Kane (đô vật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Glen Jacobs)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kane
Kane in 2013.png
Kane trong tháng 7 năm 2013.
Tên khai sinh Glenn Thomas Jacobs[1]
Sinh 26 tháng 4, 1967 (49 tuổi)[2][3]
Torrejón de Ardoz, Madrid, Tây Ban Nha[2][3][4]
Nơi cư trú Dandridge, Tennessee, U.S.[5]
Học hiệu Northeast Missouri State University
Vợ hoặc chồng Crystal Goins (kết hôn  1995–nay) «start: (1995)»"Hôn nhân: Crystal Goins đến Kane (đô vật)" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Kane_(%C4%91%C3%B4_v%E1%BA%ADt))
Con cái 2
Sự nghiệp đấu vật chuyên nghiệp
Tên trên võ đài Angus King[6]
Bruiser Mastino[1]
Christmas Creature[1]
Glenn Jacobs[7]
Diesel[1]
Doomsday[1]
Isaac Yankem, DDS[1]
Kane[1]
Mike Unabomb[1]
Unibomb[1]
Chiều cao quảng cáo 7 ft 0 in (2,13 m)[8]
Cân nặng quảng cáo 325 lb (147 kg)[8]
Huấn luyện bởi Dean Malenko
Ra mắt lần đầu 1992

Glenn Thomas Jacobs (sinh ngày 26 tháng 4 năm 1967) là một đô vật chuyên nghiệp và là 1 diễn viên được biết dưới cái tên Kane. Hiện anh đang thi đấu cho RAWSmackDown! thuộc WWE. Anh bắt đầu sự nghiệp vào năm 1992 cho Smoky Moutain Wrestling nơi mà anh đã giành được USWA Heavyweight Championship, và là 1 thành viên của The Dynamic Duo. Vào năm 1995 anh đã kí hợp đồng thi đấu cho WWE dưới cái tên Kane, anh cũng có 1 người anh trai theo cốt truyện là The Undertaker, cả hai người là thành viên của nhóm Brothers Of Destruction. Hiện anh đang giữ kỉ lục 1 mình hạ được 11 người tại 1 kì Royal Rumble.

Từ năm 1992-2015[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 28 tháng 5, tại 1 show diễn của SmackDown, anh đã để thua CM Punk, trong trận tranh suất tham dự PPV Fatal 4 Way, để đấu lấy đai World Heavyweight Championship. Trong những show Smack Down tiếp theo, anh tuyên bố rằng anh trai mình, The Undertaker, đã bị tìm thấy trong trạng thái nằm thực vật và anh thề là sẽ trả thù cho anh trai mình. Vì The Undertaker bị chấn thương nên đã có 1 trận Royal để xác định người thay thế The Undertaker, anh và Rey Mysterio là hai người còn lại cuối cùng, những tưởng anh dễ dàng hạ được Rey nhưng cuối cùng chính anh lại là người bị Rey hạ. Vào ngày 18 tháng 7, anh tham gia trận Money in The Bank Ladder Match tại PPV Money In The Bank, anh đã thắng trận đấu đó, và chỉ vài giờ sau, anh đã dùng cái cặp tiền này để thách đấu lấy đai World Heavyweight Championship với Rey, cuối cùng thì anh đã thắng và là người duy nhất tới bây giờ vô địch ở cả RAW, Smack Down và ECW. Anh bắt đầu thù Rey vì cho rằng chính Rey là người khiến Undertaker ra nông nổi này. Vào ngày 6 tháng 8, Rey đã tuyên bố mình vô tội và Rey đã buộc tội chính Kane đã hại Undertaker, nghe những lời đó, Kane đã quỳ xuống và tự nói rằng "tôi thương anh trai tôi". Sau sự kiện Undertaker bất ngờ trở lại SmackDown và biết Kane chính là thủ phạm thì mối thù sống còn giữa Kane và Undertaker bắt đầu nảy sinh. Sau khi đánh thắng Undertaker ở Summer Slam rồi Hell in a Cell thì cuối cùng tại Bragging rights, trong một trận Burried Alive, Kane đã chôn sống chính người anh trai ruột của mình. Sau đó, Kane bắt đầu thù với Edge sau khi Edge bắt Paul Bearer (cha ruột của Kane), sau nhiều lần bị chơi khăm thì trong một trận Faltal 4 Way tại TLC thì ông đã bị mất đai vào tay Edge. Sau khi bị Mark Henry làm gãy chân vào show Raw ngày 20/6/2011, Kane đã trở lại tại show Raw 12/12/2011 cùng với chiếc mặt nạ ở trên mặt và tấn công John Cena bằng đòn Chokeslam. Và tại WWE Royal Rumble 2012 Kane đấu với Cena và kệt quả là hòa vì double countout. Sau đó Kane Tombstone Piledriver lên Zack Ryder và Chokeslam lên John Cena. Tại WWE Elimination Chamber anh đã thua John Cena trong trận Ambulance Match(trận đấu xe cứu thương). Sau đó anh thù với Randy Orton, anh thắng Randy Orton ở WWE Wrestlemania 28 nhưng lại thua anh ta ở WWE Extreme Rules. Anh thắng Zack Ryder trong 1 trận ở Over the Limit. Anh có tên trong trận Triple Threat WWE Championship ở No Way Out nhưng lại thất bại. Tại show Raw 1000, anh bị 6 đô vật vây đánh, rất may Undertaker đã kịp giúp anh đánh bại họ. Show Raw ngày 20-08-12, khi anh và Zack Ryder thua, anh đã Chokeslam lên Zack Ryder. Sau đó một thời gian anh có tên trong danh sách tham dự WWE MITB ladder match, nhưng anh đã thất bại. Tại một show Raw sau mấy tuần anh đã tấn công Daniel Bryan khiến một trận giữa anh và D.B diễn ra tại SummerSlam và tiếp tục thua. Nhưng thật bất ngờ tại PPV Night Of Champions anh đã cặp với kẻ thù truyền kiếp của mình D.B, với tên đội là Team Hell No đã đánh bại team Kington & Truth, giành lấy danh hiệu Tag Team champ, tuy có những bất đồng nội bộ nhưng họ đều giải quyết bằng cách ôm lấy nhau và vẫn giữ lấy chức danh hiệu của mình qua các kì Hell in A cell, Main Event. Tại Suvivor Series Team Hell No có tên trong danh sách thi đấu của Mick Foley, nhưng lại thất bại Kane bị loại đầu tiên. Sau kì PPV đó nội bộ ngày càng thậm tệ hơn, gặp băng The Shield hay phá rối anh, nên vào ngày 16/12/2012 anh ở trong team với D.B & Ryback cùng nhau đánh bại băng The Shield. Kane đã bị chấn thương sau khi The Wyatt Family tấn công và mất suất tham dự trận WWE Championship Money In The Bank Ladder Match. Anh sẽ trở lại vào show Raw 29/7 và đối đầu với đồng đội cũ Daniel Bryan. Sau khi trở lại anh bắt đầu làm việc cho Triple H như là một phó giám đốc điều hành, anh đã buộc CM Punk phải đối mặt bằng cách 1 mình Punk phải đấu với cả ba thành viên của The Shield, sau đó anh cũng cho ra trận tương tự với đồng đội cũ của mình-Daniel Bryan 1 chấp 3 thành viên của The Wyatt Family.

Tại Royal Rumble 2014, Kane đã bị loại bởi CM Punk mà chưa kịp loại được 1 đối thủ nào. Kane điên cuồng tức giận và kéo Punk khỏi sàn đấu khi trận đấu gần kết thúc và tấn công Punk dữ dội ngoài võ đài.

Các chức vô địch và danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Pro Wrestling Illustrated
    • PWI đội của năm (1999) với X-Pac
    • PWI xếp anh đứng thứ 13 trong 500 đô vật xuất sắc nhất năm 1999.
    • PWI xếp anh đứng thứ 186 trong 500 đô vật xuất sắc nhất năm 2003.
    • PWI xếp anh đứng thứ 4 trong 500 đô vật xuất sắc nhất năm 2011.
  • Rolling Stone
    • Performer bị đánh giá thấp nhất (2015)
  • Smoky Mountain Wrestling
    • SMW Tag Team Championship (1 lần) – với Al Snow
  • United States Wrestling Association
    • USWA Heavyweight Championship (1 lần)
  • World Wrestling Federation / World Wrestling Entertainment
    • ECW Championship (1 lần)
    • WWE World Heavyweight Championship (2 lần)
    • WWF Hardcore Championship (1 lần)
    • WWF/E Intercontinental Championship (2 lần)
    • World Tag Team Championship (9 lần) – với Mankind (2), X-Pac (2), The Undertaker (2), The Hurricane (1), Rob Van Dam (1) và Big Show (1)
    • WWE Tag Team Championship (2 lần) – với Big Show (1) và Daniel Bryan (1)
    • WCW Tag Team Championship (1 lần) – với The Undertaker
    • Money in the Bank (2010)
    • Eighth Triple Crown Champion
    • Third Grand Slam Champion
  • Wrestling Observer Newsletter
    • Mối thù của năm với triple H (2002)
    • Mối thù của năm với Shane Mcmahon (2003)
    • Mối thù của năm với Matt Hardy và Lita (2004)
    • Mối thù của năm với Big Daddy V (2007)
    • Mối thù của năm với Rey Mysterio (2008)
    • Mối thù của năm với The Undertaker
    • Worst Gimmick (1996) Fake Diesel
    • Trận đấu của năm với Undertaker và KroniK (2001)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên OWOW
  2. ^ a ă “Kane”. Canoe.ca. Québecor Média. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2007. 
  3. ^ a ă “IGN: Kane (WWE) Biography”. IGN. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2008. 
  4. ^ Oliver, Greg (2007). The Pro Wrestling Hall of Fame: The Heels. ECW Press. tr. 228. ISBN 1-55022-759-9. 
  5. ^ Nair, Mona. “WWE wrestler challenges Lt. Gov. Ramsey to Internet sales tax debate”. WATE. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2013. 
  6. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên bella
  7. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên OWoW
  8. ^ a ă “Kane”. WWE. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2012.