Google

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Google
Loại hình
Cổ phần (NASDAQ: GOOG)
Ngành nghề Internet
Phần mềm máy tính
Thiết bị viễn thông
Thành lập Menlo Park, California, Hoa Kỳ (1998)[1]
Trụ sở chính Mountain View, California, Hoa Kỳ
Nhân viên chủ chốt
Larry Page (Cùng giữ vị trí CEOChủ tịch hội đồng quản trị)
Eric Schmidt (Đồng Chủ tịch hội đồng quản trị và cựu CEO)
Sergey Brin (Giám đốc Google X và các dự án đặc biệt)
Ruth Porat (Giám đốc tài chính)
Sundar Pichai (Giám đốc mảng sản phẩm)
Sản phẩm (xem ở dưới)
Doanh thu 72 tỷ USD tăng (2015)[2]
16 tỷ USD tăng (2015)[2]
Tổng vốn chủ sở hữu 131.133 tỷ USD (2014)[2]
Số nhân viên
60.000 (2015)[3]
Công ty mẹ Alphabet Inc.
Website www.google.com

Google LLC là một công ty công nghệ đa quốc gia của Mỹ, chuyên về các dịch vụ và sản phẩm liên quan đến Internet, bao gồm các công nghệ quảng cáo trực tuyến, công cụ tìm kiếm, điện toán đám mây, phần mềmphần cứng. Đây được coi là một trong những công ty công nghệ Big Four, cùng với Amazon, AppleFacebook.

Google được thành lập vào năm 1998 bởi Larry PageSergey Brin trong khi họ là nghiên cứu sinh đã có bằng tiến sĩ tại Đại học Stanford ở California. Họ cùng nhau sở hữu khoảng 14% cổ phần và kiểm soát 56% quyền biểu quyết của cổ đông thông qua cổ phiếu ưu đãi. Họ đã hợp nhất Google thành một công ty tư nhân vào ngày 4 tháng 9 năm 1998. Một đợt chào bán công khai lần đầu (IPO) diễn ra vào ngày 19 tháng 8 năm 2004 và Google chuyển đến trụ sở chính tại Mountain View, California với tên Googleplex. Vào tháng 8 năm 2015, Google đã công bố kế hoạch tổ chức lại công ty với tư cách là một tập đoàn có tên là Alphabet Inc. Google là công ty con hàng đầu của Alphabet và sẽ tiếp tục là công ty ô dù vì lợi ích Internet của Alphabet. Sundar Pichai được bổ nhiệm làm CEO của Google, thay thế Larry Page trở thành CEO của Alphabet.

Sự phát triển nhanh chóng của công ty kể từ khi thành lập đã kích hoạt một chuỗi các sản phẩm, mua lại để sáp nhập và hợp tác ngoài công cụ tìm kiếm cốt lõi của Google (Google Tìm kiếm). Nó cung cấp các dịch vụ được thiết kế cho công việc và năng suất (Google Docs, Google SheetsGoogle Slides), email (Gmail/Inbox), lập lịch và quản lý thời gian (Lịch Google), lưu trữ đám mây (Google Drive), mạng xã hội (Google+), nhắn tin và trò chuyện video trực tiếp (Google Allo, Duo, Hangouts), dịch ngôn ngữ (Google Dịch), lập bản đồ và điều hướng (Google Maps, Waze, Google Earth, Chế độ xem phố), chia sẻ video (YouTube), ghi chú (Google Keep) và tổ chức và chỉnh sửa ảnh (Google Ảnh). Công ty dẫn đầu sự phát triển của hệ điều hành di động Android, trình duyệt web Google ChromeChrome OS, một hệ điều hành nhẹ dựa trên trình duyệt Chrome. Google đã ngày càng chuyển sang phần cứng; từ năm 2010 đến 2015, nó hợp tác với các nhà sản xuất điện tử lớn trong việc sản xuất các thiết bị Nexus của mình và đã phát hành nhiều sản phẩm phần cứng vào tháng 10 năm 2016, bao gồm điện thoại thông minh Google Pixel, loa thông minh Google Home, bộ định tuyến không dây Google WifiDaydream-tai nghe thực tế ảo. Google cũng đã thử nghiệm trở thành nhà cung cấp dịch vụ Internet (Google Fiber, Project FiGoogle Station).

Google.com là trang web được truy cập nhiều nhất trên thế giới. Một số dịch vụ khác của Google cũng nằm trong top 100 trang web được truy cập nhiều nhất, bao gồm YouTubeBlogger. Google là thương hiệu có giá trị nhất thế giới tính đến năm 2017 nhưng đã nhận được sự chỉ trích đáng kể liên quan đến các vấn đề như lo ngại về quyền riêng tư, tránh thuế, chống độc quyền, kiểm duyệt và trung lập trong tìm kiếm. Tuyên bố sứ mệnh của Google là "tổ chức thông tin của thế giới và làm cho nó có thể hữu dụng trên toàn cầu", và khẩu hiệu không chính thức của nó là "Don't be evil" (Đừng trở nên xấu xa) cho đến khi cụm từ được xóa khỏi quy tắc ứng xử của công ty vào khoảng tháng 5 năm 2018.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lịch sử Google

Ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Trang chủ ban đầu của Google có thiết kế đơn giản vì những người sáng lập công ty có ít kinh nghiệm về HTML, ngôn ngữ đánh dấu được sử dụng để thiết kế các trang web.

Google ban đầu là một công trình nghiên cứu của Larry PageSergey Brin, hai nghiên cứu sinh bằng tiến sĩ tại trường Đại học Stanford, California vào tháng 1 năm 1996.

Trong khi các công cụ tìm kiếm thông thường xếp hạng kết quả bằng cách đếm số lần tìm kiếm xuất hiện trên trang, hai lý thuyết đã đưa ra giả thuyết về một hệ thống tốt hơn phân tích mối quan hệ giữa các trang web. Họ gọi công nghệ mới này là PageRank; nó xác định mức độ liên quan của một trang web theo số lượng trang và tầm quan trọng của những trang được liên kết trở lại trang web gốc.

Page và Brin ban đầu đặt biệt danh cho công cụ tìm kiếm mới của họ là "BackRub" (Gãi lưng) tại vì hệ thống này dùng các liên kết đến để ước tính tầm quan trọng của trang. Họ cũng tin rằng những trang có nhiều liên kết đến nhất từ các trang thích hợp khác sẽ là những trang thích hợp nhất. Cuối cùng, họ đã đổi tên thành Google; tên của công cụ tìm kiếm bắt nguồn từ một lỗi chính tả của từ "googol" có nghĩa là số 1 ​​đầu và theo sau là 100 số không, được chọn để biểu thị rằng công cụ tìm kiếm nhằm cung cấp số lượng lớn thông tin. Ban đầu, Google hoạt động dưới trang web của đại học Stanford với các tên miền google.stanford.eduz.stanford.edu. Họ đã quyết định thử nghiệm giả thuyết trong nghiên cứu của họ, tạo nền móng cho công cụ Google hiện đại bây giờ. Tên miền www.google.com được đăng ký ngày 15 tháng 9 năm 1997. Họ chính thức thành lập công ty Google, Inc. ngày 4 tháng 9 năm 1998 tại một ga ra của nhà Susan Wojcicki (được thuê làm nhân viên đầu tiên của Google, Phó Chủ tịch cấp cao, phụ trách bộ phận quảng cáo) tại Menlo Park, California.

Tài chính (1998) và chào bán công khai lần đầu (2004)[sửa | sửa mã nguồn]

Máy chủ đầu tiên của Google.

Google ban đầu được tài trợ bởi khoản đóng góp 100.000 đô la tháng 8 năm 1998 từ Andy Bechtolsheim, đồng sáng lập của Sun Microsystems; tiền đã được đưa ra trước khi Google được hợp nhất. Google đã nhận được tiền từ ba nhà đầu tư thiên thần khác vào năm 1998: Jeff Bezos, người sáng lập Amazon.com, giáo sư khoa học máy tính David Cheriton và doanh nhân Ram Shriram.

Sau một số khoản đầu tư nhỏ, từ cuối năm 1998 đến đầu năm 1999, một vòng tài trợ mới trị giá 25 triệu đô la đã được công bố vào ngày 7 tháng 6 năm 1999, với các nhà đầu tư lớn bao gồm các công ty đầu tư mạo hiểm Kleiner PerkinsSequoia Capital.

Đầu năm 1999, Brin và Page quyết định họ muốn bán Google cho Excite. Họ đã đến gặp CEO Excite George Bell và đề nghị bán nó cho anh ta với giá 1 triệu đô la. Anh từ chối lời đề nghị. Vinod Khosla, một trong những nhà đầu tư mạo hiểm của Excite, đã nói họ giảm xuống còn 750.000 đô la, nhưng Bell vẫn từ chối.

Chào bán công khai ban đầu của Google (IPO) diễn ra năm năm sau đó, vào ngày 19 tháng 8 năm 2004. Vào thời điểm đó, Larry Page, Serge Brin và Eric Schmidt đã đồng ý làm việc cùng nhau tại Google trong 20 năm, cho đến năm 2024.

Tại đợt IPO, công ty đã chào bán 19.605.052 cổ phiếu với mức giá 85 USD/cổ phiếu. Cổ phần đã được bán theo một hình thức đấu giá trực tuyến bằng cách sử dụng một hệ thống được xây dựng bởi Morgan StanleyCredit Suisse, người bảo lãnh cho thỏa thuận này. Việc bán 1,67 tỷ đô la đã mang lại cho Google vốn hóa thị trường hơn 23 tỷ đô la. Đến tháng 1 năm 2014, vốn hóa thị trường của nó đã tăng lên 397 tỷ đô la. Phần lớn trong số 271 triệu cổ phiếu vẫn nằm dưới sự kiểm soát của Google và nhiều nhân viên của Google đã trở thành triệu phú ngay lập tức. Yahoo!, một đối thủ cạnh tranh của Google, cũng được hưởng lợi vì sở hữu 8.4 triệu cổ phiếu Google trước khi IPO diễn ra.

Đã có những lo ngại rằng IPO của Google sẽ dẫn đến những thay đổi trong văn hóa công ty. Lý do dao động từ áp lực của cổ đông đối với việc giảm lợi ích của nhân viên cho đến việc nhiều giám đốc điều hành của công ty sẽ trở thành triệu phú ngay lập tức. Để trả lời cho mối quan tâm này, đồng sáng lập Brin và Page đã hứa trong một báo cáo cho các nhà đầu tư tiềm năng rằng IPO sẽ không thay đổi văn hóa của công ty. Năm 2005, các bài báo trên The New York Times và các nguồn khác bắt đầu cho thấy Google đã mất đi tính chống đối, không có triết lý độc ác. Trong nỗ lực duy trì văn hóa độc đáo của công ty, Google đã chỉ định một Giám đốc Văn hóa, người cũng là Giám đốc Nhân sự. Mục đích của Giám đốc Văn hóa là phát triển và duy trì văn hóa và làm việc theo những cách để giữ đúng với các giá trị cốt lõi mà công ty được thành lập: một tổ chức phẳng với môi trường hợp tác hòa nhập. Google cũng đã phải đối mặt với các cáo buộc về chủ nghĩa phân biệt giới tính và tuổi tác từ các nhân viên cũ. Vào năm 2013, một vụ kiện tập thể chống lại một số công ty ở Thung lũng Silicon, bao gồm Google, đã được đệ trình vì các thỏa thuận đã hạn chế việc tuyển dụng nhân viên công nghệ cao.

Cổ phiếu hoạt động tốt sau IPO, với cổ phiếu lần đầu tiên đạt 350 đô la vào ngày 31 tháng 10 năm 2007, chủ yếu vì doanh thu và thu nhập mạnh mẽ trên thị trường quảng cáo trực tuyến. Sự tăng vọt của giá cổ phiếu được thúc đẩy chủ yếu bởi các nhà đầu tư cá nhân, trái ngược với các nhà đầu tư tổ chức lớn và các quỹ tương hỗ. Cổ phiếu GOOG được chia thành cổ phiếu GOOG loại C và cổ phiếu GOOGL loại A. Công ty được liệt kê trên sàn giao dịch chứng khoán NASDAQ với các ký hiệu GOOGL và GOOG và trên sàn giao dịch chứng khoán Frankfurt dưới ký hiệu GGQ1. Các ký hiệu này hiện đề cập đến công ty cổ phần của Alphabet Inc., kể từ quý IV năm 2015.

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 3 năm 1999, công ty đã chuyển văn phòng của mình đến Palo Alto, California, nơi có nhiều công ty khởi nghiệp công nghệ nổi tiếng ở Thung lũng Silicon. Năm sau, Google bắt đầu bán quảng cáo liên quan đến từ khóa tìm kiếm mặc dù ban đầu có sự phản đối của Page và Brin. Để duy trì thiết kế trang không bị lộn xộn, quảng cáo chỉ dựa trên văn bản.

Mô hình bán quảng cáo từ khóa này lần đầu tiên được Goto.com tiên phong, một spin-off (chương trình dẫn xuất) Idealab được tạo bởi Bill Gross. Khi công ty đổi tên thành Overture Services, công ty đã kiện Google về các hành vi vi phạm các bằng sáng chế cho mỗi lần nhấp và đấu thầu của công ty. Overture Services sau đó được Yahoo! mua lại và đổi tên thành Yahoo! Tiếp thị tìm kiếm. Vụ việc sau đó đã được giải quyết ngoài tòa án; Google đồng ý phát hành cổ phiếu phổ thông cho Yahoo! để đổi lấy giấy phép vĩnh viễn.

Vào tháng 6 năm 2000, Google đã trở thành nhà cung cấp công cụ tìm kiếm mặc định cho Yahoo!, Một trong những trang web phổ biến nhất vào thời điểm đó, thay thế Inktomi.

Năm 2001, Google đã nhận được bằng sáng chế cho cơ chế PageRank của mình. Bằng sáng chế đã chính thức được giao cho Đại học Stanford và Lawrence Page là nhà phát minh. Năm 2003, công ty đã thuê một tổ hợp văn phòng từ Silicon Graphics tại 1600 Amphitheater Parkway ở Mountain View, California. Khu phức hợp được biết đến với cái tên Googleplex, một cách chơi chữ của googolplex, có nghĩa là 10googol. Nội thất Googleplex được thiết kế bởi Clive Wilkinson Architects. Ba năm sau, Google đã mua bất động sản từ SGI với giá 319 triệu đô la. Vào thời điểm đó, cái tên "Google" đã là ngôn ngữ hàng ngày, khiến động từ "google" được thêm vào Từ điển đại học Merriam-WebsterTừ điển tiếng Anh Oxford, được giải thích là: "sử dụng công cụ tìm kiếm Google để có được thông tin trên Internet". Việc sử dụng "Google" đầu tiên như một động từ trong văn hóa đại chúng đã xảy ra trên loạt phim truyền hình Buffy the Vampire Slayer, vào năm 2002.

Năm 2005, The Washington Post đã báo cáo về việc tăng 700% lợi nhuận trong quý ba cho Google, phần lớn nhờ vào các công ty lớn chuyển chiến lược quảng cáo của họ từ báo, tạp chí và truyền hình sang Internet. Vào tháng 1 năm 2008, tất cả dữ liệu được truyền qua phần mềm MapReduce của Google có kích thước tổng hợp là 20 petabyte mỗi ngày. Năm 2009, một báo cáo của CNN về các tìm kiếm chính trị hàng đầu năm 2009 đã lưu ý rằng "hơn một tỷ lượt tìm kiếm" đang được nhập vào Google hàng ngày. Vào tháng 5 năm 2011, lần đầu tiên số lượng khách truy cập duy nhất vào Google đã vượt qua một tỷ lần, tăng 8.4% so với tháng 5 năm 2010 (931 triệu).

Năm 2012 là lần đầu tiên Google tạo ra 50 tỷ đô la doanh thu hàng năm, 38 tỷ đô la vào năm trước. Vào tháng 1 năm 2013, Giám đốc điều hành lúc đó, Larry Page đã nhận xét: "Chúng tôi đã kết thúc năm 2012 với một quý mạnh mẽ ... Doanh thu tăng 36% so với cùng kỳ và 8% theo quý. Và chúng tôi đạt doanh thu 50 tỷ đô la lần đầu tiên vào năm ngoái - một thành tích không tồi chỉ trong một thập kỷ rưỡi."

Vào tháng 11 năm 2018, Google đã công bố kế hoạch mở rộng văn phòng tại Thành phố New York của mình với sức chứa 12.000 nhân viên.

2013 trở đi[sửa | sửa mã nguồn]

Logo của Google từ 2013-2015

Google đã công bố sự ra mắt của một công ty mới, được gọi là Calico vào ngày 19 tháng 9 năm 2013, do chủ tịch của Apple Inc., Arthur Levinson, lãnh đạo. Trong tuyên bố chính thức, Page giải thích rằng công ty về "sức khỏe và hạnh phúc" sẽ tập trung vào "thách thức của lão hóa và các bệnh liên quan".

Google đã tổ chức lễ kỷ niệm 15 năm thành lập vào ngày 27 tháng 9 năm 2013 và vào năm 2016, họ đã kỷ niệm sinh nhật lần thứ 18 của mình bằng một phiên bản hoạt họa ("Google Doodle"), mặc dù họ đã sử dụng các ngày khác cho ngày sinh nhật chính thức của mình. Lý do cho sự lựa chọn của ngày 27 tháng 9 vẫn chưa rõ ràng và tranh chấp với công cụ tìm kiếm đối thủ Yahoo! Tìm kiếm trong năm 2005 đã được đề xuất là nguyên nhân.

Liên minh vì Internet giá cả phải chăng (A4AI) đã được ra mắt vào tháng 10 năm 2013; Google là một phần trong liên minh các tổ chức công cộng và tư nhân cũng bao gồm Facebook, IntelMicrosoft. Được lãnh đạo bởi Sir Tim Berners-Lee, A4AI tìm cách làm cho việc truy cập Internet trở nên hợp lý hơn để truy cập được mở rộng ở các nước đang phát triển, nơi chỉ có 31% người dân đang dùng Internet. Google sẽ giúp giảm giá truy cập Internet để chúng giảm xuống dưới mục tiêu 5% thu nhập hàng tháng của Ủy ban băng thông rộng của Liên Hiệp Quốc.

Doanh thu của tập đoàn trong quý 3 năm 2013 đã được báo cáo vào giữa tháng 10 năm 2013 là 14,89 tỷ đô la, tăng 12 phần trăm so với quý trước. Dịch vụ tìm kiếm của Google đóng góp 10,8 tỷ đô la trong tổng doanh thu này với sự gia tăng số lần nhấp chuột của người dùng vào quảng cáo.

Theo báo cáo Thương hiệu toàn cầu tốt nhất hàng năm của Interbrand, Google là thương hiệu có giá trị thứ hai trên thế giới (sau Apple Inc.) vào năm 2013, 2014, 2015 và 2016, với mức định giá 133 tỷ đô la.

Vào tháng 9 năm 2015, giám đốc kỹ thuật của Google Rachel Potvin đã tiết lộ chi tiết về mã phần mềm của Google tại một hội nghị kỹ thuật. Cô tiết lộ rằng toàn bộ cơ sở mã của Google, bao gồm mọi dịch vụ mà nó phát triển, bao gồm hơn 2 tỷ dòng mã. Tất cả mã đó được lưu trữ trong kho lưu trữ mã có sẵn cho tất cả 25.000 kỹ sư của Google và mã này được sao chép và cập nhật thường xuyên trên 10 trung tâm dữ liệu của Google. Để giữ quyền kiểm soát, Potvin cho biết Google đã xây dựng "hệ thống phiên bản kiểm soát" của riêng mình, được gọi là "Piper". "Các kỹ sư có thể thực hiện một thay đổi mã duy nhất và triển khai nó trên tất cả các dịch vụ cùng một lúc. Các ngoại lệ chính duy nhất là thuật toán kết quả tìm kiếm PageRank được lưu trữ riêng biệt chỉ với quyền truy cập của nhân viên cụ thể và mã cho hệ điều hành Android và trình duyệt Google Chrome cũng được lưu trữ riêng vì chúng không chạy trên Internet. Hệ thống "Piper" gồm 85 TB dữ liệu. Các kỹ sư của Google thực hiện 25.000 thay đổi cho mã mỗi ngày và trên cơ sở hàng tuần thay đổi khoảng 15 triệu dòng mã trên 250.000 tệp. Với nhiều mã đó, các bot tự động phải trợ giúp. Potvin báo cáo: "Bạn cần nỗ lực phối hợp để duy trì thay đổi mã. Và đây không thể chỉ con người duy trì chúng, mà phải có thêm cả robot trợ giúp." Bot không viết mã, nhưng tạo ra nhiều tệp dữ liệu và cấu hình cần thiết để chạy phần mềm của công ty. "Không chỉ kích thước của kho lưu trữ ngày càng tăng," Potvin giải thích, "mà tốc độ thay đổi cũng đang tăng lên. Đây là một kiểu theo cấp số nhân."

Tính đến tháng 10 năm 2016, Google vận hành 70 văn phòng tại hơn 40 quốc gia. Alexa, một công ty giám sát lưu lượng truy cập web thương mại, liệt kê Google.com là trang web được truy cập nhiều nhất trên thế giới. Một số dịch vụ khác của Google cũng nằm trong top 100 trang web được truy cập nhiều nhất, bao gồm YouTube và Blogger.

Mua lại và hợp tác[sửa | sửa mã nguồn]

Larry PageSergey Brin vào năm 2003

2000-2009[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2001, Google mua lại Deja News, nhà điều hành một kho lưu trữ lớn các tài liệu từ Usenet. Google đổi thương hiệu cho kho lưu trữ là Google Groups.

Vào tháng 4 năm 2003, Google đã mua lại Applied Semantics, một công ty chuyên sản xuất các ứng dụng phần mềm cho không gian quảng cáo trực tuyến. Công nghệ quảng cáo theo ngữ cảnh AdSense được phát triển bởi Applied Semantics đã được áp dụng vào các nỗ lực quảng cáo của Google.

Năm 2004, Google mua lại Keyhole, Inc. Sản phẩm cùng tên của Keyhole sau đó được đổi tên thành Google Earth.

Vào tháng 4 năm 2005, Google đã mua lại Urchin Software, sử dụng sản phẩm Urchin theo yêu cầu của họ (cùng với các ý tưởng từ Bản đồ đo lường) để tạo Google Analytics vào năm 2006.

Vào tháng 10 năm 2006, Google đã thông báo rằng họ đã mua trang web chia sẻ video YouTube với giá 1,65 tỷ đô la cổ phiếu Google và thỏa thuận đã được hoàn tất vào ngày 13 tháng 11 năm 2006.

Vào ngày 13 tháng 4 năm 2007, Google đã đạt được thỏa thuận mua DoubleClick với giá 3,1 tỷ đô la, chuyển sang các mối quan hệ có giá trị của Google mà DoubleClick có với các nhà xuất bản và đại lý quảng cáo trên Web. Thỏa thuận đã được phê duyệt mặc dù những lo ngại được đưa ra bởi các đối thủ MicrosoftAT&T.

Ngoài nhiều công ty Google đã mua, công ty đã hợp tác với các tổ chức khác để nghiên cứu, quảng cáo và các hoạt động khác. Năm 2005, Google hợp tác với Trung tâm nghiên cứu Ames NASA để xây dựng văn phòng 93.000 m2.

Năm 2005, Google hợp tác với AOL để tăng cường các dịch vụ tìm kiếm video của nhau. Năm 2006, Google và Fox Interactive Media of News Corporation đã ký một thỏa thuận trị giá 900 triệu đô la để cung cấp tìm kiếm và quảng cáo trên trang mạng xã hội nổi tiếng lúc bấy giờ MySpace.

Năm 2007, Google bắt đầu tài trợ cho NORAD Tracks Santa, thay thế nhà tài trợ cũ AOL. NORAD theo dõi tiến trình của ông già Noel vào đêm Giáng sinh, sử dụng Google Earth để "theo dõi ông già Noel" định dạng 3D lần đầu tiên.

Năm 2008, Google đã phát triển quan hệ đối tác với GeoEye để phóng một vệ tinh cung cấp cho Google hình ảnh độ phân giải cao (0,41 m, màu 1,65 m) cho Google Earth. Vệ tinh được phóng từ căn cứ không quân Vandenberg vào ngày 6 tháng 9 năm 2008. Google cũng đã thông báo vào năm 2008 rằng họ đang lưu trữ các bức ảnh của tạp chí Life.

2010-Hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2010, Google Energy đã đầu tư lần đầu tiên vào một dự án năng lượng tái tạo, đưa 38,8 triệu đô la vào hai trang trại gióBắc Dakota. Công ty tuyên bố hai địa điểm sẽ tạo ra 169,5 megawatt điện, đủ để cung cấp cho 55.000 ngôi nhà. Các trang trại được phát triển bởi NextEra Energy Resources, sẽ giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch trong khu vực và mang lại lợi nhuận. NextEra Energy Resources đã bán cho Google một phần hai mươi phần trăm trong dự án để lấy tiền tài trợ cho sự phát triển của nó. Vào tháng 2 năm 2010, Ủy ban Điều tiết Năng lượng Liên bang (FERC) đã cấp cho Google quyền mua và bán năng lượng theo giá thị trường. Đơn đặt hàng nói rõ rằng Google Energy, một công ty con của Google, giữ quyền "bán năng lượng, năng lực và các dịch vụ phụ trợ theo giá dựa trên thị trường", nhưng thừa nhận rằng cả Google Energy và các chi nhánh của Google "không sở hữu hoặc kiểm soát bất kỳ thứ gì hoặc cơ sở truyền tải." Tập đoàn đã thực hiện ủy quyền này vào tháng 9 năm 2013 khi tuyên bố sẽ mua tất cả điện được sản xuất bởi trang trại gió Happy Hereford 240-megawatt chưa được xây dựng.

Cũng trong năm 2010, Google đã mua Global IP Solutions, một công ty có trụ sở ở Na Uy cung cấp hội nghị truyền hình dựa trên web và các dịch vụ liên quan khác. Việc mua lại này cho phép Google thêm các dịch vụ kiểu điện thoại vào danh sách các sản phẩm của mình. Vào ngày 27 tháng 5 năm 2010, Google tuyên bố họ cũng đã ngừng việc mua lại mạng quảng cáo di động AdMob. Điều này xảy ra vài ngày sau khi Ủy ban Thương mại Liên bang ngừng cuộc điều tra về việc mua bán. Google mua lại công ty với số tiền không được tiết lộ. Vào tháng 7 năm 2010, Google đã ký một thỏa thuận với một trang trại gió ở Iowa để mua 114 megawatt năng lượng trong 20 năm.

Vào ngày 4 tháng 4 năm 2011, The Globe and Mail đã báo cáo rằng Google đặt giá 900 triệu đô la cho 6000 bằng sáng chế của Nortel Networks.

Vào ngày 15 tháng 8 năm 2011, Google đã thực hiện vụ mua lại lớn nhất từ ​​trước đến nay khi tuyên bố sẽ mua Motorola Mobility với giá 12,5 tỷ USD phải được sự chấp thuận của các nhà quản lý tại Hoa KỳChâu Âu. Trong một bài đăng trên blog của Google, Giám đốc điều hành của Google và đồng sáng lập Larry Page đã tiết lộ rằng việc mua lại là một động thái chiến lược nhằm củng cố danh mục bằng sáng chế của Google. Hệ điều hành Android của công ty đã bị lên án trong cuộc chiến bằng sáng chế toàn ngành, vì AppleMicrosoft đã kiện các nhà sản xuất thiết bị Android như HTC, SamsungMotorola. Việc sáp nhập được hoàn thành vào ngày 22 tháng 5 năm 2012, sau khi được Trung Quốc chấp thuận.

Việc mua này được thực hiện một phần để giúp Google có được danh mục bằng sáng chế đáng kể của Motorola trên điện thoại di động và công nghệ không dây, để giúp bảo vệ Google trong các tranh chấp bằng sáng chế đang diễn ra với các công ty khác, chủ yếu là Apple và Microsoft và cho phép nó tiếp tục tự do cung cấp Android. Sau khi việc mua lại kết thúc, Google bắt đầu tái cấu trúc doanh nghiệp Motorola để phù hợp với chiến lược của Google. Vào ngày 13 tháng 8 năm 2012, Google đã công bố kế hoạch sa thải 4000 nhân viên Motorola Mobility. Vào ngày 10 tháng 12 năm 2012, Google đã bán các hoạt động sản xuất của Motorola Mobility cho Flextronics với giá 75 triệu đô la. Là một phần của thỏa thuận, Flextronics sẽ sản xuất Android không được tiết lộ và các thiết bị di động khác. Vào ngày 19 tháng 12 năm 2012, Google đã bán bộ phận kinh doanh Motorola Home của Motorola Mobility cho Tập đoàn Arris với giá 2,35 tỷ đô la theo một giao dịch tiền mặt và cổ phiếu. Là một phần của thỏa thuận này, Google đã mua 15,7% cổ phần của Arris Group trị giá 300 triệu đô la.

Vào tháng 6 năm 2013, Google đã mua lại Waze, một hợp đồng trị giá 966 triệu đô la. Mặc dù Waze sẽ vẫn là một thực thể độc lập, các tính năng xã hội của nó chẳng hạn như nền tảng vị trí được cộng đồng hóa của nó, được cho là tích hợp giữa Waze và Google Maps, dịch vụ lập bản đồ riêng của Google.

Lối vào tòa nhà nơi Google và công ty con Deep Mind được đặt tại 6 Pancras Square, London, Vương quốc Anh.

Vào ngày 26 tháng 1 năm 2014, Google tuyên bố đã đồng ý mua DeepMind Technologies, một công ty trí tuệ nhân tạo tư nhân từ London. DeepMind có khả năng kết hợp các kỹ thuật tốt nhất từ ​​học máy và hệ thống khoa học thần kinh để xây dựng các thuật toán học tập đa năng. Các ứng dụng thương mại đầu tiên của DeepMind đã được sử dụng trong mô phỏng, thương mại điện tử và trò chơi. Tính đến tháng 12 năm 2013, có thông tin rằng DeepMind có khoảng 75 nhân viên. Trang web tin tức công nghệ Recode báo cáo rằng công ty đã được mua với giá 400 triệu đô la mặc dù nó không được tiết lộ thông tin đến từ đâu. Một phát ngôn viên của Google sẽ không bình luận về giá cả. Việc mua các thiết bị hỗ trợ DeepMind nhằm phát triển gần đây của Google trong cộng đồng người máy và trí tuệ nhân tạo.

Vào ngày 29 tháng 1 năm 2014, Google đã thông báo rằng họ sẽ thoái vốn Motorola Mobility cho Lenovo với giá 2,91 tỷ đô la, một phần nhỏ so với mức giá 12,5 tỷ đô la ban đầu mà Google phải trả để mua lại công ty. Google giữ lại tất cả trừ 2000 bằng sáng chế của Motorola và tham gia vào các thỏa thuận cấp phép chéo.

Vào ngày 21 tháng 9 năm 2017, HTC đã công bố một "thỏa thuận hợp tác" trong đó họ sẽ bán quyền không độc quyền đối với một số tài sản trí tuệ cũng như điện thoại thông minh cho Google với giá 1,1 tỷ USD.

Vào ngày 6 tháng 12 năm 2017, Google đã đầu tư đầu tiên vào Ấn Độ và chọn một cổ phần thiểu số đáng kể trong dịch vụ trợ giúp và giao hàng Dunzo. Công ty khởi nghiệp có trụ sở tại Benguluru đã nhận được khoản đầu tư 12 triệu đô la vào vòng cấp vốn B của Google.

Vào ngày 29 tháng 3 năm 2018, Google đã dẫn đầu một vòng cấp vốn C vào khởi nghiệp thương mại điện tử thời trang trực tuyến và ngoại tuyến Fynd. Đây là khoản đầu tư trực tiếp thứ hai vào Ấn Độ với số tiền không được tiết lộ. Theo cách này, Google cũng đang tìm cách xây dựng một hệ sinh thái ở Ấn Độ thông qua các giao dịch siêu cục bộ tần số cao cũng như trong các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, dịch vụ tài chính và giáo dục.

Vào ngày 23 tháng 8 năm 2018, Google đã xóa 39 tài khoản YouTube, 13 tài khoản Google+ và 6 blog trên Blogger do họ tham gia vào hoạt động lừa đảo có động cơ chính trị, các tài khoản bị xóa được phát hiện gắn liền với Cộng hòa Hồi giáo Iran (IRIB).

Trung tâm dữ liệu Google[sửa | sửa mã nguồn]

Các trung tâm dữ liệu của Google được đặt tại Bắc và Nam Mỹ, Châu Á, Châu Âu.

Theo truyền thống, Google dựa vào tính toán song song trên phần cứng hàng hóa như máy tính x86 chính thống tương tự như máy tính gia đình để giữ chi phí cho mỗi truy vấn thấp. Năm 2005, nó bắt đầu phát triển các thiết kế của riêng mình, việc đó chỉ được tiết lộ vào năm 2009.

Vào tháng 10 năm 2013, The Washington Post đã báo cáo rằng Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ đã chặn các liên lạc giữa các trung tâm dữ liệu của Google như một phần của chương trình có tên MUSCULAR. Việc nghe lén này đã được thực hiện do Google không mã hóa dữ liệu được truyền trong mạng riêng của họ. Google bắt đầu mã hóa dữ liệu được gửi giữa các trung tâm dữ liệu vào năm 2013.

Trung tâm dữ liệu hiệu quả nhất của Google hoạt động ở 35°C chỉ sử dụng hệ thống làm mát không khí trong lành, không yêu cầu điều hòa không khí chạy bằng điện; các máy chủ chạy nóng đến mức con người không thể đến gần chúng trong thời gian dài.

Một báo cáo tháng 8 năm 2011 ước tính rằng Google có khoảng 900.000 máy chủ trong trung tâm dữ liệu của họ, dựa trên việc sử dụng năng lượng. Báo cáo nêu rõ rằng "Google không bao giờ nói có bao nhiêu máy chủ đang chạy trong trung tâm dữ liệu của mình."

Vào tháng 12 năm 2016, Google đã thông báo rằng, bắt đầu từ năm 2017, Google sẽ cung cấp năng lượng cho tất cả các trung tâm dữ liệu của mình, cũng như tất cả các văn phòng của mình từ 100% năng lượng tái tạo. Cam kết này sẽ khiến Google trở thành "công ty mua năng lượng tái tạo lớn nhất thế giới với các cam kết đạt 2,6 gigawatt (2.600 megawatt) năng lượng gió và mặt trời". Google cũng tuyên bố rằng họ không coi đó là mục tiêu cuối cùng của mình; nó nói rằng "vì gió không thổi 24 giờ một ngày, nên chúng tôi cũng sẽ mở rộng mua hàng của mình sang nhiều nguồn năng lượng khác nhau có thể cho phép mỗi giờ mỗi ngày". Ngoài ra, dự án sẽ "giúp hỗ trợ cộng đồng" trên toàn thế giới, vì các cam kết mua sẽ "dẫn đến đầu tư cơ sở hạ tầng hơn 3,5 tỷ đô la trên toàn cầu" và sẽ "tạo ra doanh thu hàng chục triệu đô la mỗi năm cho chủ sở hữu địa phương và hàng chục triệu nữa cho chính quyền địa phương và quốc gia về doanh thu thuế ".

Alphabet[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Alphabet Inc.

Vào ngày 10 tháng 8 năm 2015, Google trở thành công ty con hàng đầu của Alphabet vì lợi ích Internet của Alphabet. Sau khi hoàn thành tái cấu trúc, Sundar Pichai trở thành CEO của Google, thay thế Larry Page, người trở thành CEO của Alphabet.

Vào ngày 1 tháng 9 năm 2017, Google Inc. đã công bố kế hoạch tái cấu trúc của mình như một công ty trách nhiệm hữu hạn, Google LLC, với tư cách là một công ty con thuộc sở hữu của XXVI Holdings Inc., được thành lập như một công ty con của Alphabet Inc. các công ty con khác, bao gồm Google LLC và các công ty khác.

Phát hành cổ phiếu lần đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng hành dinh của Tập đoàn Google

Vào tháng 1 năm 2004, Google tuyên bố đã thuê công ty Morgan StanleyGoldman Sachs Group để tổ chức phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng. Google chọn cách bán cổ phiếu bằng đấu giá, một điều hiếm có từ đó tới giờ. Từ khi ra thị trường, giá Google đã lên đến gần $200 mỗi cổ phiếu từ $85 lúc đầu. Tính đến đầu năm 2018 cổ phiếu Google chạm ngưỡng 1.160 USD đẩy giá trị công ty lên 804 tỷ USD và là công ty lớn thứ 2 sau Apple trên thế giới.

Sự phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Khi thị trường ban đầu của công ty là trên thị trường web, Google đã bắt đầu thử nghiệm ở một số thị trường khác, ví dụ như Phát thanh hoặc Xuất bản. Ngày 17 tháng 1 năm 2006, Google công bố rằng công ty đã mua lại công ty quảng cáo phát thanh dMarc, công ty đã sử dụng một hệ thống tự động, cho phép các công ty quảng cáo trên radio. Điều này sẽ giúp Google kết hợp 2 kênh quảng cáo truyền thông là Internet và Radio, với khả năng của Google, nhắm thẳng vào tâm lý khách hàng. Google cũng bắt đầu thử nghiệm bán quảng cáo trên các kênh quảng cáo offline của công ty, như trên báo và tạp chí, với các quảng cáo được lựa chon trên Chicago-Sun Times. Họ đã lấp được một chỗ trống không bán được trên tờ báo mà trước đấy thường được dùng vào việc quảng cáo nhà.

Google được đưa vào danh sách 500 S&P index ngày 30 tháng 3 năm 2006, chiếm vị trí của Burlington Resources, một nhà sản xuất dầu chính ở Houston.Đến năm 2016 Google có 6 sản phẩm đạt trên 1 tỷ người sử dụng là Search,Chrome,Youtube,Play Store,Maps,Gmail,hệ điều hành Android.

Các thương vụ mua bán và sự cộng tác[sửa | sửa mã nguồn]

Các thương vụ mua bán[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 2001, Google đã mua được nhiều công ty nhỏ mới thành lập, thường là công ty có nhiều sản phẩm và đội ngũ nhân viên tốt. Một trong những công ty mà Google mua lại sớm nhất là Pyra Labs. Họ chính là những người sáng tạo ra Blogger, một nền tảng của việc xuất bản weblog, giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1999. Pyra Labs ban đầu được lập ra bởi Evan Williams, khi anh này rời Google vào năm 2004. Đầu năm 2006, Google mua lại Upstartle, một công ty chịu trách nhiệm xử lý từ ngữ trên mạng, Writely. Công nghệ của sản phẩm này rốt cuộc đã được Google sử dụng để tạo ra Google Docs & Spreadsheets.

Tháng 2 năm 2006, công ty phần mềm Adaptive Path bán Measure Map, một ứng dụng thống kê weblog cho Google.

Cuối năm 2006, Google mua lại trang web chia sẻ video trực tuyến YouTube với giá 1,65 tỷ USD bằng cổ phần. Không lâu sau, 31 tháng 10 năm 2006, Google công bố họ đã mua lại Jotspot, một nhà phát triển của công nghệ wiki cho các website cộng đồng.

Ngày 13 tháng 4 năm 2007, Google đạt được thỏa thuận mua lại DoubleClick. Google đã đồng ý mua lại công ty này với giá 3,2 tỷ USD.

Ngày 15 tháng 8 năm 2011, Google tuyên bố sẽ mua Motorola Mobility với giá 12,5 tỷ USD.[4]

Sự cộng tác[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2005, Google gia nhập hiệp hội với các công ty và tổ chức chính phủ khác để phát triển phần mềm và dịch vụ. Google công bố mối cộng tác với NASA Ames Reseach Center, xây dựng đến 1 triệu phòng chuyên trách và làm việc trong đề án nghiên cứu bao gồm Quản lý dữ liệu trên diện rộng, công nghệ nano, sắp xếp công việc sử dụng máy tính… Google cũng tham gia cộng tác với Sun Microsystem để chia sẻ và phân loại các công nghệ của nhau. Công ty cũng tham gia cộng tác với American Online của Time Warner để cải tiến dịch vụ video trực tuyến.

Năm 2007, Google và New Corp.’s Fox Interactive Media tham gia vào bản hợp đồng trị giá 900 triệu USD để phục vụ tìm kiếm vào quảng cáo trên trang mạng xã hội nổi tiếng, Myspace.

Ngày 22 tháng 3 năm 2010, Google rời khỏi thị trường khổng lồ Trung Quốc (tuy nhiên, các dịch vụ bản đồ trực tuyến và âm nhạc vẫn tiếp tục hoạt động). Google đóng cửa website google.cn, và thay vào đó chuyển tới trang google.com.hk để tránh bị kiểm duyệt nội dung. Nguyên nhân chính được cho là vì bất đồng quan điểm với chính quyền Trung Quốc. Ngày 30 tháng 3 năm 2010, mọi cách tìm kiếm bằng google (không chỉ google.cn mà còn các ngôn ngữ khác như google.co.jp. Google.com.au,..), bao gồm cả Google Mobile, đều bị chặn ở Trung Quốc. Hai dịch vụ như Google Mail và Google Maps không bị ảnh hưởng.[5] Lệnh cấm được dỡ bỏ vào ngày hôm sau. http://www.google.com/prc/report.html

Sản phẩm và dịch vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Google hiện nay đã phát triển nhiều dịch vụ và công cụ cho cộng đồng chung cũng như trong lĩnh vực kinh doanh, bao gồm các ứng dụng Web, mạng lưới quảng cáo và giải pháp kinh doanh.

Quảng cáo[sửa | sửa mã nguồn]

Google tại quảng cáo công nghệ Luân Đôn, 2010.

Theo báo cáo thường niên năm 2017, Google tạo ra phần lớn doanh thu từ quảng cáo. Điều này bao gồm bán ứng dụng, mua hàng được thực hiện trong ứng dụng, các sản phẩm nội dung số trên google và YouTube, android và phí cấp phép và dịch vụ, bao gồm các khoản phí nhận được cho các dịch vụ của Google Cloud. 46% trong số này là từ số lần nhấp (chi phí mỗi lần nhấp), lên tới 109,652 triệu đô la Mỹ trong năm 2017. Điều này bao gồm ba phương thức chính là AdMob, AdSense (như AdSense cho nội dung, AdSense cho tìm kiếm, v.v.) và DoubleClick AdExchange.

Trong năm tài chính 2006, công ty đã báo cáo 10,492 tỷ đô la trong tổng doanh thu quảng cáo và chỉ 112 triệu đô la trong giấy phép và các khoản thu khác. Năm 2011, 96% doanh thu của Google được lấy từ các chương trình quảng cáo. [176] Ngoài các thuật toán riêng để hiểu các yêu cầu tìm kiếm, Google sử dụng công nghệ từ công ty DoubleClick, để chiếu quảng cáo cho người dùng và nhắm mục tiêu quảng cáo đến bối cảnh tìm kiếm và lịch sử người dùng.

Năm 2007, Google ra mắt "AdSense cho thiết bị di động", tận dụng thị trường quảng cáo di động mới nổi.

Google Analytics cho phép chủ sở hữu trang web theo dõi vị trí và cách mọi người sử dụng trang web của họ, ví dụ: bằng cách kiểm tra tỷ lệ nhấp cho tất cả các liên kết trên một trang. Quảng cáo Google có thể được đặt trên các trang web của bên thứ ba trong một chương trình gồm hai phần. AdWords của Google cho phép các nhà quảng cáo hiển thị quảng cáo của họ trong mạng nội dung Google, thông qua sơ đồ chi phí mỗi lần nhấp. Dịch vụ chị em, Google AdSense, cho phép chủ sở hữu trang web hiển thị các quảng cáo này trên trang web của họ và kiếm tiền mỗi khi quảng cáo được nhấp.

Một trong những lời chỉ trích của chương trình này là khả năng gian lận nhấp chuột, xảy ra khi một người hoặc tập lệnh tự động nhấp vào quảng cáo mà không quan tâm đến sản phẩm, khiến nhà quảng cáo phải trả tiền cho Google quá mức. Báo cáo ngành năm 2006 tuyên bố rằng khoảng 14 đến 20 phần trăm số lần nhấp là gian lận hoặc không hợp lệ.

Vào tháng 2 năm 2003, Google đã ngừng hiển thị các quảng cáo của Oceana, một tổ chức phi lợi nhuận phản đối các hoạt động xử lý nước thải của một tàu du lịch lớn. Google đã trích dẫn chính sách biên tập của mình vào thời điểm đó, nói rằng "Google không chấp nhận quảng cáo nếu quảng cáo hoặc trang web ủng hộ các cá nhân, nhóm hoặc tổ chức khác." Vào tháng 6 năm 2008, Google đã đạt được thỏa thuận quảng cáo với Yahoo!, Điều đó sẽ đã cho phép Yahoo! làm nổi bật các quảng cáo của Google trên các trang web của nó. Liên minh giữa hai công ty chưa bao giờ được thực hiện hoàn toàn vì những lo ngại chống độc quyền của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ. Do đó, Google đã rút khỏi thỏa thuận vào tháng 11 năm 2008.

Vào tháng 7 năm 2016, Google đã bắt đầu từ chối tất cả các quảng cáo dựa trên flash bằng cách thay thế chúng bằng HTML5. Kế hoạch của Google là bắt đầu sử dụng "100% HTML5" bắt đầu vào ngày 2 tháng 1 năm 2017.

Công cụ tìm kiếm[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Google Tìm kiếmGoogle Images
Trang chủ Google Tìm kiếm kể từ ngày 2 tháng 12 năm 2016.

Theo nghiên cứu thị trường của comScore từ tháng 11 năm 2009, Google Search là công cụ tìm kiếm thống trị tại thị trường Hoa Kỳ, với thị phần là 65,6%. Google lập danh sách hàng tỷ trang web để cho phép người dùng tìm kiếm thông tin họ muốn thông qua việc sử dụng từ khóa và nhà khai thác.

Vào năm 2003, Thời báo New York đã phàn nàn về việc lập danh sách của Google, cho rằng bộ nhớ đệm nội dung của Google trên trang web của họ đã vi phạm bản quyền của nội dung đó. Trong cả hai trường hợp về Field v. GoogleParker v. Google, Tòa án quận Nevada của Hoa Kỳ phán quyết có lợi cho Google. Ấn phẩm 2600: Hacker Quarterly đã biên soạn một danh sách các từ mà tính năng tìm kiếm tức thời mới của google sẽ không tìm kiếm.

Google cũng lưu trữ Google Books. Công ty bắt đầu quét sách và tải lên các bản xem trước hạn chế và bản sách đầy đủ được cấp phép vào công cụ tìm kiếm sách mới của mình. Hội tác giả, một nhóm đại diện cho 8.000 tác giả Hoa Kỳ, đã đệ đơn kiện tập thể tại tòa án liên bang thành phố New York chống lại Google năm 2005 về dịch vụ này. Google trả lời rằng nó tuân thủ tất cả các ứng dụng hiện có và lịch sử của luật bản quyền liên quan đến sách. Cuối cùng Google đã đạt được một thỏa thuận sửa đổi vào năm 2009 để giới hạn các lần quét của nó đối với sách từ Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Úc và Canada. Hơn nữa, Tòa án Dân sự Paris đã ra phán quyết chống lại Google vào cuối năm 2009, yêu cầu họ loại bỏ các tác phẩm của La Martinière (Éditions du Seuil) khỏi cơ sở dữ liệu của nó. Cạnh tranh với Amazon.com, Google bán phiên bản kỹ thuật số với các bản sách mới.

Vào ngày 21 tháng 7 năm 2010, để đáp lại Bing, Google đã cập nhật tìm kiếm hình ảnh của mình để hiển thị một chuỗi các hình thu nhỏ được phóng to khi nhấp vào. Mặc dù các tìm kiếm trên web vẫn xuất hiện theo lô trên mỗi định dạng trang, vào ngày 23 tháng 7 năm 2010, các định nghĩa từ điển cho các từ tiếng Anh nhất định bắt đầu xuất hiện phía trên các kết quả được liên kết cho các tìm kiếm trên web.

Bản cập nhật "Hummingbird" cho công cụ tìm kiếm Google đã được công bố vào tháng 9 năm 2013. Bản cập nhật được giới thiệu hơn một tháng trước khi thông báo và cho phép người dùng hỏi công cụ tìm kiếm một câu hỏi bằng ngôn ngữ tự nhiên thay vì nhập từ khóa vào hộp tìm kiếm.

Vào tháng 8 năm 2016, Google đã công bố hai thay đổi lớn đối với kết quả tìm kiếm di động của mình. Thay đổi đầu tiên loại bỏ nhãn "thân thiện với thiết bị di động" làm nổi bật các trang dễ đọc khỏi trang kết quả tìm kiếm di động. Đối với thay đổi thứ hai, bắt đầu từ ngày 10 tháng 1 năm 2017, sẽ trừng phạt các trang di động hiển thị quảng cáo xen kẽ xâm nhập khi người dùng lần đầu mở trang. Những trang như vậy cũng sẽ xếp hạng thấp hơn trong kết quả tìm kiếm của Google.

Vào tháng 5 năm 2017, Google đã kích hoạt tab "Cá nhân" (Personal) mới trong Tìm kiếm của Google, cho phép người dùng tìm kiếm nội dung trong các dịch vụ khác nhau của tài khoản Google, bao gồm cả email từ Gmail và ảnh từ Google Photos.

Dịch vụ doanh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: G Suite
Công cụ tìm kiếm của Google tại Hội nghị RSA 2008

G Suite là dịch vụ đăng ký hàng tháng cho các tổ chức và doanh nghiệp để có quyền truy cập vào bộ sưu tập các dịch vụ của Google, bao gồm Gmail, Google Drive và Google Docs, Google Sheets và Google Slides, với các công cụ quản trị bổ sung, tên miền duy nhất và hỗ trợ 24/7.

Google Search Appliance (Công cụ Tìm kiếm Google) được ra mắt vào tháng 2 năm 2002, nhằm mục đích cung cấp công nghệ tìm kiếm cho các tổ chức lớn hơn. Google ra mắt Mini ba năm sau đó để nhắm mục tiêu vào các tổ chức nhỏ hơn. Cuối năm 2006, Google bắt đầu bán Custom Search Business Edition (Phiên bản doanh nghiệp tìm kiếm tùy chỉnh), cung cấp cho khách hàng một cửa sổ không có quảng cáo vào chỉ mục của Google.com. Dịch vụ được đổi tên thành Google Site Search (Tìm kiếm trang web của Google) vào năm 2008. Khách hàng của Google Site Search đã được thông báo qua email vào cuối tháng 3 năm 2017 rằng không có giấy phép mới nào cho Google Site Search sẽ được bán sau ngày 1 tháng 4 năm 2017, nhưng hỗ trợ khách hàng và kỹ thuật sẽ được cung cấp trong suốt thời gian thỏa thuận cấp phép hiện tại.

Vào ngày 15 tháng 3 năm 2016, Google đã công bố giới thiệu Google Analytics 360 Suite, "một bộ sản phẩm phân tích tiếp thị và dữ liệu tích hợp, được thiết kế dành riêng cho nhu cầu của các nhà tiếp thị cấp doanh nghiệp" có thể được tích hợp với BigQuery trên Google Cloud Platform (Nền tảng đám mây của Google). Trong số những thứ khác, bộ phần mềm được thiết kế để giúp "các nhà tiếp thị cấp doanh nghiệp" "nhìn thấy hành trình khách hàng hoàn chỉnh", tạo ra "những hiểu biết hữu ích" và "mang lại trải nghiệm hấp dẫn". Jack Marshall của The Wall Street Journal đã viết rằng bộ sản phẩm này cạnh tranh với các dịch vụ đám mây tiếp thị hiện có của các công ty bao gồm Adobe, Oracle, Salesforce và IBM.

Vườn ươm doanh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 24 tháng 9 năm 2012, Google đã ra mắt Google for Entrepreneurs (Google dành cho Doanh nhân), một cơ sở ươm tạo doanh nghiệp phi lợi nhuận, cung cấp cho các công ty khởi nghiệp những không gian làm việc chung gọi là Campuses, với sự hỗ trợ cho các nhà sáng lập khởi nghiệp bao gồm hội thảo, hội nghị và cố vấn. Hiện tại, có 7 địa điểm tại Berlin, London, Madrid, Seoul, São Paulo, Tel Aviv và Warsaw.

Dịch vụ tiêu dùng[sửa | sửa mã nguồn]

Dịch vụ dựa trên web[sửa | sửa mã nguồn]

Google cung cấp GmailInbox biến thể mới hơn, cho email, Lịch Google để quản lý thời gian và lập lịch, Google Maps để lập và xem bản đồ, điều hướng và hình ảnh vệ tinh, Google Drive để lưu trữ tệp trên đám mây, Google Docs, SheetsSlides cho năng suất, Google Ảnh để lưu trữ và chia sẻ ảnh, Google Keep để ghi chú, Google Dịch để dịch ngôn ngữ, YouTube để cho xem video và chia sẻ, Google My Business để quản lý thông tin doanh nghiệp công cộng, và Google+, AlloDuo để tương tác xã hội.

Phần mềm[sửa | sửa mã nguồn]

Google phát triển hệ điều hành di động Android, cũng như đồng hồ thông minh, truyền hình, xe hơi và Internet Vạn Vật-kích hoạt thiết bị thông minh hỗ trợ mọi thứ.

Nó cũng phát triển trình duyệt web Google ChromeChrome OS-một hệ điều hành dựa trên Chrome.

Phần cứng[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 1 năm 2010, Google đã phát hành Nexus One, điện thoại Android đầu tiên thuộc thương hiệu "Nexus" của riêng mình. Nó đã sinh ra một số điện thoại và máy tính bảng dưới nhãn hiệu "Nexus" cho đến khi ngừng hoạt động vào năm 2016, thay thế bằng một thương hiệu mới có tên là Pixel.

Vào năm 2011, Chromebook đã được giới thiệu, được mô tả là "loại máy tính mới" chạy Chrome OS.

Vào tháng 7 năm 2013, Google đã giới thiệu khóa Chromecast, cho phép người dùng truyền nội dung từ điện thoại thông minh của họ sang TV.

Vào tháng 6 năm 2014, Google đã công bố Google Cardboard, một trình xem các tông đơn giản cho phép người dùng đặt điện thoại thông minh của họ vào máy VR đặc biệt để xem phương tiện truyền thông thực tế ảo (VR).

Vào tháng 4 năm 2016, Recode đã báo cáo rằng Google đã thuê Rick Osterloh, cựu Chủ tịch của Motorola Mobility, để đứng đầu bộ phận phần cứng mới của Google. [239] Vào tháng 10 năm 2016, Osterloh tuyên bố rằng "rất nhiều sự đổi mới mà chúng tôi muốn thực hiện bây giờ kết thúc đòi hỏi phải kiểm soát trải nghiệm người dùng từ đầu đến cuối" và Google đã công bố một số nền tảng phần cứng:

  • Điện thoại thông minh Pixel và Pixel XL với Google Assistant, trợ lý giọng nói theo ngữ cảnh thế hệ tiếp theo được tích hợp.
  • Google Home, trợ lý giọng nói giống như Amazon Echo được đặt trong nhà có thể trả lời các truy vấn bằng giọng nói, phát nhạc, tìm thông tin từ các ứng dụng (lịch, thời tiết, v.v.) và điều khiển các thiết bị nhà thông minh của bên thứ ba (người dùng có thể yêu cầu bật đèn ở nhà mình chẳng hạn).
  • Google Daydream tai nghe thực tế ảo cho phép người dùng Android có điện thoại thông minh sẵn sàng tương thích Daydream đặt điện thoại của họ vào tai nghe và thưởng thức nội dung VR.
  • Google Wifi, một bộ định tuyến Wi-Fi được kết nối để đơn giản hóa và mở rộng vùng phủ sóng của Wi-Fi gia đình.

Dịch vụ Internet[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 2 năm 2010, Google đã công bố dự án Google Fiber, với các kế hoạch thử nghiệm để xây dựng một mạng băng rộng tốc độ cực cao cho 50.000 đến 500.000 khách hàng tại một hoặc nhiều thành phố của Mỹ. Sau khi tái cấu trúc công ty của Google để biến công ty mẹ của Alphabet Inc., Google Fiber đã được chuyển sang bộ phận Truy cập của Alphabet.

Vào tháng 4 năm 2015, Google đã công bố Project Fi, một nhà khai thác mạng ảo di động, kết hợp Wi-Fi và mạng di động từ các nhà cung cấp viễn thông khác nhau nhằm nỗ lực kết nối liền mạch và tín hiệu Internet nhanh chóng.

Vào tháng 9 năm 2016, Google đã bắt đầu sáng kiến ​​Google Station, một dự án cho Wi-Fi công cộng tại các nhà ga ở Ấn Độ. Caesar Sengupta, VP cho hàng tỷ người dùng tiếp theo của Google, nói với The Verge rằng 15.000 người lần đầu tiên trực tuyến nhờ Google Station và 3,5 triệu người sử dụng dịch vụ này mỗi tháng. Việc mở rộng có nghĩa là Google đang tìm kiếm các đối tác trên khắp thế giới để phát triển hơn nữa sáng kiến, hứa hẹn "Wi-Fi chất lượng cao, an toàn, dễ truy cập". Đến tháng 12, Google Station đã được triển khai tại 100 ga đường sắt và vào tháng 2, Google tuyên bố ý định mở rộng ra ngoài các ga đường sắt với kế hoạch đưa Wi-Fi toàn thành phố đến Pune.

Kể từ tháng 10 năm 2018, Orange đã hợp tác với Google để tạo ra một tuyến cáp dưới biển xuyên Đại Tây Dương để chia sẻ dữ liệu giữa Hoa Kỳ và Pháp với tốc độ nhanh hơn. Dự định bắt đầu hoạt động vào năm 2020, cáp được dự định chuyển thông tin với tốc độ trên 30 terabits mỗi giây, mỗi cặp [sợi] cáp. Cáp sẽ kéo dài khoảng 6600 km.

Sản phẩm khác[sửa | sửa mã nguồn]

Google ra mắt dịch vụ Google News vào năm 2002, một dịch vụ tự động tóm tắt các bài báo từ các trang web khác nhau. Vào tháng 3 năm 2005, Agence France Presse (AFP) đã kiện Google vì vi phạm bản quyền tại tòa án liên bang ở quận Columbia, một vụ kiện mà Google đã giải quyết với số tiền không được tiết lộ trong một hiệp ước bao gồm giấy phép toàn văn các bài báo AFP để sử dụng cho Google Tin tức.

Vào tháng 5 năm 2011, Google đã công bố Google Wallet, một ứng dụng di động cho thanh toán không dây.

Vào năm 2013, Google đã ra mắt Google Shopping Express, một dịch vụ giao hàng ban đầu chỉ có ở San Francisco và Thung lũng Silicon.

Google Alerts là dịch vụ phát hiện và thông báo thay đổi nội dung, được cung cấp bởi công ty công cụ tìm kiếm Google. Dịch vụ này sẽ gửi email cho người dùng khi tìm thấy kết quả mới, chẳng hạn như các trang web, bài báo hoặc blog, phù hợp với thuật ngữ tìm kiếm của người dùng.

Vào tháng 7 năm 2015, Google đã phát hành DeepDream, một phần mềm nhận dạng hình ảnh có khả năng tạo ra hình ảnh ảo giác bằng cách sử dụng mạng thần kinh tích chập.

Google đã giới thiệu dịch vụ Family Link vào tháng 3 năm 2017, cho phép cha mẹ mua thiết bị Android dựa trên Android Nougat cho trẻ em dưới 13 tuổi và tạo tài khoản Google thông qua ứng dụng, với cha mẹ kiểm soát các ứng dụng được cài đặt theo dõi thời gian sử dụng thiết bị và cài đặt tính năng "Giờ đi ngủ" để khóa thiết bị từ xa.

Vào tháng 4 năm 2017, Google đã ra mắt AutoDraw, một công cụ dựa trên web sử dụng trí thông minh nhân tạo và máy học để nhận ra bản vẽ của người dùng và thay thế những nét vẽ nguệch ngoạc bằng hình ảnh có liên quan đã được tạo ra bởi các nghệ sĩ chuyên nghiệp. Công cụ này được xây dựng bằng công nghệ tương tự QuickDraw, một trò chơi thử nghiệm từ Creative Lab của Google, nơi người dùng được giao nhiệm vụ vẽ các đối tượng mà thuật toán sẽ nhận ra trong vòng 20 giây.

Vào tháng 5 năm 2017, Google đã thêm "Nhóm gia đình" vào một số dịch vụ của mình. Tính năng cho phép người dùng tạo một nhóm bao gồm các tài khoản Google cá nhân của gia đình họ, cho phép người dùng thêm "Nhóm gia đình" của họ làm cộng tác viên cho các album được chia sẻ trong Google Photos, ghi chú chung trong Google Keep và các sự kiện phổ biến trong Lịch Google. Theo thông báo, tính năng này được giới hạn ở Úc, Brazil, Canada, Pháp, Đức, Ireland, Ý, Nhật Bản, Mexico, New Zealand, Nga, Tây Ban Nha, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ.

API[sửa | sửa mã nguồn]

API Google là một bộ giao diện lập trình ứng dụng (API) do Google phát triển, cho phép giao tiếp với Google Services và sự tích hợp của chúng với các dịch vụ khác. Ví dụ về những điều này bao gồm Tìm kiếm, Gmail, Dịch hoặc Google Maps. Các ứng dụng của bên thứ ba có thể sử dụng các API này để tận dụng hoặc mở rộng chức năng của các dịch vụ hiện có.

Các trang web khác[sửa | sửa mã nguồn]

Google Developers là trang web của Google về các công cụ phát triển phần mềm, API và tài nguyên kỹ thuật. Trang web chứa tài liệu về việc sử dụng các công cụ dành cho nhà phát triển và API của Google, bao gồm các nhóm thảo luận và blog cho các nhà phát triển sử dụng các sản phẩm dành cho nhà phát triển của Google.

Google Labs là một trang được tạo bởi Google để thể hiện và thử nghiệm các dự án mới.

Google sở hữu tên miền cấp cao nhất 1e100.net, được sử dụng cho một số máy chủ trong mạng của Google. Tên này là một tham chiếu đến biểu diễn ký hiệu E khoa học cho 1 googol, 1E100 = 1 × 10100.

Vào tháng 3 năm 2017, Google đã ra mắt một trang web mới, opensource.google.com, để xuất bản tài liệu nội bộ của mình cho các dự án Nguồn mở của Google.

Vào tháng 6 năm 2017, Google đã ra mắt "We Wear Culture", một kho lưu trữ có thể tìm kiếm được 3.000 năm của thời trang toàn cầu. Kho lưu trữ là kết quả của sự hợp tác giữa Google và hơn 180 bảo tàng, trường học, viện thời trang và các tổ chức khác cũng cung cấp các triển lãm được quản lý về các chủ đề thời trang cụ thể và tác động của chúng đối với xã hội.

Ứng dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Trang chủ Google ngày 1/9/2015

Google nổi tiếng bởi dịch vụ Tìm kiếm của nó, nhân tố chính dẫn đến thành công của Google. Vào tháng 12 năm 2006, Google là công cụ tìm kiếm được sử dụng nhiều nhất trên mạng chiếm 50,8% thị phần, vượt xa so với Yahoo (23,6 %) và Window Live Search (8,4%). Google liên kết với hàng tỷ trang web, vì thế người sử dụng có thể tìm kiếm thông tin mà họ muốn thông qua các từ khóa và các toán tử. Google cũng tận dụng công nghệ tìm kiếm của mình vào nhiều dịch vụ tìm kiếm khác, bao gồm Image Search (tìm kiếm ảnh), Google News, trang web so sánh giá cả Froogle, cộng đồng tương tác Google Groups, Google Maps và còn nhiều nữa.

Năm 2004, Google ra mắt dịch vụ email trên nền web, gọi là Gmail. Gmail hỗ trợ công nghệ lọc thư rác và khả năng sử dụng Công nghệ tìm kiếm của Google để tìm kiếm thư. Dịch vụ này tạo ra thu nhập bằng cách hiển thị quảng cáo từ dịch vụ AdWords mà phù hợp với nội dung của email hiển thị trên màn hình

Đầu năm 2006, Google ra mắt dịch vụ Google Video, dịch vụ không chỉ cho phép người dùng tìm kiếm và xem miễn phí các video có sẵn mà còn cho người sử dụng hay các nhà phát hành khả năng phát hành nội dung mà họ muốn, kể cả các chương trình truyền hình trên CBS, NBA và các video ca nhạc. Nhưng đến tháng 8 năm 2007, Google đã đóng cửa trang web này trước sự cạnh tranh của đối thủ Youtube cũng thuộc sở hữu của công ty

Google cũng đã phát triển một số ứng dụng nhỏ gọn, bao gồm cả Google Earth, một chương trình tương tác sử dụng ảnh vệ tinh. Ngoài ra công ty còn phát triển nhiều gói phần mềm văn phòng trên ứng dụng web tên là Google Docs nhằm cạnh tranh thị phần với Microsoft Office.

Nhiều ứng dụng khác nữa có tại Google Labs, một bộ sưu tập những phần mềm chưa hoàn chỉnh. Chúng đang được thử nghiệm để có thể đưa ra sử dụng trong cộng đồng.

Google đã đẩy mạnh quảng bá sản phẩm của họ bằng nhiều cách khác nhau. Ở London, Google Space được cài đặt tại sân bay Healthrow, ra mắt nhiều sản phẩm mới, bao gồm Gmail, Google EarthPicasa. Ngoài ra, một trang web tương tự cũng được ra mắt cho sinh viên Mỹ dưới cái tên College Life, Powered by Google.

Vào ngày 2 tháng 9 năm 2008, Google đã thông báo sự xuất hiện của Google Chrome, một trình duyệt mã nguồn mở. Trình duyệt này được giới phân tích đánh giá sẽ là đối thủ cạnh tranh thị phần của Internet ExplorerFirefox.Cũng vào khoảng thời gian này Google Translate đã bổ sung thêm tiếng Việt trong dịch vụ dịch tự động của mình và tích hợp ngay trong công cụ tìm kiếm, giúp người sử dụng nhanh chóng hiểu được cơ bản nội dung trang web trình bày bằng tiếng nước ngoài.

Ngày 5 tháng 1 năm 2010, Google cho ra mắt điện thoại Nexus One, sản phẩm cộng tác với hãng điện thoại HTC. Nexus One chạy trên nền hệ điều hành Android 2.1 (cũng do hãng phát triển), được cho là đối thủ cạnh tranh ngang hàng với iPhone của Apple.

Sản phẩm phục vụ kinh doanh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2007, Google giới thiệu Google Apps Premium Edition, một phần mềm phù hợp cho việc kinh doanh, cung cấp dịch vụ email, tin nhắn, lịch…như một chương trình bảng tính. Sản phẩm này chủ yếu nhắm tới người sử dụng là doanh nhân, dùng để cạnh tranh trực tiếp với bộ phần mềm Microsoft Office, với giá chỉ 50USD một năm cho một người sử dụng, so với giá 500USD cho một người sử dụng của Microsoft Office. Google có một số lượng lớn người sử dụng Google App với 38.000 người ở Đại học Lakehead tại Thunder Bay, Ontario, Canada.

Cũng vào năm 2007, Google đã mua lại công ty Postini và sẽ tiếp tục phát triển công nghệ mà họ mua được từ công ty này và đặt tên là Google Security Services.

Các dịch vụ chính[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Google Adwords: Chương trình quảng cáo dành cho các doanh nghiệp muốn quảng cáo trên Google và các trang đối tác
  • Google Adsense: Dịch vụ dành cho đối tác muốn đưa quảng cáo Google lên trang web của mình

Ứng dụng để bàn[sửa | sửa mã nguồn]

Doanh thu hằng năm[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 2004, Google thu được 1,837 tỉ USD, trong đó quý ba thu được 805,9 triệu USD, quý bốn là 1,032 tỉ USD.

Cuối năm 2005, Google khai báo thu nhập 6,137 tỉ USD, trong đó 1,256 tỉ USD là của quý một; 1, 384 tỉ của quý hai; 1,578 tỉ USD là quý ba và 1,919 tỉ USD là doanh thu đạt được trong quý bốn.

Cuối năm 2006, Google kiếm được 10,61 tỉ USD, trong đó quý một là 2,25 tỉ USD, quý hai là 2,46 tỉ, quý ba là 2,69 tỉ, và quý bốn là 3,21 tỉ USD.

Năm 2007 đạt doanh thu 16,59 tỉ USD, trong đó quý một là 3,66 tỉ USD, quý hai là 3,87 tỉ, quý ba là 4,23 tỉ, và quý bốn là 4,83 tỉ USD.

Năm 2008, doanh thu đạt 21,86 tỉ USD, trong đó quý một là 5,19 tỉ, quý hai là 5,37 tỉ, quý 3 là 5,54 tỷ, và quý bốn là 5,70 tỷ.

Năm 2009, Google kiếm được 23,64 tỷ USD. Quý một là 5,51 tỷ, quý hai là 5,52 tỷ, quý ba là 5,94 tỷ, và quý 4 là 6,67 tỷ USD.

Năm 2010, Google thu được 29,32 tỷ USD. Quý một là 6,77 tỷ, quý hai là 6,82 tỷ, quý ba là 7,29 tỷ, và quý bốnlà 8,44 tỷ USD.

Năm 2011, doanh thu đạt 37,1 tỷ USD, trong đó quý một là 8,58 tỷ, quý hai là 9,03 tỷ, quý ba là 9,72 tỷ, và quý bốn là 10,58 tỷ USD.

Năm 2012, Google đạt 51,38 tỷ USD, quý một là 10,65 tỷ, quý hai là 12,21 tỷ, quý ba là 14,10 tỷ, và quý bốn là 14,42 tỷ USD.

Năm 2013, quý 1 là 13,969 tỷ USD, quý 2 là 14,105 tỷ USD, quý 3 là 14,893 tỷ USD, quý 4 là 16,858 tỷ USD.

Nguồn tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “The Rise of Google”. Reuters. 30 tháng 4 năm 2004. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2007. 
  2. ^ a ă â “Financial Tables”. Google dịch Investor Relations. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2012. 
  3. ^ “Google Inc. Announces Second Quarter 2012 Financial Results” (Thông cáo báo chí). Google. 19 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2012. 
  4. ^ Larry Page (ngày 15 tháng 8 năm 2011). “Supercharging Android: Google to Acquire Motorola Mobility”. Google Blog. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2011. 
  5. ^ Pierson, David (ngày 31 tháng 3 năm 2010). “Google searches appear to be blocked in China”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2010. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]