Gong Hyo-jin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đây là một tên người Triều Tiên, họ là Khổng (họ).
Kong Hyo-jin
Gong Hyo Jin (Sep 2016).png
Kong Hyo Jin trong quảng cáo SSG năm 2016
Sinh4 tháng 4, 1980 (39 tuổi)
Seoul, Hàn Quốc
Nghề nghiệpDiễn viên
Năm hoạt động1999–nay
Đại lýManagement SOOP
Trang webGong Hyo-jin trên Instagram
Khổng Hiếu Trân
Hangul공효진
Romaja quốc ngữGong Hyo-jin
McCune–ReischauerKong Hyojin

Kong Hyo-jin (sinh ngày 4 tháng 4 năm 1980) là nữ diễn viên Hàn Quốc được biết đến qua các phim Crush and Blush (2008), Let's Go to school (2003), Thank You (2007), Pasta (2010), The Greatest Love (2011), Mater's Sun (2013), It's Okay, That's Love (2014), The Producers (2015), Jealousy Incarnate (2016).

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Kong Hyo-jin sinh tại Seoul, Hàn Quốc. Cô chuyển đến Úc sinh sống cùng mẹ và em trai khi đang học trung học, trong khi bố ở lại làm việc tại Hàn Quốc để nuôi sống gia đình. Hyo-jin học trung học tại trường John Paul ở thành phố Brisbane.[1] Cô rất thích quãng thời gian ở tại đây. Năm 2011 cô được chọn làm một trong những đại sứ thiện chí cho "Year of friendship", lễ kỉ niệm lần thứ 50 mối quan hệ ngoại giao giữa Úc và Hàn Quốc.[2][3][4][5][6]

Sau 3 năm sinh sống tại Úc, cô và gia đình quay về Hàn Quốc năm 1997 do cuộc khủng hoảng tài chính châu Á.

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Cô bắt đầu hẹn hò với nam diễn viên Ryoo Seung-bum sau khi cùng hợp tác trong phim Wonderful days. Trước đó cả hai đã từng học chung lớp tại trường tiểu học 1 năm trước khi cô chuyển trường. Trong một dịp lễ kỉ niệm Hàn Quốc, họ chính thức công khai mối quan hệ. Năm 2002, cặp đôi này cùng nhau tham gia phim hài Conduct Zero. Họ chia tay năm 2003 nhưng vẫn duy trì tình bạn. Năm 2006, cô mời Seung-bum diễn vai bạn trai cũ trong bộ phim điện ảnh Family Ties với vai khách mời. Cặp đôi cùng tham gia phim Dachimawa Lee năm 2008 mặc dù cả hai không đóng chung cảnh nào. Năm 2010, Seung-bum một lần nữa làm khác mời trong phim truyền hình Pasta. Mặc dù được bình chọn làm cặp đôi được yêu thích nhất Hàn Quốc, năm 2012 cả hai tuyên bố chấm dứt mối quan hệ này.[7][8][9][10][11]

Tháng 5 năm 2014, tờ Sports Seoul đưa tin cô và nam diễn viên Lee Jin-wook hẹn hò nhưng công ty quảng lý của Kong Hyo-jin xác nhận hai người đã chia tay vào tháng 9 cùng năm.[12][13][14][15][16]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến lúc Hyo-jin trở về Hàn Quốc, cô làm việc như một người mẫu. Cô xuất hiện trong nhiều quảng cáo, đáng chú ý nhất là "Happy to death", một quảng cáo về sản phẩm 700-5425. Sau 1 năm rưỡi làm nghề người mẫu, cô bắt đầu nghiệp diễn với một vai diễn phụ trong bộ phim Memento mori, một bộ phim được biên đạo bởi Kim Tae-yong và Min Kyu-dong.[17][18] Ban đầu, Hyo-jin không có ý định sẽ theo đuổi nghiệp diễn xuất và không đủ kiên nhẫn để chờ đợi đến kết thúc của bộ phim nhưng thành công mà bộ phim này đem lại đã thôi thúc cô tiếp tục với công việc mới.[19][20][21] Năm 2000, Hyo-jin tiếp tục xuất hiện trong sitcom (hài kịch tình huống) "My funky family". Năm 2001, cô xuất hiện trong bộ phim truyền hình dài 50 tập "Wonderful days" trong vai người bán vé xe buýt phải lòng một nhận vật do Ryoo Seung-bum (Hyo-jin và Seung-bum sau đó đã nhận được giải Nữ diễn viên xuất sắc nhất và Nam diễn viên xuất sắc nhất trong hạng mục phim truyền hình tại lễ trao giải Baeksang Arts Awards. Sau khi xuất hiện với một vai diễn nhỏ trong vở hài kịch của Jang Jin "Gun & Talks" và bộ phim điện ảnh "Volcano high", cô được mời đóng vai chính trong bộ phim Emergency act 19[22]) và A Bizarre Love Triangle nhờ những thành công nổi bật trong năm 2002. Song chính vai diễn đầy phức tạp trong bộ phim Ruler of your own world đã giúp cô có được nhiều sự chú ý từ các doanh nghiệp thời bấy giờ. Bộ phim được khen ngợi bởi nội dung chân thực và lối diễn xuất mạnh mẽ, đồng thời tạo nên một làn sóng hâm mộ tại Hàn Quốc.[23] Cũng trong năm đó, Hyo-jin và Seung-bum cùng tham gia bộ phim Conduct Zero (hay No manners) và nhận được nhiều sự khen ngợi, vai trò của cô trong ngành công nghiệp phim ngày càng được khẳng định.[24]

Năm 2003, bộ phim dài tập Snowman ghép đôi Hyo-jin với Jo Jae-hyun, với vai diễn đầy phức tạp, một cô gái phải lòng chính người anh họ của mình.[25] Sau đó, Hyo-jin lại trở về hình tượng nhân vật nữ quen thuộc trong Sang-doo! Let's Go to School, được chỉ đạo thực hiện bởi đạo diễn Lee Hyung-min, người mà cô từng hợp tác trước đây trong một tập của Drama City. Trong phim này, cô đóng vai một cô giáo trung học tình cờ gặp lại cậu bạn trai thời niên thiếu, kẻ giờ đây chỉ là một tên trai bao, một người đàn ông độc thận với cô con gái bệnh tật. Bộ phim đánh dấu lần đầu tiên diễn xuất của ca sĩ nhạc pop Rain, đã có được những đánh giá rất tốt. Và Hyo-jin đồng thời cũng nhận được nhiều giải thưởng tại lễ trao giải  KBS Drama Awards.[26]

Tuy nhiên từ năm 2004 đến 2005, sự nghiệp của cô bắt đầu trượt dốc bởi những vai diễn, bộ phim mà cô đảm nhận không có sự đột phá, mới mẻ và hình tượng nhân vật đều theo mô tuýp cũ.[20] Cô đóng vai giáo viên trung học trong Biscuit Teacher and Star Candy[20] và nhà khoa học trong Heaven's Soldiers.[27][28] Hyo-jin mong muốn thoát khỏi hình tượng cũ, trở thành người phụ nữ thực sự với những vai diễn trưởng thành hơn nhưng lại ngần ngại đóng những cảnh trần trụi trong phim.[29]

Thành công[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2006, đạo diễn Kim Tae-yong (người Hyo-jin kính trọng xem như thầy của mình), mời cô nhận một vai trong bộ phim điện ảnh Family Ties, vai diễn ông viết dành riêng cho cô. Với chủ đề Hàn Quốc quen thuộc, "cội nguồn gia đình", bộ phim nhận được sự ủng hộ đông đảo qua việc cung cấp một cái nhìn mới mẻ và đầy tinh tế về những gia đình rắc rối. Dàn diễn viên được ca ngợi qua diễn xuất xuất sắc, và vai diễn của Hyo-Jin - một cô gái trẻ nóng nảy có mối quan hệ rắc rối với mẹ, đã nhận được nhiều khen ngợi. Cô được đề cử giải nữ diễn viên xuất sắc nhất trong lễ trao giải điện ảnh Hàn Quốc, và cùng chia sẻ giải thưởng vinh dự với những đồng nghiệp khác trong bộ phim như  Moon So-ri, Go Doo-shim và Kim Hye-ok tại liên hoan phim quốc tế Thessaloniki ở Hy Lạp.

Bộ phim Family Ties đánh dấu một bước ngoặt mới trong sự nghiệp của cô và giúp cô tìm lại được đam mê trong nghiệp diễn của mình. Năm 2007, cô trở lại màn ảnh với bộ phim Thank you. Nhiều diễn viên viên nữ đã từ chối vai diễn làm người phụ nữ đơn thân với đứa con gái nhỏ sống lạc quan dù bị nhiễm HIV và người ông bị chứng mất trí, một nguyên nhân khác cho việc này là sự trở lại màn ảnh của nam diễn viên Jang Hyuk sau scandal trốn nghĩa vụ quân sự. Mặc dù vậy, bộ phim đã gặt hái được thành công và vươn lên vị trí số một trong các bộ phim được phát sóng lúc bấy giờ. Người xem cảm động bởi tấm lòng nhân hậu và sự kiên trì của nhân vật đóng bởi Hyo-jin. Vai diễn người mẹ của cô làm cho hình ảnh của Hyo-jin trở nên mềm yếu nhưng đồng thời cô lại nhận được sự đánh giá rất cao trong việc bộc lộ chân thật sắc thái của nhân vật, giúp cho bộ phim không trở nên quá sướt mướt.

Danh sách phim tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa Vai diễn
1999 Memento Mori Ji-won
2000 Summer Story Ham Bom
2001 Last Present MC nữ (phân cảnh nhỏ)
Guns & Talks Yeo-il
Volcano High So Yo-seon
2002 Surprise Party In-ju
Emergency Act 19 Kim Min-ji
A Bizarre Love Triangle Geum-sook
Conduct Zero Jang Na-young
2005 Heaven's Soldiers Kim Su-yeon
2006 Family Ties Yoo Sun-kyung
2007 My Son Con gái ngỗng
Lồng tiếng (Vai trò khách mời)
Happiness Soo-yeon
M Eun-hye
2008 Dachimawa Lee Geum Yeon-ja
Crush and Blush Yang Mi-sook
2009 Sisters on the Road Oh Myung-ju
2010 Rolling Home With a Bull Hyun-soo
2012 Love Fiction Lee Hee-jin
2012: You Are More Than Beautiful Young-hee
577 Project (Phim tư liệu) Bản thân
2013 Boomerang Family Oh Mi-yeon
2016 Missing: Lost Woman Han-mae
2017 Singer Rider Soo-jin
2018 Và em sẽ đến Cameo
Doorlock Kyung Min
2019 Hit And Run Eun Shi-yeon
The Most Ordinary Romance Oh Sun Young

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa Vai diễn Đài trình chiếu
2000 My Funky Family Hyo-jin MBC
2001 Wonderful Days Jo Yeon-shil SBS
Love Without Hope KBS2
2002 Ruler of Your Own World Song Mi-rae MBC
2003 Snowman Seo Yeon-wook MBC
Sang Doo! Let's Go to School Chae Eun-hwan KBS2
2004 5 Stars SK Telecom

moblie drama

2005 Biscuit Teacher and Star Candy Na Bo-ri SBS
2007 Thank you Lee Young-shin MBC
2010 Pasta Seo Yoo-kyung MBC
2011 The Greatest Love Gu Ae-jung MBC
Phim tư liệu: Do You Know Sad Movies?
(
Thời gian, tập 1)
Narrator MBC
Flower Boy Ramyun Shop Thu ngân của cửa hàng (khách mời, tập 9) TVN (Hàn Quốc)
2013 Master's Sun Tae Gong-shil SBS
2014 It's Okay, That's Love Ji Hae-soo SBS
2015 The Producers Tak Ye Jin KBS2
2016 Don't Dare to Dream Pyo Na-ri SBS
2019 When Camellia Blooms Dong Baek KBS2

Music Video

Năm Tên bài hát Nghệ sĩ Co-Star
2003 (Part 1) "Left Alone" Lee Soo Young Goo Soo,Jo yoon hee
(Part 2) " I Still Bite My Lips "
" Brown Hair" Yoon Gun Yoon Gun

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “John Paul International College Newsletter - May 2011” (PDF). John Paul College. Ngày 2 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2012. 
  2. ^ “Goodwill Ambassadors”. Australia-Korea Year of Friendship. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2012. 
  3. ^ Kim, Hee-jin. “Australia names 4 Korean Goodwill Ambassadors”. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2010. 
  4. ^ “Today's Photo: ngày 15 tháng 10 năm 2010”. The Chosun Ilbo. Ngày 15 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2012. 
  5. ^ Kim, Hee-jin (ngày 31 tháng 1 năm 2011). “Australia and Korea fete 50 years of ties and friendship”. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2012. 
  6. ^ Cerralbo, Yoav (ngày 22 tháng 5 năm 2011). “App showcases Australia year”. The Korea Herald. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2012. 
  7. ^ Ho, Stewart (15 tháng 8 năm 2012). “Kong Hyo Jin and Ryu Seung Bum Call It Quits After 10 Years (Full Press Release)”. enewsWorld. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2012. 
  8. ^ Nam, Yoon-seo (15 tháng 8 năm 2012). “Star couple breaks up”. The Korea Herald. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2012. 
  9. ^ Sunwoo, Carla (16 tháng 8 năm 2012). “Celebrity couple back in friend zone”. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2012. 
  10. ^ Hong, Lucia (16 tháng 8 năm 2012). “Kong Hyo-jin, Ryoo Seung-bum breaks off 10-year relationship”. 10Asia. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2012. 
  11. ^ Oh, Mi-jung (21 tháng 8 năm 2012). “Kong Hyo Jin Opens about her Break Up With Ryu Seung Bum”. enewsWorld. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2012. 
  12. ^ “단독-포토스토리: 공효진♥이진욱, 심야 올빼미 데이트 현장…'미공개 사진 대방출' Only”. Sports Seoul (bằng tiếng Triều Tiên). 29 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2014. 
  13. ^ Ock, Hyun-ju (29 tháng 5 năm 2014). “Actress Kong Hyo-jin, actor Lee Jin-wook confirmed dating”. The Korea Herald. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2014. 
  14. ^ Kim, Hee-eun (30 tháng 5 năm 2014). “Kong, Lee confirm their relationship”. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2014. 
  15. ^ Park, Gyu-oh (17 tháng 9 năm 2014). “Kong Hyo-Jin and Lee Jin-wook break up”. The Korea Herald. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2014. 
  16. ^ Lee, Sung-eun (18 tháng 9 năm 2014). “Kong Hyo-jin, Lee Jin-uk break up”. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2014. 
  17. ^ Elley, Derek (ngày 27 tháng 3 năm 2000). “Memento Mori”. Variety. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2012. 
  18. ^ Kim, Kyu Hyun. “Memento Mori”. Koreanfilm.org. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2012. 
  19. ^ Paquet, Darcy (ngày 23 tháng 5 năm 2007). “An Interview with Kim Tae-yong”. Koreanfilm.org. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2012. 
  20. ^ a ă â Beck, Una (ngày 8 tháng 7 năm 2011). “INTERVIEW: Actress Kong Hyo-jin - Part 2”. 10Asia. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2012. 
  21. ^ “Kong Hyo-jin Flashes Her Unique Charms in New Movie”. The Chosun Ilbo. Ngày 25 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2012. 
  22. ^ Lee, Nancy (ngày 14 tháng 11 năm 2012). “Six Cheesy Idol Movies to Watch on Movie Day”. enewsWorld. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2012. 
  23. ^ “Ruler of Your Own World (2002, MBC miniseries)”. Koreanfilm.org. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2012. 
  24. ^ Paquet, Darcy. “Conduct Zero”. Koreanfilm.org. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2012. 
  25. ^ “Snowman”. Koreanfilm.org. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2012. 
  26. ^ "2003 KBS Drama Awards" (in Korean). KBS Drama Awards. Truy cập 2012-11-27.
  27. ^ Min, Dong-yong (ngày 24 tháng 6 năm 2005). Heaven’s Soldiers: Movie and Life of Park Joong-hoon and Kim Seung-woo”. The Dong-a Ilbo. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2012. 
  28. ^ “K-FILM REVIEWS: 천군 (Heaven's Soldiers)”. Twitch Film. Ngày 22 tháng 10 năm 2005. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2012. 
  29. ^ Kim, Se-yoon. “Film2.0 Interview with Kong Hyo-Jin”. Twitch Film. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2005. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]