "Blame It on the Alcohol" và "Sexy" do những nội dung về vấn đề giới tính[98] "Sexy" cụng bị quỹ từ thiện trẻ em Kidscape phê bình vì đã sử dụng một bài hát "hoàn toàn không phù hợp" của Gary Glitter.[99] Gay & Lesbian Alliance Against Defamation thì phản đối việc sử dụng thuật ngữ "tranny" trong tập "The Rocky Horror Glee Show",[100] Tập "The Substitute" cũng bị chỉ trích bởi National Alliance on Mental Illness vì sự mô tả hài hước về chứng đa nhân cách.[101] Tuy nhiên, một số nhà phê bình vẫn khen ngợi phim vì sự đa dạng của mùa thứ hai. Akash Nikolas của Zap2It viết, "Đúng là phim thường được lên kịch bản một cách thất thường, nhưng điều mà nó thực hiện tốt nhất là tạo ra một ảo tưởng lạ lùng để cổ vũ "sự khác biệt", nhiều niềm vui và ít nỗi buồn. Không một chương trình truyền hình nào có một dàn diễn viên đa dạng như vậy: màu da khác nhau, giới tính khác nhau, thể hình khác nhau và thậm chí là cả người khuyết tật." [102]

Lượng người xem[sửa | sửa mã nguồn]

Tập đầu tiên của mùa, "Audition", lên sóng vào ngày 21 tháng 9 năm 2010 và đạt lượng người xem trung bình là 12.45 triệu ở Mỹ. Tập thứ hai, với các bài hát của Britney Spears, đạt 13.51 triệu người xem.[103][104] 14 tập tiếp theo đều có lượng người xem từ 10.51 đến 11.92 triệu, trừ tập 11 được phát sóng vào ngày 6 tháng 2 năm 2011 sau khi Super Bowl diễn ra, đây cũng là tập phim có lượng người xem cao nhất của Glee với hơn 26.8 triệu người xem, đỉnh điểm ở mức 39.5 triệu.[105]

Sau khi vắng mặt 5 tuần, phim bắt đầu lên sóng trở lại vào ngày 19 tháng 4 năm 2001 nhưng lượng người xem ở Mỹ giảm xuống dưới 10 triệu, đặc biệt là tập "Born This Way" dài 90 phút với lượng người xem thấp nhất mùa thứ 2 (8.62 triệu).[106] Chỉ có tập cuối của mùa, lên sóng chậm hơn một tiếng so với thông thường để nhường chỗ cho tập áp chót của American Idol, đạt trên 10 triệu lượt xem (11.80 triệu).[107]

Trong suốt mùa thứ hai, Glee nằm ở vị trí thứ 43 trên tổng số 268 chương trình giờ cao điểm có ít nhất 1 triệu người xem, với lượng người xem trung bình ở mức 10.11 triệu.[108]

Một bài báo của The Hollywood Reporter vào ngày 25 tháng 1 năm 2011 cho biết rằng Glee đã trở thành chương trình truyền hình của Mỹ được xem nhiều nhất tại Anh.[24]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Jane Lynch (trong ảnh) nhận được các giải Dorian Award, Quả cầu vàng và People's Choice Award cho vai diễn của mình trong mùa thứ hai[109][110][111]

Trong mùa thứ hai, Glee nhận được 45 đề cử và chiến thắng ở 3 hạng mục trên tổng số 5 đề cử cho giải Quả cầu vàng lần thứ 68,[110] cũng như 2 hạng mục trên tổng số 4 đề cử của giải People's Choice Awards lần thứ 37,[111] nhưng lại không nhận được giải nào trong số 5 đề cử cho giải Satellite Awards 2010,[112] 3 đề cử cho giải Screen Actors Guild Awards lần thứ 17[113] và 2 đề cử cho giải NAACP Image Award.[114] Glee cũng nhận được 9 đề cử cho giải Visibility Awards của AfterEllen.com và AfterElton.com và chiến thắng 4 giải,[115][116] cũng như 4 giải khác từ Hiệp hội các nhà phê bình giải trí đồng tính tại giải Dorian Awards năm 2011, trong đó Chris Colfer và Jane Lynch cùng nhận được giải Vai diễn trong phim truyền hình hài của năm.[109] Nhà sản xuất phim Alexis Martin Woodall nhận được giải Phim truyền hình do nữ sản xuất tại WIN Awards,[117] trong số 3 đề cử dành cho Glee.[118]

Glee trở thành một trong những chương trình truyền hình của năm do Viện phim Mỹ lựa chọn tại giải AFI Awards năm 2010,[119] và cùng Modern Family nhận được giải sê ri phim truyền hình hài xuất sắc tại giải GLAAD Media Awards lần thứ 22.[120] Nhà thiết kế trang phục cho phim Lou Eyrich cũng nhận được giải sê ri phim truyền hình đương đại xuất sắc tại giải Costume Designers Guild Awards năm 2010,[121] các đạo diễn tuyển vai Robert J. Ulrich, Eric Dawson và Carol Kritzer nhận được một giải CSA Media Access Award cho hạng mục diễn viên tật nguyền.[122] Glee cũng được đề cử tại giải British Academy Television Awards năm 2010 cho hạng mục Phim truyền hình quốc tế,[123] và tại giải BRIT Awards năm 2011 cho hạng mục Phim quốc tế đột phá,[124] cũng như tại giải National Television Awards năm 2011 cho hạng mục Digital Choice.[125] Jane Lynch được đề cử giải Nữ diễn viên phim truyền hình tại lễ trao giải Comedy Awards đầu tiên.[126] Ian Brenna, Brad Falchuk và Ryan Murphy được đề cử cho hạn mục Sê ri phim truyền hình hài tại giải Writers Guild of America Awards năm 2011,[127] cũng như cùng với Di Loreto và Kenneth Silverstein, được đề cử cho hạng mục Nhà sản xuất phim truyền hình dài tập xuất sắc tại giải Producers Guild of America Awards năm 2010.[128]

DVD và Blu-ray[sửa | sửa mã nguồn]

Glee: Season 2, Volume 1 bao gồm 10 tập đầu tiên của mùa thứ hai và được phát hành dưới dạng một bộ 3 đĩa DVD vào ngày 25 tháng 1 năm 2011 ở Mỹ và Canada,[129] ngày 23 tháng 3 năm 2011 ở Úc và New Zealand[130][131] và ngày 4 tháng 4 năm 2011 ở Anh và Ireland.[132][133] 12 tập cuối được phát hành trong Glee: Season 2, Volume 2 vào ngày 13 tháng 9 năm 2011 tại Mỹ. Glee: The Complete Second Season được phát hành trong cùng ngày dưới định dạng DVD và Blu-ray.[134] 2 DVD và 1 đĩa Blu-ray này được phát hành ở Anh vào ngày 19 tháng 9 năm 2011,[135][136][137] và ở Úc vào ngày 5 tháng 10 năm 2011.[138][139][140] Amazon.com bắt đầu nhận đặt trước bộ đĩa đầy đủ từ tháng 9 năm 2010 trong tuần đầu tiên mùa thứ hai được phát sóng.[141]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Porter, Rick (ngày 22 tháng 9 năm 2010). “Tuesday ratings breakdown: Returning shows rule”. Zap2it. Tribune Media Services. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2010. 
  2. ^ Gorman, Bill (ngày 29 tháng 9 năm 2010). “Tuesday Finals: Glee, No Ordinary Family, NCIS, Dancing Up; Raising Hope, Detroit 1–8–7, Running Wilde Down. TV by the Numbers. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2010. 
  3. ^ Seidman, Robert (ngày 6 tháng 10 năm 2010). “Tuesday Finals: Glee, No Ordinary Family, NCIS, Dancing, Parenthood Up; Raising Hope, Detroit 1–8–7, Running Wilde Down”. TV by the Numbers. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2010. 
  4. ^ Gorman, Bill (ngày 13 tháng 10 năm 2010). “Tuesday Finals: Glee, Dancing With The Stars Adjusted Up; Detroit 1–8–7, The Good Wife, Raising Hope, Running Wilde, Life Unexpected Down”. TV by the Numbers. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2010. 
  5. ^ Gorman, Bill (ngày 27 tháng 10 năm 2010). “Tuesday Finals: Glee, Dancing Adjusted Up; Detroit 1–8–7, Raising Hope Adjusted Down”. TV by the Numbers. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2010. 
  6. ^ Gorman, Bill (ngày 10 tháng 11 năm 2010). “Tuesday Finals: NCIS, Glee, Life Unexpected Adjusted Up; Detroit 187, Raising Hope Adjusted Down”. TV by the Numbers. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2010. 
  7. ^ Seidman, Robert (ngày 17 tháng 11 năm 2010). “Tuesday Finals: Glee Sings Louder, Adjusted Up; Detroit 187 Adjusted Down”. TV By the Numbers. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2010. 
  8. ^ Seidman, Robert (ngày 24 tháng 11 năm 2010). “Tuesday Finals: The Biggest Loser Sheds a Tenth; Raising Hope Gains It”. TV By the Numbers. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2011. 
  9. ^ Gorman, Bill (ngày 1 tháng 12 năm 2010). “Tuesday Finals: Glee, Rudolph, The Grinch Adjusted Up”. TV by the Numbers. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2010. 
  10. ^ Gorman, Bill (ngày 8 tháng 12 năm 2010). “Tuesday Finals: ‘One Tree Hill’ Adjusted Up; ‘Raising Hope’ Adjusted Down”. TV by the Numbers. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2010. 
  11. ^ Hibberd, James (ngày 7 tháng 2 năm 2011). 'Glee' Super Bowl ratings are in! Biggest scripted TV telecast in three years”. Entertainment Weekly (Time Inc). Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2011. 
  12. ^ Seidman, Robert (ngày 9 tháng 2 năm 2011). “Tuesday Final Ratings: 'Glee' Adjusted Up, 'Raising Hope' Adjusted Down”. TV by the Numbers. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2011. 
  13. ^ Gorman, Bill (ngày 16 tháng 2 năm 2011). “Tuesday Final Ratings: 'NCIS,' 'Traffic Light' Adjusted Down”. TV by the Numbers. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2011. 
  14. ^ Seidman, Robert (ngày 24 tháng 2 năm 2011). “Tuesday Final Ratings: 'Glee' Adjusted Up, Ties 'NCIS'; 'The Good Wife' Adjusted Up; 'Raising Hope,' 'Traffic Light' Adjusted Down”. TV by the Numbers. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2011. 
  15. ^ Seidman, Robert (ngày 9 tháng 3 năm 2011). “Tuesday Final Ratings: 'Raising Hope' Adjusted Down; No Adjustments for 'V'. TV by the Numbers. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2011. 
  16. ^ Gorman, Bill (ngày 16 tháng 3 năm 2011). “Tuesday Final Ratings: 'V,' 'Glee' Adjusted Up; 'Raising Hope,' 'Detroit 1–8–7,' 'Traffic Light' Adjusted Down”. TV by the Numbers. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2011. 
  17. ^ Seidman, Robert (ngày 20 tháng 4 năm 2011). “Tuesday Final Ratings: 'Glee,' DWTS Results, NCIS: LA 10p Repeat Adjusted Up; 'Raising Hope,' 'Traffic Light' Adjusted Down”. TV by the Numbers. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2011. 
  18. ^ Gorman, Bill (ngày 27 tháng 4 năm 2011). “Tuesday Final Ratings: 'Dancing With The Stars' Adjusted Up; 'Body Of Proof,' 'Raising Hope,' 'Biggest Loser' Adjusted Down”. TV by the Numbers. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2011. 
  19. ^ Seidman, Robert (ngày 3 tháng 5 năm 2011). “Tuesday Final Ratings: 'The Voice,' 'NCIS,' 'Dancing With The Stars,' 'Glee,' 'The Biggest Loser,' 'Hellcats' Adjusted Up; 'Raising Hope,' 'Traffic Light' Adjusted Down”. TV by the Numbers. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2011. 
  20. ^ Gorman, Bill (ngày 11 tháng 5 năm 2011). “Tuesday Final Ratings: 'The Voice,' 'Glee,' 'Dancing' Adjusted Up; 'Raising Hope,' 'Traffic Light' Adjusted Down”. TV by the Numbers. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2011. 
  21. ^ Seidman, Robert (ngày 18 tháng 5 năm 2011). “Tuesday Final Ratings: 'Breaking In,' 'The Good Wife,' 'Body of Proof' Adjusted Down; 'NCIS,' 'NCIS: LA,' 'Glee,' 'The Biggest Loser' Adjusted Up”. TV by the Numbers. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2011. 
  22. ^ Gorman, Bill (ngày 25 tháng 5 năm 2011). “Tuesday Final Ratings: 'American Idol,' 'Dancing With The Stars' Adjusted Up”. TV by the Numbers. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2011. 
  23. ^ a ă “Fox – 2010 – Returning Series” (PDF). Fox Broadcasting Company. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2010. 
  24. ^ a ă â b Halperin, Shirley (ngày 25 tháng 1 năm 2011). “Exclusive: Inside the Hot Business of 'Glee'. The Hollywood Reporter. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2011. 
  25. ^ Stack, Tim (ngày 21 tháng 1 năm 2011). 'Glee': On the set for the Super Bowl episode's huge 'Thriller' performance”. Entertainment Weekly. Time Inc. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2011. 
  26. ^ Guthrie, Marisa; Halperin, Shirley (ngày 11 tháng 5 năm 2011). “FIRST LOOK: Glee's Biggest, Craziest, Most Expensive Show Ever”. The Hollywood Reporter. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2011. 
  27. ^ Gorman, Bill (ngày 17 tháng 5 năm 2010). “Fox Announces 2010–11 Primetime Schedule”. TV by the Numbers. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2010. 
  28. ^ Dos Santos, Kristin (ngày 10 tháng 8 năm 2010). “Britney Spears Will Guest Star on Glee—and Michael Jackson's Music Might Show Up Too!”. E!. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2010. 
  29. ^ Rice, Lynette (ngày 19 tháng 11 năm 2010). “Fox moves 'American Idol' to Wednesdays and Thursdays”. Entertainment Weekly. Time Inc. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2010. 
  30. ^ Adalian, Josef (ngày 19 tháng 11 năm 2010). “Fox Moves American Idol to Thursday, a Potentially Bad Sign for ABC and NBC Comedies”. New York. New York Media Holdings. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2010. 
  31. ^ a ă Wightman, Catriona (4 tháng 4 năm 2011). “Q&A: Ian Brennan chats 'Glee'!”. Digital Spy. Hachette Filipacchi UK. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2011. 
  32. ^ Seidman, Robert (ngày 20 tháng 4 năm 2011). “Prepare for an A-May-Zing May on Fox”. TV By the Numbers. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2011. 
  33. ^ Rice, Lynette (ngày 23 tháng 5 năm 2010). 'Glee' earns season 3 pickup from Fox (EW Exclusive)”. Entertainment Weekly. Time Inc. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2010. 
  34. ^ Ryan, Andrew (20 tháng 9 năm 2010). “Can Glee keep it going on?”. Toronto Star. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2011. 
  35. ^ Young, Susan C. (ngày 11 tháng 8 năm 2010). “The great 'Glee' divide may help more than hurt”. MSNBC. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2011. 
  36. ^ Mullins, Jenna (25 tháng 7 năm 2010). “Live from Comic-Con: Glee Tackles Britney Spears, a New Love Triangle and...a 3-D Movie?!”. E! Online. E!. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2010. 
  37. ^ Martin, Denise (13 tháng 7 năm 2010). “Exclusive: Glee's Brittany Sings Britney Spears in Season Two”. TV Guide. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2010. 
  38. ^ a ă Ausiello, Michael; Masters, Megan (ngày 16 tháng 3 năm 2011). “Glee Scoop: Kurt and Blaine Are Prom-Bound!”. TVLine. Mail.com Media. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2011. 
  39. ^ Lipshutz, Jason (28 tháng 9 năm 2011). 'Glee' Announces 'Rocky Horror' Album Details”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2011. 
  40. ^ Herrera, Monica (23 tháng 10 năm 2009). “Glee Rewrites the Script on TV Music”. Billboard. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2011. 
  41. ^ Kennedy, Gerrick D. (25 tháng 2 năm 2011). 'Glee' to debut original music including Max Martin penned track”. Los Angeles Times. Tribune Company. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2011. 
  42. ^ Keck, William (29 tháng 4 năm 2010). Glee Scoop!”. TV Guide Magazine. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2010. 
  43. ^ Ghosh, Korbi (13 tháng 7 năm 2010). “GLEE Exclusive: Mike O’Malley Made Series Regular for Season 2, Plus More Show Intel…”. GiveMeMyRemote.com. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2010. 
  44. ^ Goldman, Eric (3 tháng 8 năm 2010). “Glee: More Whedon? More Brittany?”. IGN. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2010. 
  45. ^ Hasaka, Amanda (24 tháng 1 năm 2011). “Ashley Fink: "I'm the luckiest girl in the world.". Celebuzz (Buzz Media). Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2011. 
  46. ^ Nguyen, Hanh (8 tháng 9 năm 2010). 'Glee' premiere: 10 things to expect when the series returns”. Zap2it. Tribune Media Services. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2010. 
  47. ^ Keck, William (26 tháng 7 năm 2010). “Keck's Exclusives: Glee Adds Female Coach”. TV Guide. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2010. 
  48. ^ Keck, William (27 tháng 7 năm 2010). “Keck's Exclusives: Glee Drops Coach Tanaka!”. TV Guide. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2010. 
  49. ^ Mullins, Jenna (30 tháng 3 năm 2011). “TV Update: The Groff Returns to Glee!”. E!. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2011. 
  50. ^ Seidman, Robert (26 tháng 7 năm 2010). “Chord Overstreet Signs Up For New Directions; Newcomer to Guest-Star in Second Season of 'Glee'. TV by the Numbers. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2010. 
  51. ^ Malkin, Marc (ngày 10 tháng 8 năm 2010). “New Glee Star Chord Overstreet Wants to "Beat It". E!. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2010. 
  52. ^ Ausiello, Michael (26 tháng 9 năm 2010). “Scoop: Darren Criss joins 'Glee' as...Kurt's new BF?”. Entertainment Weekly (Time Inc). Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  53. ^ Ausiello, Michael (27 tháng 7 năm 2010). 'Glee' exclusive: Cheyenne Jackson is the new (spoiler alert)!”. Entertainment Weekly. Time Inc. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2010. 
  54. ^ Ausiello, Michael (21 tháng 6 năm 2010). 'Glee' exclusive: Charice IS joining the cast!”. Entertainment Weekly. Time Inc. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010. 
  55. ^ Dos Santos, Kristin (8 tháng 6 năm 2010). “It's Official! John Stamos Will Come to Glee Next Season”. E! Online. E!. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2010. 
  56. ^ Stack, Tim (8 tháng 1 năm 2011). 'Glee' exclusive: Season 2 to feature more Gwyneth and Gaga!”. Entertainment Weekly (Time Inc). Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2011. 
  57. ^ Dos Santos, Kristin (10 tháng 9 năm 2010). “Exclusive: Rocky Horror Original Castmembers to Appear in Glee's Tribute Episode”. E!. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2010. 
  58. ^ Newman, Melinda (ngày 23 tháng 9 năm 2010). “Barry Bostwick talks 'Glee' and 'Rocky Horror Picture Show' 35 years later”. HitFix. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2010. 
  59. ^ Adly MacKenzie, Carina (4 tháng 10 năm 2010). 'Glee' preview: 'Grilled Cheesus' is just what we were craving”. Zap2it. Tribune Media Services. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2010. 
  60. ^ Fletcher, Jaimee Lynn (ngày 29 tháng 9 năm 2010). “O.C. teen to play younger Kurt on 'Glee'. The Orange County Register (Freedom Communications). Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2010. 
  61. ^ Ausiello, Michael (4 tháng 10 năm 2010). “Scoop: 'Glee' cast gets miniaturized!”. Entertainment Weekly. Time Inc. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2010. 
  62. ^ Hetrick, Adam (4 tháng 8 năm 2010). "Glee" Nabs Carol Burnett as Sue Sylvester's Mom”. Playbill.com. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2010. 
  63. ^ Eng, Joyce (ngày 2 tháng 12 năm 2010). “Katie Couric to Appear on Glee”. TV Guide. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2010. 
  64. ^ “Gleeks Rejoice! Fox Picks Up Second Season of "Glee" (Thông cáo báo chí). Fox Broadcasting Company. 11 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2010. 
  65. ^ Schneider, Michael (11 tháng 1 năm 2010). “Fox execs in informal talks with O'Brien's reps”. Variety. Reed Business Information. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2010. 
  66. ^ Adalian, Josef (22 tháng 6 năm 2010). “Fox's Plans for a Glee Reality Show Have Been Quietly Shelved”. New York. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010. 
  67. ^ “The Glee Project”. Oxygen. Oxygen Media. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2010. 
  68. ^ Slezak, Michael (21 tháng 8 năm 2011). “The Glee Project Season Finale Recap: And the Winner Is...”. TV Line. Mail.com Media. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2011. 
  69. ^ Donahue, Ann (13 tháng 12 năm 2010). "Glee" throws lifeline to music industry”. Billboard (Los Angeles: Reuters). Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2010. 
  70. ^ “Glee: The Music, The Rocky Horror Glee Show in Stores October 19” (Thông cáo báo chí). PR Newswire. 28 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2010. 
  71. ^ “Glee: The Music, Volume 4 Available November 30” (Thông cáo báo chí). PR Newswire. 9 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2010. 
  72. ^ “Glee: The Music, Volume 5 coming March 8!”. GleeTheMusic.com. Sony Music Entertainment. 22 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2011. 
  73. ^ “Glee: The Music Presents The Warblers Available April 19” (Thông cáo báo chí). New York: Columbia Records. PR Newswire. 23 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2011. 
  74. ^ “Pre-Order Glee: The Music, Volume 6 available Monday May 23”. GleeTheMusic.com. Sony Music Entertainment. Ngày 3 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2011. 
  75. ^ Caulfield, Keith (ngày 27 tháng 10 năm 2010). “Sugarland Tops Kings of Leon on Billboard 200”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2010. 
  76. ^ Grein, Paul (ngày 27 tháng 10 năm 2010). “Week Ending Oct. 24, 2010: Place Your Bets”. Chart Watch. Yahoo! Music. Yahoo!. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2010. 
  77. ^ Williams, John (15 tháng 12 năm 2010). 'Glee' holiday album hits No. 1”. JAM! Music. Canadian Online Explorer. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2010. 
  78. ^ “Soundtrack / Glee Cast – Glee: The Music – Season Two – Volume 4 (Album)”. australian-charts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2011. 
  79. ^ Caulfield, Keith (ngày 27 tháng 4 năm 2011). 'Glee' Warblers Album Flies High on Billboard 200”. Billboard (Los Angeles: Prometheus Global Media). Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2011. 
  80. ^ a ă “RIAA Gold & Platinum”. Recording Industry Association of America. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2011.  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “riaa” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  81. ^ “Glee: The Music Presents The Warblers Available In Australia On April 22nd”. GleeTheMusic.com. Sony Music Entertainment. Ngày 27 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2011. 
  82. ^ Trust, Gary (ngày 24 tháng 11 năm 2010). “Weekly Chart Notes: Rihanna, Gwyneth Paltrow, the Beatles”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2010. 
  83. ^ Trust, Gary (23 tháng 3 năm 2011). “Lady Gaga, 'Glee' Songs Dominate Hot 100”. Billboard (New York: Prometheus Global Media). Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2011. 
  84. ^ Caulfield, Keith (11 tháng 11 năm 2010). 'Glee's' 'Teenage Dream' Targeting Big Chart Bow Next Week”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2010. 
  85. ^ Caulfield, Keith (ngày 17 tháng 11 năm 2010). “A 'Dream' Come True: 'Glee' Cast and Susan Boyle Top Charts”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2010. 
  86. ^ Trust, Gary (ngày 6 tháng 10 năm 2010). 'Glee' Cast Breaks Beatles' Hot 100 Record”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2010. 
  87. ^ Caulfield, Keith; Pietroluongo, Silvio (18 tháng 11 năm 2010). “Chart Moves: Far East Movement, "Glee," Susan Boyle, Josh Groban”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2010. 
  88. ^ Trust, Gary (ngày 16 tháng 2 năm 2011). 'Glee' Cast Tops Elvis Presley for Most Hot 100 Hits”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2011. 
  89. ^ Trust, Gary (2 tháng 6 năm 2011). “Weekly Chart Notes: Scotty McCreery, Lauren Alaina, Beyonce”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2012. 
  90. ^ Dale, David (17 tháng 6 năm 2011). “Don't stop thinking about yesterday”. The Sydney Morning Herald (Fairfax Media). Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2011. 
  91. ^ “The ARIA Report: Week Commencing 6 June 2011” (PDF) (1110). Pandora Archive. 30 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2011. 
  92. ^ “Glee: Season 2”. Metacritic. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2011. 
  93. ^ Fallon, Kevin; Brown, Meghan (ngày 25 tháng 5 năm 2011). 'Glee' Finale: An Uneven End to an Uneven Season”. The Atlantic. Atlantic Media Company. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2011. 
  94. ^ Canning, Robert (ngày 25 tháng 5 năm 2011). “Glee: "New York" Review”. IGN.com. News Corporation. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2011. 
  95. ^ Benigno, Anthony (ngày 25 tháng 5 năm 2011). 'Glee' Recap (Season 2 Finale): New York City Serenade (LISTEN)”. The Faster Times. Sam Apple. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2011. 
  96. ^ VanDerWerff, Todd (ngày 25 tháng 5 năm 2011). "New York". The A.V. Club. The Onion. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2011. 
  97. ^ Berk, Brett (ngày 25 tháng 5 năm 2011). “The Gay Guide to Glee: Season 2, Episode 22, "New York". Vanity Fair. Condé Nast Publications. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2011. 
  98. ^ Parents Television Council "Worst TV Show of the Week":
  99. ^ “Disgraced Gary Glitter song in 'Glee'. Toronto Sun. Ngày 10 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2011. 
  100. ^ Kane, Matt (29 tháng 10 năm 2010). “Glee Episode Hits The Wrong Note”. Gay & Lesbian Alliance Against Defamation. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2010. 
  101. ^ “Glee: Not Funny”. National Alliance on Mental Illness. 3 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2010. 
  102. ^ http://popconfidential.zap2it.com/2011/03/16/blurt-finally-kisses-on-glee
  103. ^ Gorman, Bill (ngày 29 tháng 9 năm 2010). “Tuesday Finals: Glee, No Ordinary Family, NCIS, Dancing Up; Raising Hope, Detroit 1–8–7, Running Wilde Down”. TV by the Numbers. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2010. 
  104. ^ Gorman, Bill (14 tháng 4 năm 2010). “Broadcast Finals Tuesday: Dancing, Lost Adjusted Up; V Adjusted Down”. TV by the Numbers. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2010. 
  105. ^ Seidman, Robert (8 tháng 2 năm 2011). “Sunday Final Ratings: Super Bowl Demos Galore, Plus 'Glee' 15 Minute Detail”. TV by the Numbers. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2011. 
  106. ^ Gorman, Bill. “Tuesday Final Ratings: 'Dancing With The Stars' Adjusted Up; 'Body Of Proof,' 'Raising Hope,' 'Biggest Loser' Adjusted Down”. TV by the Numbers. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2011. 
  107. ^ Gorman, Bill (ngày 25 tháng 5 năm 2011). “Tuesday Final Ratings: 'American Idol,' 'Dancing With The Stars' Adjusted Up”. TV by the Numbers. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2011. 
  108. ^ Gorman, Bill (1 tháng 6 năm 2011). “2010–11 Season Broadcast Primetime Show Viewership Averages”. TV by the Numbers. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2011. 
  109. ^ a ă Kilday, Gregg (18 tháng 1 năm 2011). 'Glee,' 'I Am Love' Score Dorian Awards”. The Hollywood Reporter (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2011. 
  110. ^ a ă “Nominations & Winners: 2010”. Golden Globes. Hollywood Foreign Press Association. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2011. 
  111. ^ a ă “People's Choice Awards 2011 Nominees”. People's Choice Awards. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2010. 
  112. ^ “International Press Academy 2010 Nominations” (PDF). International Press Academy. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2010. 
  113. ^ “The 17th Annual Screen Actors Guild Awards”. Screen Actors Guild. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2011. 
  114. ^ “Television Nominees”. NAACP Image Awards. National Association for the Advancement of Colored People. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2011. 
  115. ^ AfterEllen.com Staff (20 tháng 12 năm 2010). “The AfterEllen.com 2010 Visibility Awards – Winners”. AfterEllen.com. Logo. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2011. 
  116. ^ AfterElton.com Staff (20 tháng 12 năm 2010). “The AfterElton.com 2010 Visibility Awards – Winners”. AfterElton.com. Logo. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2011. 
  117. ^ “The WIN Awards 2010 Winners”. Women's Image Network. 18 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2011. 
  118. ^ “The WIN Awards 2010 Nominees”. Women's Image Network. 18 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2011. 
  119. ^ “AFI Awards 2010”. American Film Institute. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2011. 
  120. ^ Goldberg, Lesley (11 tháng 4 năm 2011). 'Glee,' 'Modern Family' Score GLAAD Awards”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2011. 
  121. ^ “13th annual Costume Designers Guild Awards”. Costume Designers Guild. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2011. 
  122. ^ Mitchell, Gregg (8 tháng 10 năm 2010). “2010 Media Access Awards Honor Hollywood”. Writers Guild of America, West. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2010. 
  123. ^ “Television Nominations 2011”. BBC News. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2011. 
  124. ^ “Nominees for 2011 BRIT Awards”. British Phonographic Industry. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2011. 
  125. ^ Wolf, Ian (3 tháng 1 năm 2011). “National Television Awards 2011 shortlist announced”. British Comedy Guide. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2011. 
  126. ^ Szalai, Georg (15 tháng 2 năm 2011). '30 Rock' Tops Noms for Inaugural 'Comedy Awards'. The Hollywood Reporter. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2011. 
  127. ^ “2011 Writers Guild Awards Television, News, Radio, Promotional Writing, and Graphic Animation Nominees Announced” (Thông cáo báo chí). Writers Guild of America. Ngày 8 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2011. 
  128. ^ “Producers Guild of America Announces 2011 Producers Guild Award Winners”. Producers Guild of America. 22 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2011. 
  129. ^ Lambert, David (16 tháng 12 năm 2010). “Glee – 'Season 2, Volume 1' DVD Set Announced: Date, Cost, Extras, Packaging”. TV Shows on DVD. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2011. 
  130. ^ “Glee – Season 2: Vol. 1 (10 Eps)”. JB Hi-Fi Online. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2011. 
  131. ^ “Glee – Season 2 Volume 1 (3 Disc Set)”. Mighty Ape. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2011. 
  132. ^ “Glee – Season 2, Volume 1 (DVD)”. Amazon.co.uk. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2010. 
  133. ^ “Glee: Season 2 – Volume 1”. CD WOW!. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2011. 
  134. ^ Lambert, David (29 tháng 6 năm 2011). “Glee – 'Season 2, Volume 2' DVD, and 'Complete 2nd Season' DVD and Blu-ray”. TV Shows on DVD. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2011. 
  135. ^ “Glee – Season Two, Volume Two (DVD)”. Amazon.co.uk. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2011. 
  136. ^ “Glee – The Complete Second Season (DVD)”. Amazon.co.uk. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2011. 
  137. ^ “Glee – The Complete Second Season (Blu-ray)”. Amazon.co.uk. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2011. 
  138. ^ “Glee: Season 2 (7 Disc)”. JB Hi-Fi. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2011. 
  139. ^ “Glee: Season 2 (4 Disc) (Blu-ray)”. JB Hi-Fi. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2012. 
  140. ^ “Glee: Season 2: Volume 2 (4 Disc)”. JB Hi-Fi. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2012. 
  141. ^ Lambert, David (24 tháng 9 năm 2010). “Glee – Season 2, Though Just Debuted, is Already Targeted for DVD and Blu!”. TV Shows on DVD. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2011. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]