Glyphosat

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Glyphosat
Glyphosate.svg
Glyphosate-3D-balls.png
Danh pháp IUPACN-(phosphonomethyl)glycine
Tên khác2-[(phosphonomethyl)amino]axit axetic
Nhận dạng
Số CAS1071-83-6
PubChem3496
KEGGC01705
ChEBI27744
Số RTECSMC1075000
Ảnh Jmol-3Dảnh
SMILES
InChI
Thuộc tính
Bề ngoàiBột kết tinh trắng
Khối lượng riêng1.704 (20 °C)
Điểm nóng chảy 184,5 °C (457,6 K; 364,1 °F)
Điểm sôiPhân hủy tại 187 °C (460 K; 369 °F)
Độ hòa tan trong nước1.01 g/100 mL (20 °C)
log P−2.8
Độ axit (pKa)<2, 2.6, 5.6, 10.6
Các nguy hiểm
Điểm bắt lửaKhông dễ cháy
Trừ khi có ghi chú khác, dữ liệu được cung cấp cho các vật liệu trong trạng thái tiêu chuẩn của chúng (ở 25 °C [77 °F], 100 kPa).
KhôngN kiểm chứng (cái gì Có KhôngN ?)

Glyphosate (N-(phosphonomethyl)glycine) là một loại thuốc diệt cỏ và để "làm khô" vụ mùa (Crop desiccation). Nó là một hợp chất hữu cơ photpho, rõ ràng hơn một phosphonat. Nó được sử dụng để diệt cỏ dại, đặc biệt là cỏ dại lá rộng hàng năm và cỏ cạnh tranh với mùa màng. Nó được nhà hóa học John E. Franz của hãng Monsanto khám phá là một loại thuốc diệt cỏ vào năm 1970.[1] Monsanto Mang nó ra thị trường vào năm 1974 dưới tên thương mại là Roundup và bằng sáng chế Hoa Kỳ của Monsanto liên quan đến thương mại hết hạn vào năm 2000.

Nông dân nhanh chóng dùng glyphosat, đặc biệt là sau khi Monsanto giới thiệu các loại cây trồng kháng glyphosate (Roundup Ready crops), tạo điều kiện cho nông dân để diệt cỏ dại mà không giết chết cây trồng của họ. Năm 2007, Glyphosat là loại thuốc diệt cỏ được sử dụng nhiều nhất trong lĩnh vực nông nghiệp ở Hoa Kỳ và nhiều thứ hai sử dụng trong sân và ngoài vườn (2,4-D được sử dụng nhiều nhất), bởi chính phủ, ngành công nghiệp và thương mại.[2] Đến năm 2016 việc sử dụng thuốc diệt cỏ dựa vào chất này gia tăng 100 lần so với cuối những năm 1970, dự kiến sẽ tăng thêm ​​trong tương lai, một phần để đáp ứng với sự xuất hiện toàn cầu và lây lan của cỏ dại kháng chất glyphosat.[3]:1

Glyphosat được hấp thụ qua lá, và một phần nhỏ qua rễ,[4][5][6] và vận chuyển đến các điểm phát triển. Nó ức chế enzyme thực vật liên quan đến tổng hợp của ba axit amin thơm: tyrosine, tryptophan và phenylalanine. Do đó, nó chỉ có hiệu quả đối với các cây trồng đang phát triển và không có hiệu quả như là một chất diệt cỏ trước khi phát ra. Ngày càng có nhiều cây trồng đã được biến đổi gen để dung nạp glyphosat (ví dụ đậu tương Roundup Ready, cây Roundup Ready đầu tiên do Monsanto tạo ra) cho phép nông dân sử dụng glyphosat như là một chất diệt cỏ sau khi cỏ dại lan ra. Sự phát triển của tính kháng glyphosate trong các loài cỏ dại đang trở thành một vấn đề tốn kém.

Mặc dù glyphosat và các công thức như Roundup đã được các cơ quan quản lý trên toàn thế giới chấp nhận, mối quan tâm về tác động của chúng đối với con người và môi trường vẫn tồn tại.[3][7] Nhiều cuộc xem xét về quy định và học thuật đã đánh giá độc tính tương đối của glyphosat như một chất diệt cỏ. Nghiên cứu về độc tính của viện Liên bang về Đánh giá Rủi ro Đức năm 2013 cho thấy "các dữ liệu sẵn có là mâu thuẫn và không thuyết phục" về tương quan giữa tiếp xúc với các công thức glyphosat và nguy cơ với các bệnh ung thư khác nhau, bao gồm ung thư máu không Hodgkin (NHL) [8] Một phân tích thống kê (meta-analysis) được công bố vào năm 2014 xác định nguy cơ tăng NHL ở những người lao động tiếp xúc với các công thức glyphosat [9]. Vào tháng 3 năm 2015, Cơ quan Nghiên cứu Quốc tế về Ung thư của Tổ chức Y tế Thế giới đã phân loại glyphosate là "có thể gây ung thư ở người" (loại 2A) dựa trên nghiên cứu dịch tễ học, nghiên cứu trên động vật và nghiên cứu in vitro[7][10][11] Vào tháng 11 năm 2015, Cơ quan An toàn Thực phẩm châu Âu đã công bố báo cáo đánh giá về glyphosat, kết luận rằng "chất này không có khả năng độc tính di truyền (tức là làm hư hỏng DNA) hoặc gây nguy cơ gây ung thư cho người". Hơn nữa, báo cáo cuối cùng đã làm rõ rằng, mặc dù có thể có các công thức có chứa chất gây ung thư và glyphosat, các nghiên cứu "chỉ nhìn vào hoạt chất glyphosate không cho thấy hiệu quả này"[12][13] Ủy ban chung của WHO và FAO về dư lượng thuốc trừ sâu đã ban hành một báo cáo vào năm 2016 xác nhận rằng việc sử dụng các công thức glyphosat không gây nguy hiểm cho sức khoẻ và cũng cho phép các giới hạn ăn vào hàng ngày được chấp nhận cho độc tính mãn tính.[14] Cơ quan Hóa chất châu Âu (ECHA) duy trì phân loại glyphosat hiện tại của họ như là một chất gây tổn hại mắt nghiêm trọng và là một chất độc hại cho sinh vật thủy sinh, nhưng không tìm thấy bằng chứng liên quan đến chất gây ung thư, đột biến, độc hại đối với sinh sản, đến các cơ quan cụ thể.[15]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Cấm thuốc trừ cỏ Glyphosat sẽ gây xáo trộn nông nghiệp châu Âu, tiasang.com.vn, 15/07/2016

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đăng ký phát minh US 3799758, "N-phosphonomethyl-glycine phytotoxicant compositions", trao vào ngày 26 tháng 3 năm 1974, chủ sở hữu Monsanto Company 
  2. ^ United States EPA 2007 Pesticide Market Estimates Agriculture, Home and Garden
  3. ^ a ă Myers JP, Antoniou MN, Blumberg B, Carroll L, Colborn T, Everett LG, Hansen M, Landrigan PJ, Lanphear BP, Mesnage R, Vandenberg LN, vom Saal FS, Welshons WV, Benbroo CM (17 tháng 2 năm 2016). “Concerns over use of glyphosate-based herbicides and risks associated with exposures: a consensus statement”. Environmental Health 15 (19): 13. doi:10.1186/s12940-016-0117-0. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2016.  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “biomedcentral_2016” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  4. ^ Sprankle P, Meggitt WF, Penner D (1975). “Rapid inactivation of glyphosate in the soil”. Weed Science: 224–228. 
  5. ^ “Glyphosate technical fact sheet (revised June 2015)”. National Pesticide Information Center. 2010. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2015. 
  6. ^ “The agronomic benefits of glyphosate in Europe” (PDF). Monsanto Europe SA. Tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2013. 
  7. ^ a ă Cressey D (25 tháng 3 năm 2015). “Widely used herbicide linked to cancer”. Nature. doi:10.1038/nature.2015.17181. 
  8. ^ Renewal Assessment Report: Glyphosate. Volume 1. Report and Proposed Decision. December 18, 2013. German Institute for Risk Assessment, page 65. Downloaded from http://dar.efsa.europa.eu/dar-web/provision (registration required)
  9. ^ Schinasi L, Leon ME (tháng 4 năm 2014). “Non-Hodgkin lymphoma and occupational exposure to agricultural pesticide chemical groups and active ingredients: a systematic review and meta-analysis”. International Journal of Environmental Research and Public Health 11 (4): 4449–527. PMC 4025008. PMID 24762670. doi:10.3390/ijerph110404449. 
  10. ^ Guyton KZ, Loomis D, Grosse Y, El Ghissassi F, Benbrahim-Tallaa L, Guha N, Scoccianti C, Mattock H, Straif K (tháng 5 năm 2015). “Carcinogenicity of tetrachlorvinphos, parathion, malathion, diazinon, and glyphosate”. The Lancet. Oncology 16 (5): 490–1. PMID 25801782. doi:10.1016/S1470-2045(15)70134-8. 
  11. ^ “Press release: IARC Monographs Volume 112: evaluation of five organophosphate insecticides and herbicides” (PDF). International Agency for Research on Cancer, World Health Organization. 20 tháng 3 năm 2015. 
  12. ^ “European Food Safety Authority - Glyphosate report” (PDF). EFSA. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2016. 
  13. ^ “Glyphosate: EFSA updates toxicological profile | European Food Safety Authority”. www.efsa.europa.eu. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2016. 
  14. ^ http://www.who.int/foodsafety/jmprsummary2016.pdf Report of the Joint Committee on Pesticide Residues, WHO/FAO, Geneva, 16-May, 2016
  15. ^ “Glyphosate not classified as a carcinogen by ECHA”. ECHA.