Gong Seung-yeon

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đây là một tên người Triều Tiên, họ là Yoo.

Gong Seung-yeon

Picto infobox character.png
171231 공승연 02.png
Gong Seung-yeon tại họp báo ra mắt phim điện ảnh My Dream Class năm 2018
Tên bản ngữ유승연
SinhYoo Seung-yeon
27 tháng 2, 1993 (26 tuổi)
Suwon, Gyeonggi-do, Hàn Quốc
Tên khácGong Seung-yeon
Học vịĐại học nữ sinh Sungshin
Nghề nghiệpDiễn viên, MC
Năm hoạt động2012–nay
Đại lý
Chiều cao5 ft 5 in (1,65 m)
Cha mẹYoo Chang-joon (cha)
Người thân
Tên tiếng Hàn
Hangul
Hanja孔昇延
Romaja quốc ngữGong Seung-yeon
McCune–ReischauerKong Sŭngyŏn
Hán-ViệtKhổng Thăng Nghiên
Tên khai sinh
Hangul
Hanja俞昇延
Romaja quốc ngữYoo Seung-yeon
McCune–ReischauerYoo Sŭngyŏn
Hán-ViệtDu Thăng Diên

Yoo Seung-yeon (sinh ngày 27 tháng 2 năm 1993), được biết đến với nghệ danh Gong Seung-yeon, là một nữ diễn viên Hàn Quốc. Cô được biết đến qua những bộ phim Cô nàng đáng yêu (2014), Lục long tranh bá (2015), Circle (2017) và Anh cũng là con người? (2018).

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Yoo Seung-yeon sinh ngày 27 tháng 2 năm 1993 tại Suwon, Gyeonggi-do, Hàn Quốc. Cô là chị cả trong gia đình có 3 chị em, hai người em lần lượt sinh năm 1994 là Yoo Seo-yeon và 1996 là ca sĩ Yoo Jeong-yeon, thành viên của nhóm nhạc nữ nổi tiếng Twice. Chỉ có Seung-yeon và Jeong-yeon là đi theo con đường nghệ thuật.

Cha của cô, Yoo Chang-joon là đầu bếp chuyên phụ trách ẩm thực truyền thống của Hàn Quốc. Ông là đầu bếp trưởng của khách sạn Seoul Plaza Hotel hơn 20 năm, nổi tiếng trong giới nhờ tài năng của mình và từng đảm nhiệm vai trò đầu bếp riêng của cựu tổng thống, Kim Dae-jung. Ngoài ra, ông cũng sở hữu một nhà hàng riêng có địa hình tốt tại thủ đô Seoul. Ngoài người bố nổi tiếng, mẹ của cô cũng hoạt động trong lĩnh vực ẩm thực. Bà hiện đang là chủ của một nhà hàng ẩm thực Nhật Bản.[2]

Yoo Seung-yeon từng trải qua 10 năm thực tập vất vả tại SM Entertainment. Cô được công ty giải trí này phát hiện trong một cuộc thi Gayageum (một loại đàn truyền thống của Hàn Quốc) tại trường tiểu học năm 2004 và đã giành được vị trí đầu tiên trong cuộc thi "SM Youth Best Contest" do SM Entertainment tổ chức vào năm 2005, cô bắt đầu đào tạo để trở thành ca sĩ sau cuộc thi. Cô thực tập cùng thời điểm với Sulli, Amber, Krystal và suýt trở thành một mẩu của f(x). Trong thời gian đào tạo, cô từng góp mặt trong "I Love Italy" - bộ phim do SM sản xuất. Sau đó, cô được thêm vào đội hình ra mắt của Red Velvet, nhưng cuối cùng cô đã rời SM Entertainment vào năm 2012 sau khi không thể ra mắt và đã đánh mất đi sự yêu thích trong lĩnh vực ca hát.[3]

Sau đó, cô chính thức bước vào con đường nghệ thuật với vai trò là một diễn viên, lấy nghệ danh là Gong Seung-yeon.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

2012–2014: Khởi đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi ra mắt trong một quảng cáo cho sản phẩm vệ sinh nữ White (Yuhan - Kimberly) vào năm 2012, Gong Seung-yeon bắt đầu xuất hiện trong những vai nhỏ trong các bộ phim truyền hình.[4]

2015–nay: Sự nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2015, cô nhận được sự chú ý khi tham gia mùa thứ tư của chương trình thực tế Hàn Quốc We Got Married, đóng cặp với nam ca sĩ-diễn viên Lee Jong-hyun.[5][6]

Cô cũng bắt đầu thu hút sự chú ý trong vai trò diễn viên với vai diễn trong bộ phim cổ trang Lục long tranh bá (2015-2016).[7] Cô đã nhận được giải Ngôi sao mới tại lễ trao giải SBS Drama Awards.[8] Sau đó, cô đã được chọn vào vai chính đầu tiên của mình trong bộ phim My Only Love Song, được công chiếu trên Netflix vào năm 2017.[9]

Năm 2017, cô tham gia bộ phim hài lãng mạn Introvert Boss của tvN. Cùng năm đó, cô đảm nhận vai chính trong bộ phim khoa học viễn tưởng Circle.

Vào tháng 3 năm 2018, cô đã ký hợp đồng độc quyền với BH Entertainment. Sau đó, cô đóng vai chính trong bộ phim tình cảm khoa học viễn tưởng Are you human too? của tvN với Seo Kang-joon, bộ phim điện ảnh My Dream Class và hát bài hát chủ đề cho bộ phim cùng với em gái Yoo Jeong-yeon.

Năm 2019, cô được chọn tham gia bộ phim tình cảm lãng mạn cổ trang Flower Crew: Joseon Marriage Agency của JTBC.

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Nhân vật Ghi chú
2018 My Dream Class Jeong-seok Phim ngắn

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kênh Tên Nhân vật
2012 tvN I Love Lee Tae-ri Mi-mi
2014 SBS My Lovely Girl Seo Yoon-ji
2015 Thế giới tin đồn Seo Noo-ri
Lục long tranh bá Min Da-kyung (Nữ hoàng Wongyeong)
2016 KBS2 The Master of Revenge Kim Da-hae
The Sound of Your Heart Khách mời
2017 tvN Introvert Boss Eun Yi-soo
Circle Han Jung-yeon
Netflix My Only Love Song Song Soo-jung
OCN Meloholic Khách mời
JTBC A Midsummer's Memory Khách mời
2018 KBS2 Anh cũng là con người? Kang So-bong
2019 JTBC Flower Crew: Joseon Marriage Agency

Dẫn chương trình[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày Kênh Tên Ghi chú
3 tháng 7 năm 2016 – 22 thánng 1 năm 2017 SBS Inkigayo MC, với Yoo Jeong-yeonKim Min-seok[10]

Chương trình giải trí[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kênh Tên Vai trò Ghi chú
2015 MBC We Got Married 4 Thành viên cố định Tập 263–286, với Lee Jong-hyun
2016 tvN Eat, Sleep, Eat in Krabi, Thailand Thành viên cố định với Lee Seung-hoon

Music Video[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên bài hát Nghệ sĩ
2012 "Do It" Sunny Hill
2014 "Over the Destiny" 2AM
2015 "Me, Myself" Shin Seung-hun
2016 "#Like" Fiestar
2017 "When I Was In Love" (short film) PENTAGON

Đại sứ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tổ chức/sự kiện Ghi chú
2014 Hiệp hội bệnh Lao phổi quốc gia Hàn Quốc Đại sứ danh dự
2016 Liên hoan phim tài liệu DMZ lần thứ 8

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Hạng mục Đề cử Kết quả Nguồn
2005 9th SM Youth Best Contest Best Face 1st Place Không có Đoạt giải [11]
2015 23rd SBS Drama Awards New Star Award Lục long tranh bá, Thế giới tin đồn Đoạt giải [12]
2016 10th SBS Entertainment Awards Newcomer Award, Female (với Yoo Jeong-yeon) Inkigayo Đoạt giải [13]
30th KBS Drama Awards Best New Actress (TV) The Master of Revenge Đề cử
2017 53rd Baeksang Arts Awards Đề cử
1st The Seoul Awards Best New Actress (Drama) Introverted Boss Đề cử
2nd Asia Artist Awards New Wave Award Không có Đoạt giải [14]
2018 32nd KBS Drama Awards Excellence Award, Actress in a Mid-length Drama Anh cũng là con người? Đề cử [15]
Best Couple (với Seo Kang-joon) Đoạt giải

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “[공식입장] 공승연, BH엔터테인먼트와 전속계약...이병헌과 한솥밥”. OSEN (bằng tiếng Hàn). 23 tháng 3 năm 2018. 
  2. ^ Kang Seo-jung (ngày 13 tháng 8 năm 2016). “[Oh!쎈 톡] ‘냉부해’PD “정연X공승연 아빠, 스페셜 셰프로 활약””. Osen. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2016. 
  3. ^ “공승연 "SM연습생 출신..보아 언니같은 가수 꿈꿔"(인터뷰)”. Naver. Ngày 2 tháng 6 năm 2015. 
  4. ^ Hong, Grace Danbi (ngày 4 tháng 3 năm 2015). “5 Things to Know about CN Blue Lee Jong Hyun's We Got Married Wife Gong Seung Yeon”. enewsWorld. 
  5. ^ Yoon, Sarah (ngày 2 tháng 3 năm 2015). “Two new couples on We Got Married. K-Pop Herald. 
  6. ^ Hwang, Hye-jin (ngày 3 tháng 3 năm 2015). “Ye Won-Henry and Lee Jong Hyun-Gong Seung Yeon Couples to Begin We Got Married Life on March 14”. enewsWorld. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2015. 
  7. ^ “GET TO KNOW THE 5 FIERY LADIES OF 'SIX FLYING DRAGONS'. One TV Asia. 
  8. ^ “SBS Drama Awards 2015 Winners”. Hancinema. Ngày 31 tháng 12 năm 2015. 
  9. ^ '우결'커플 이종현X공승연, 드라마로 재회…'꿀케미' 기대”. Osen (bằng tiếng Hàn). Ngày 20 tháng 9 năm 2016. 
  10. ^ Han, In-gu (ngày 22 tháng 6 năm 2016). “`인기가요` 공승연·정연 자매-김민석 MC 발탁”. Naver TV (bằng tiếng Hàn). TV Report. 
  11. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên sm
  12. ^ “공승연·이열음·이엘리야·임지연·고아성, 여자 뉴스타상 수상”. Financial News (bằng tiếng Hàn). 31 tháng 12 năm 2015. 
  13. ^ “[2016 SBS 연예대상] 신동엽. 26년 만의 대상.."하늘에 계신 母의 선물" (종합)”. The Chosun Ilbo (bằng tiếng Hàn). 26 tháng 12 năm 2016. 
  14. ^ “Kim Hee Sun & EXO win Grand Prize Awards at the 2017 Asia Artist Awards”. KBS World. 16 tháng 11 năm 2017. 
  15. ^ “[2018 KBS 연기대상] 유동근 대상 "장미희 덕분인데 내가 왜..대하드라마 부활 기원". 10Asia (bằng tiếng Hàn). 1 tháng 1 năm 2019. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]