Glycyrrhizin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Glycyrrhizic acid
Glycyrrhizic Acid.svg
Glycyrrhizin zwitterion ball-and-stick xtal 2009.png
Dữ liệu lâm sàng
Tên thương mạiEpigen, Glycyron
AHFS/Drugs.comTên thuốc quốc tế
Dược đồ sử dụngOral, intravenous
Mã ATC code
Dữ liệu dược động học
Chuyển hóa dược phẩmHepatic and by intestinal bacteria
Chu kỳ bán rã sinh học6.2-10.2 hours[1]
Bài tiếtFaeces, urine (0.31-0.67%)[2]
Các định danh
Số đăng ký CAS
PubChem CID
ChemSpider
Định danh thành phần duy nhất
ChEBI
ChEMBL
Số EE958 (glazing agents, ...) Sửa dữ liệu tại Wikidata
ECHA InfoCard100.014.350
Dữ liệu hóa lý
Công thức hóa họcC42H62O16
Khối lượng phân tử822.93 g/mol g·mol−1
Mẫu 3D (Jmol)
Độ hòa tan trong nước1-10 mg/mL (20 °C)

Glycyrrhizin (hoặc axit glycyrrhizic hoặc axit glycyrrhizinic) là thành phần chính có vị ngọt của rễ Glycyrrhiza glabra (cam thảo). Về mặt cấu trúc, nó là một saponin được sử dụng làm chất nhũ hóachất tạo gel trong thực phẩm và mỹ phẩm. Aglycone của nó là enoxolone được đánh giá là một tiền chất được sử dụng ở Nhật Bản để giảm nguy cơ ung thư gan ở những người bị viêm gan C mạn tính.[3][4]

Tác dụng phụ[sửa | sửa mã nguồn]

Tác dụng phụ được báo cáo rộng rãi nhất của việc sử dụng glycyrrhizin thông qua tiêu thụ cam thảo đen là giảm nồng độ kali trong máu, có thể ảnh hưởng đến cân bằng chất lỏng cơ thể và chức năng của dây thần kinh.[5][6] Tiêu thụ mãn tính cam thảo đen, ngay cả với lượng vừa phải, có liên quan đến tăng huyết áp,[6] có thể gây ra nhịp tim không đều và tương tác bất lợi với thuốc theo toa.[5]

Các tác động lên chất lỏng cơ thể có liên quan đến sự ức chế chuyển hóa cortisol trong thận, kích thích thụ thể khoáng chất sau đó,[7] và giảm nồng độ renin, kali và aldosterone trong máu, dẫn đến tăng huyết áp.[6]

Tùy thuộc vào số lượng và tần suất ăn cam thảo đen, các tác dụng phụ khác có thể bao gồm:[5][8]

Nghiên cứu[sửa | sửa mã nguồn]

Glycyrrhizin thuộc phòng thí nghiệm và sơ bộ nghiên cứu lâm sàng cho hoạt động có thể của nó so với thông thường virus, chẳng hạn như viêm gan C.[4] In vitro, glycyrrhizin ức chế enzyme 11β-hydroxapseoid dehydrogenase.[8]

Dược động học[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi uống, glycyrrhizin lần đầu tiên bị thủy phân thành axit 18β-glycyrrhetinic (enoxolone) bởi vi khuẩn đường ruột. Sau khi hấp thu hoàn toàn từ ruột, axit 18β-glycyrrhetinic được chuyển hóa thành axit 3β-monoglucuronyl-18β-glycyrrhetinic trong gan. Chất chuyển hóa này sau đó lưu thông trong máu. Do đó, sinh khả dụng đường uống của nó là kém. Phần chính được loại bỏ bằng mật và chỉ một phần nhỏ (0,31-0,67%) bằng nước tiểu.[9] Sau khi uống 600 mg glycyrrhizin, chất chuyển hóa xuất hiện trong nước tiểu sau 1,5 đến 14 giờ. Nồng độ tối đa (0,49 đến 2,69 mg / l) đã đạt được sau 1,5 đến 39 giờ và chất chuyển hóa có thể được phát hiện trong nước tiểu sau 2 đến 4 ngày.[9]

Hương vị[sửa | sửa mã nguồn]

Glycyrrhizin thu được dưới dạng chiết xuất từ rễ cây cam thảo sau khi ngâm và đun sôi trong nước.[10] Chiết xuất cam thảo (glycyrrhizin) được bán ở Hoa Kỳ dưới dạng chất lỏng, bột nhão hoặc bột sấy khô.[10] Khi với số lượng cụ thể, nó được chấp thuận để sử dụng như một hương vị và mùi thơm trong thực phẩm sản xuất, đồ uống, kẹo, bổ sung chế độ ăn uống, và gia vị.[10] Nó ngọt gấp 30 đến 50 lần so với sucrose (đường ăn).[8][11]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ van Rossum, TG; Vulto, AG; Hop, WC; Schalm, SW (tháng 12 năm 1999). “Pharmacokinetics of intravenous glycyrrhizin after single and multiple doses in patients with chronic hepatitis C infection.”. Clinical Therapeutics 21 (12): 2080–90. PMID 10645755. doi:10.1016/S0149-2918(00)87239-2.  Đã bỏ qua tham số không rõ |hdl= (trợ giúp)
  2. ^ Ploeger, B; Mensinga, T; Sips, A; Seinen, W; Meulenbelt, J; DeJongh, J (tháng 5 năm 2001). “The pharmacokinetics of glycyrrhizic acid evaluated by physiologically based pharmacokinetic modeling.”. Drug Metabolism Reviews 33 (2): 125–47. PMID 11495500. doi:10.1081/DMR-100104400. 
  3. ^ Arase, Yasuji; Ikeda, Kenji; Murashima, Naoya; Chayama, Kazuaki; Tsubota, Akihito; Koida, Isao; Suzuki, Yoshiyuki; Saitoh, Satoshi; Kobayashi, Masahiro (15 tháng 4 năm 1997). “The long term efficacy of glycyrrhizin in chronic hepatitis C patients”. Cancer 79 (8): 1494–1500. doi:10.1002/(SICI)1097-0142(19970415)79:8<1494::AID-CNCR8>3.0.CO;2-B. 
  4. ^ a ă Fiore, C; Eisenhut, M; Krausse, R; Ragazzi, E; Pellati, D; Armanini, D; Bielenberg, J (2008). “Antiviral effects of Glycyrrhiza species”. Phytotherapy Research 22 (2): 141–8. PMID 17886224. doi:10.1002/ptr.2295. 
  5. ^ a ă â “Black Licorice: Trick or Treat?”. US Food and Drug Administration. 30 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2017. 
  6. ^ a ă â Penninkilampi, R; Eslick, E. M; Eslick, G. D (2017). “The association between consistent licorice ingestion, hypertension and hypokalaemia: A systematic review and meta-analysis”. Journal of Human Hypertension 31 (11): 699–707. PMID 28660884. doi:10.1038/jhh.2017.45. 
  7. ^ Ferrari, P.; Sansonnens, A.; Dick, B.; Frey, F. J. (2001). “In Vivo 11 -HSD-2 Activity: Variability, Salt-Sensitivity, and Effect of Licorice”. Hypertension 38 (6): 1330–6. PMID 11751713. doi:10.1161/hy1101.096112. 
  8. ^ a ă â Asl, MN; Hosseinzadeh, H (1 tháng 6 năm 2008). “Review of pharmacological effects of Glycyrrhiza sp. and its bioactive compounds.”. Phytotherapy Research 22 (6): 709–24. PMID 18446848. doi:10.1002/ptr.2362. 
  9. ^ a ă Kočevar Glavač, Nina; Kreft, Samo (2012). “Excretion profile of glycyrrhizin metabolite in human urine”. Food Chemistry 131: 305–308. doi:10.1016/j.foodchem.2011.08.081. 
  10. ^ a ă â “Sec. 184.1408 Licorice and licorice derivatives”. US Food and Drug Administration, Code of Federal Regulations Title 21, 21CFR184.1408. 1 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2017. 
  11. ^ “Glycyrrhizic Acid”. PubChem. National Institutes of Health. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]