Grace Kelly

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Grace Kelly
Grace Kelly 1955.jpg
Grace Kelly năm 1955
Danh sách kế vị ngai vàng Monaco
Bà hoàng Grace công quốc Monaco
Bà hoàng Monaco 18 tháng 4 năm 1956 –
14 tháng 9 năm 1982
Thông tin chung
Phối ngẫu Rainier III Ông hoàng Monaco
Hậu duệ Caroline, Công chúa xứ Hanover
Albert II, Ông hoàng Monaco
Stéphanie Marie Élisabeth
Tên đầy đủ Grace Patricia Kelly
Tước vị HSH The Princess of Monaco
Miss Grace Patricia Kelly
Hoàng tộc Nhà Grimaldi
Thân phụ John B. Kelly, Sr.
Thân mẫu Margaret Katherine Majer
Sinh 12 tháng 11, 1929(1929-11-12)
Mất 14 tháng 9, 1982 (52 tuổi)
An táng Nhà thờ Monaco
Nghề nghiệp Diễn viên
Tôn giáo Công giáo
Chữ ký của Grace Kelly

Grace Kelly (12 tháng 11 năm 192914 tháng 9 năm 1982) hay Bà hoàng Grace là nữ minh tinh điện ảnh người Mỹ. Sau này bà trở thành công nương của Công quốc Monaco sau khi kết hôn với ông hoàng Rainier III của Monaco vào tháng 4 năm 1956.

Bắt đầu sự nghiệp diễn xuất vào năm 1950, ở tuổi 20, Kelly trong các tác phẩm kịch nghệ tại New York và hơn 40 tập trong các bộ phim truyền hình trực tiếp phát sóng trong "Thời đại vàng của truyền hình" vào đầu thập niên 50. Tháng 10 năm 1953, bà đã trở thành ngôi sao của bộ phim Mogambo, đã giúp Kelly giành được 1 giải Quả Cầu Vàng và đề cử cho giải Oscar năm 1954. Tiếp đó, Kellly vào vai chính trong 5 phim điện ảnh có The Country Girl (1954), sự thể hiện diễn xuất được tán dương đã giúp Kelly nhận một Giải Oscar cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất.[1] Các phim khác là High Noon (1952) đóng cùng Gary Cooper, Dial M for Murder (1954) với Ray Milland, Rear Window (1954) với James Stewart, To Catch a Thief (1955) với Cary GrantHigh Society (1956) cùng Frank SinatraBing Crosby.

Kelly từ bỏ sự nghiệp diễn xuất ở tuổi 26 khi nhận lời cầu hôn của ông hoàng Rainier và trở thành công nương Monaco. Cặp đôi có 3 con: Caroline, Công chúa xứ Hanover, ông hoàng Albert II và Stéphanie. Kelly giữ gốc gác là người Mỹ và duy trì quyền công dân song tịch Hoa Kỳ và Monaco.[2] Bà qua đời ngày 14 tháng 9 năm 1982 do đột quỵ khi đang lái xe dẫn đến tai nạn lật xe trước đó một ngày.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Kelly sinh ra tại bệnh viện Đại học Hahnemann ở Philadelphia, Pennsylvania, trong gia đình giàu có và có sức ảnh hưởng.[3]

Cha là John B. Kelly Sr. (1889–1960), người gốc Ai-len[4] từng đạt 3 huy chương vàng Olympic môn đua thuyền và sở hữu một công ty thầu cung ứng gạch xây dựng phát đạt có tiếng ở bờ Đông nước Mỹ. Là một thành viên của Đảng Dân chủ, ông được đề cử tranh chức thị trưởng của Philadelphia trong cuộc bầu cử năm 1935 nhưng bị thua do khoảng cách sát sao nhất trong lịch sử thành phố. Trong những năm sau này, ông làm việc tại Ủy ban Fairmount Park và trong thời Thế chiến thứ hai được Tổng thống Franklin D. Roosevelt bổ nhiệm vào vị trí Giám đốc Thể dục thể thao Quốc gia. Hai người anh em của ông cũng được chú ý: Walter C. Kelly (1873–1939) là một ngôi sao nhạc kịch từng làm phim với Metro-Goldwyn-MayerParamount Pictures, còn George Kelly (1887–1974) là đạo diễn, biên kịch từng thắng một giải biên kịch xuất xắc Pulitzer.[5]

Căn nhà của gia đình Kelly được xây dựng bởi người cha, ông John B. Kelly năm 1929, tại vùng East Falls.

Mẹ của Kelly là Margaret Katherine Majer (1898–1990); thuộc gia đình người Đức định cư ở Pennsylvania.[6][7] Bà Margaret giảng dạy bộ môn giáo dục thể chất tại Đại học Pennsylvania, người phụ nữ đầu tiên tham gia huấn luyện môn điền kinh nữ tại ngôi trường này.[7][8] Bà được biết đến vì vẻ đẹp thời trẻ và đã có một thời gian làm người mẫu.[7] Sau khi kết hôn với người đàn ông giàu có John B. Kelly năm 1924, Margaret tập trung chăm sóc các con cho đến tuổi đi học, sau đó bà bắt đầu tích cực tham gia các tổ chức dân sự.[7] Sau này, bà bị đột quỵ tại viện dưỡng lão, sau đó được đơn vị này thừa nhận bà chết vì viêm phổi năm 91 tuổi.[9]

Kelly có hai anh chị là Margaret (1925–1991) và John B. Kelly Jr. (1927–1985) cùng em gái là Elizabeth (1933–2009). Những đứa trẻ trong gia đình được nuôi dạy theo niềm tin vào Công Giáo La Mã.[10][11]

Khi còn học tại Học viện Ravenhill, ngôi trường nữ sinh Công giáo danh tiếng, Kelly đã trình diễn thời trang trong các sự kiện ở địa phương cùng với mẹ và các chị em của bà. Năm 1942, khi mới 13 tuổi, bà vào vai chính trong vở kịch Don't Feed the Animals được đạo diễn bởi East Falls Old Academy Players.[5] Trước khi tốt nghiệp Stevens School vào tháng 5 năm 1947, một học viện tư nổi bật về mặt xã hội ở Walnut Lane, phía tây bắc Philadelphia gần Germantown, Kelly đã tham gia diễn xuất và khiêu vũ. Trong cuốn kỷ yếu thời đi học của mình, bà có liệt kê ra nữ diễn viên và nam diễn viên yêu thích là Ingrid BergmanJoseph Cotten.[12] Trong mục "Tiên đoán của Steven" có viết rằng: "Quý cô Grace P. Kelly – một ngôi sao nổi tiếng trên màn bạc và sân khấu." Do điểm môn toán thấp nên Kelly bị từ chối nhận vào Bennington College tháng 7 năm 1947.[13]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Thời gian đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Kelly trong phim High Noon (1951), vai chính đầu tiên trong sự nghiệp điện ảnh.

Dù ban đầu không được sự ủng hộ của bố mẹ, Kelly vẫn quyết định theo đuổi giấc mơ thành diễn viên. Cha Kelly đặc biệt không hài lòng với lựa chọn của cô vì ông coi diễn xuất là "một vết cắt mỏng trên mặt gái điếm."[11] Để tìm cơ hội cho mình, Kelly đi thử giọng ở Học viện Kịch nghệ Hoa Kỳ (American Academy of Dramatic Arts) tại New York, diễn một cảnh trong phim The Torch-Bearers (1923) của người bác là George Kelly. Dù khi đó ngôi trường này đã đạt đủ hạn ngạch chỉ tiêu cho học kỳ nhưng Kelly nhận được một buổi phỏng vấn với cán bộ tuyển sinh là Emile Diestel và được nhận vào học dưới tác động của người bác George.[11]. Cô bắt đầu học kỳ đầu tiên vào tháng 10 tiếp sau.

Trong thời gian theo học, cô sống trong Barbizon Hotel cho nữ giới tại Manhattan, một địa điểm uy tín cấm đàn ông bước vào sau 10 giờ tối, Kelly còn làm người mẫu để hỗ trợ việc học tập của mình. Cô đã làm việc hết mình và thực hành khả năng nói bằng việc sử dụng máy ghi âm. Nỗ lực theo đuổi diễn xuất ban đầu đã đưa cô đến sân khấu kịch, đáng chú ý nhất lần trình diễn trên Broadway đầu tiên bằng vở The Father của Strindberg bên cạnh Raymond Massey. Ở tuổi 19, màn trình diễn tốt nghiệp với vai Tracy Lord trong vở The Philadelphia Story.[11]

Nhà sản xuất truyền hình Delbert Mann tuyển chọn Kelly vào vai Bethel Merriday, một phiên bản cùng tên chuyển thể từ tiểu thuyết Sinclair Lewis; đây là vai đầu tay trong số gần 60 chương trình truyền hình trực tiếp của cô.[11] Thành công trên truyền hình cuối cùng giúp chạm đến một phim chiếu bóng quan trọng. Kelly xuất hiện lần đầu trong phim điện ảnh năm 1951 Fourteen Hours.

Cô được chú ý trong lần ghé thăm cảnh quay của Gary Cooper, sau này đã đóng vai chính cùng cô trong High Noon (1951). Anh bị quyến rũ và nói rằng "cô khác với tất cả các nữ diễn viên chúng tôi đã được nhìn thấy rất nhiều". Tuy nhiên, sự thể hiện của Kelly trong Fourteen Hours không được giới phê bình để mắt và dẫn đến cô không có vai diễn nào khác trên màn ảnh rộng. Cô tiếp tục công việc trong rạp hát và truyền hình[5] dù cô thiếu hụt "mã lực về thanh âm" và có thể không có một sự nghiệp sân khấu dài lâu.[11] Cô có một số vai trên các chương trình truyền hình được sản xuất bởi NBC và CBS. Cô đang trình diễn trong nhà hát Elitch Theatre, Denver thì nhận được điện tín từ nhà sản xuất Hollywood Stanley Kramer mời cô đóng vai chính cùng Gary Cooper trong High Noon (1951).

Công nương Monaco[sửa | sửa mã nguồn]

Grace Kelly đã từng đính hôn với Oleg Cassini, người thiết kế quần áo cho Jackie Kennedy. Sau bộ phim ca nhạc High Society (1956), vì tình yêu với ông hoàng Monaco Rainier III, Kelly đồng ý từ bỏ sự nghiệp điện ảnh. Trong phim High Society, cô diễn xuất cùng Bing Crosby và Frank Sinatra, người sau đó trở thành cha đỡ đầu của Stéphanie, con gái của Kelly.

Mối quan hệ của Kelly và Rainier mang lại rất nhiều lời bàn tán. Nhiều tờ báo giật gân khi đó đã đưa ra những dự đoán không mấy sáng sủa về tương lai mối tình của họ.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 13 tháng 9 năm 1982, Kelly đang lái xe quay về Monaco từ tư gia thuộc vùng nông thôn ở Mont Agel thì lên cơn đột quỵ. Kết quả là bà đã mất tay lái chiếc xe Rover P6 3500 1971 của mình[14] và văng khỏi con đường dốc quanh co, rơi xuống cạnh núi cao 120 foot (37 m).

Con gái bà, công chúa Stéphanie đang ngồi ở ghế phụ đã cố gắng lấy lại tay lái nhưng không thành.[15] Khi các nhân viên ý tế đến hiện trường tai nạn,(43°43′35″B 7°24′10″Đ / 43,72639°B 7,40278°Đ / 43.72639; 7.40278),[16] Kelly còn sống nhưng bất tỉnh và trong tình trạng nguy kịch. Bà và con gái Stéphanie được chuyển đến bệnh viện Monaco (sau đổi tên thành Princess Grace Hospital Centre).

Tại bệnh viện, các bác sĩ đã cố gắng hồi sức cho Grace nhưng vì mức độ chấn thương não, tổn thương ngực và xương đùi bị gãy, công nương không còn hy vọng cứu sống. Các bác sĩ tin rằng bà gặp phải một cơn đột quỵ thứ phát nên đã mất tay lái gây ra tai nạn.[17] Bà qua đời đêm kế tiếp lúc 10:55 đêm, ở tuổi 52, sau khi chồng bà, Rainier lựa chọn ngắt máy thở của vợ.[18]

Chẩn đoán ban đầu cho công chúa Stéphanie là nhẹ, thâm tím nhỏ và chấn thương nhỏ. Tuy nhiên, sau khi nhận được các kết quả chụp X-quang, cô được phát hiện có vết nứt đường chân tóc[19] ở đốt sống cổ thứ 7. Công chúa không thể có mặt trong đám tang của mẹ do các thương tích.

Tang lễ[sửa | sửa mã nguồn]

Nơi an nghỉ của công nương Grace Kelly

Đám tang Kell được tổ chức tại nhà thờ Thánh Nicolas, Monaco[20] vào 18 tháng 9, 1982. Sau một Thánh lễ an táng (Requiem Mass), bà được chôn cất trong hầm mộ của gia tộc Grimaldi. Hơn 400 người tham dự lễ tang trong đó có Cary Grant, Nancy ReaganDiana, công nương xứ Wales. Tại buổi lễ tưởng niệm sau này ở Beverly Hills, James Stewart đã đọc diễn văn ca ngợi như sai:

Bạn biết đấy, tôi chỉ yêu Grace Kelly. Không phải vì cô ấy là công chúa hay minh tinh, không phải vì cô ấy là bạn của tôi, mà vì dường như cô ấy là người phụ nữ đẹp nhất tôi từng gặp. Grace mang đến một tia sáng ấm áp, dịu êm cho cuộc sống của tôi cũng như của các bạn, mỗi khi tôi coi cô ấy là một kỳ nghỉ của riêng mình. Không nghi ngờ gì, tôi sẽ nhớ cô ấy, tất cả chúng ta sẽ nhớ cô ấy, Chúa phù hộ bạn, công chúa Grace.

Chồng của Kellly, Rainier không tái hôn, được chôn cạnh vợ sau khi qua đời năm 2005.[21]

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa đề Vai Đạo diễn Bạn diễn
1951 Fourteen Hours Louise Ann Fuller Henry Hathaway Paul Douglas, Richard Basehart, Barbara Bel Geddes
1952 High Noon Amy Fowler Kane Fred Zinnemann Gary Cooper, Katy Jurado, Lloyd Bridges, Thomas Mitchell
1953 Mogambo Linda Nordley John Ford Clark Gable, Ava Gardner
1954 Dial M for Murder Margot Mary Wendice Alfred Hitchcock Ray Milland, Robert Cummings, John Williams
Rear Window Lisa Carol Fremont Alfred Hitchcock James Stewart, Wendell Corey, Thelma Ritter, Raymond Burr
The Country Girl Georgie Elgin George Seaton Bing Crosby, William Holden
Green Fire Catherine Knowland Andrew Marton Stewart Granger
The Bridges at Toko-Ri Nancy Brubaker Mark Robson William Holden, Fredric March, Mickey Rooney, Earl Holliman
1955 To Catch a Thief Frances Stevens Alfred Hitchcock Cary Grant
1956 The Swan Princess Alexandra Charles Vidor Alec Guinness, Louis Jourdan
High Society Tracy Samantha Lord Charles Walters Bing Crosby, Frank Sinatra, Celeste Holm

Danh sách đĩa hát[sửa | sửa mã nguồn]

  • "True Love" (trong phim High Society, song ca với Bing Crosby, 1956)
  • L'Oiseau du Nord et L'Oiseau du Soleil, bằng tiếng Pháp và tiếng Anh (1978)
  • Birds, Beasts & Flowers: A Programme of Poetry, Prose and Music (1980)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “1954 Academy Awards: Winners and History”. AMC Filmsite. 
  2. ^ Buchwald, Art (17 tháng 4 năm 1956). “Grace Kelly Can Retain American Citizenship: Status of Pat Poodle Oliver Not So Clear; His Marriage Could Start Monaco Squabble”. Los Angeles Times. 
  3. ^ “High Society (washingtonpost.com)”. www.washingtonpost.com. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2016. 
  4. ^ Jacobs, Laura. “Grace Kelly's Forever Look”. 
  5. ^ a ă â Leigh 2007
  6. ^ Department of Records. “Margarethe M. Majer, 13 Dec 1898; "Pennsylvania, Philadelphia City Births, 1860-1906". FamilySearch. tr. 378. 
  7. ^ a ă â b “Margaret Majer Kelly (1899 -1990)”. University of Pennsylvania. 
  8. ^ Kaplan, Tracey (8 tháng 1 năm 1990). “Margaret Kelly, 91; Princess Grace's Mother, Head of Influential Family”. Los Angeles Times. 
  9. ^ Kaplan, Tracey (ngày 8 tháng 1 năm 1990). “Margaret Kelly, 91; Princess Grace's Mother, Head of Influential Family”. Los Angeles Times. 
  10. ^ Spoto, Donald; Forshaw, Barry (28 tháng 5 năm 2009). “Grace Kelly and Hollywood by Donald Spoto”. The Times (UK). Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2010. Born in 1929 and raised by stiff-necked Catholic parents in Philadelphia … Philadelphia convent girl (always remaining Roman Catholic) ... 
  11. ^ a ă â b c d Jacobs, Laura (tháng 5 năm 2010). “Grace Kelly's Forever Look”. Vanity Fair. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2010. 
  12. ^ Spoto, Donald (2009). High Society: The Life of Grace Kelly. Harmony. tr. 22. ISBN 0-307-39561-8. 
  13. ^ Leigh 2007, tr. 26
  14. ^ Tham khảo:
    • Establishing the age and marque of the car: “1982: Hollywood princess dead”. BBC News. 14 tháng 9 năm 1982. Sau khi văng ra khỏi đường, chiếc xe Rover 10 năm tuổi của bà đã trượt 100 ft (30.5 m) xuống một khe núi... 
    • Establishing the model: Parish, James Robert (2002). The Hollywood Book of Death: The Bizarre, Often Sordid, Passings of More than 125 American Movie and TV Idols . McGraw Hill. tr. 23. ISBN 978-0-07-178476-4. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2014. Sau khi chất hành lý và phục trang để thay đổi lên chiếc Rover 3500 của mình, tài xế riêng của bà được thông báo rằng lúc này không có chỗ của anh ta trên xe, thay vào đó bà sẽ tự lái. 
    • Establishing the platform: Gerard, Jasper (24 tháng 1 năm 2011). “Classic Rover P6 review”. The Telegraph (London, UK). Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2014. Luôn có chút đáng ngại khi một chiếc xe hơi được nhớ đến nhiều nhất với một tai nạn bi thảm, nhưng than ôi như vậy là số phận P6; là những gì lúc Grace Kelly đang lái xe khi bà phóng trên con đường đắp dọc bờ biển ở Monaco. 
  15. ^ Werner, Jennifer (2014). Grace Kelly of Monaco: The Inspiring Story of How An American Film Star Became a Princess. BookCaps Study Guides. tr. 40–44. ISBN 9781629172484. 
  16. ^ “US Gazetteer files: 2010, 2000, and 1990”. United States Census Bureau. 12 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2011. 
  17. ^ Vinocur, John (17 tháng 9 năm 1982). “Princess Stricken Before Crash, Doctors Say”. New York Times. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2014. 
  18. ^ Leigh, Wendy (2007). True Grace: The Life and Death of an American Princess. New York, NY: Thomas Dunne Books. tr. 245. ISBN 978-0-312-34236-4. 
  19. ^ “BBC On This Day September 14th 1982”. BBC News. 14 tháng 9 năm 1985. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2010. 
  20. ^ “Death of Princess Grace – history – central”. British Council. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2010. 
  21. ^ “Monaco Cathedral”. Service Informatique du Ministère d'Etat (Monaco Minister of State Information Service). 28 tháng 7 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2010. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

House of Grimaldi
Trống
Danh hiệu cuối cùng được tổ chức bởi
Ghislaine Dommanget
Princess consort of Monaco
1956–1982
Trống
Danh hiệu tiếp theo được tổ chức bởi
Charlene Wittstock
Tước hiệu Hoàng gia
Tiền vị
Ghislaine Marie Françoise Dommanget
Hoàng hậu Monaco
1956 - 1982
Trống
Giải thưởng và thành tích
Giải Oscar
Tiền nhiệm:
Audrey Hepburn
cho Roman Holiday
Nữ chính xuất sắc nhất
1954
cho The Country Girl
Kế nhiệm:
Anna Magnani
cho The Rose Tattoo
Giải Quả cầu vàng
Tiền nhiệm:
Katy Jurado
cho High Noon
Nữ phụ xuất sắc nhất
1954
cho Mogambo
Kế nhiệm:
Jan Sterling
cho The High and the Mighty
Tiền nhiệm:
Audrey Hepburn
cho Roman Holiday
Nữ diễn viên phim chính kịch xuất sắc nhất
1955
cho The Country Girl
Kế nhiệm:
Anna Magnani
cho The Rose Tattoo
Giải NBR
Tiền nhiệm:
Jean Simmons
cho The Actress; The Robe; Young Bess
Nữ chính xuất sắc
1954
cho The Country Girl
Kế nhiệm:
Anna Magnani
cho The Rose Tattoo
Giải NYFCC
Tiền nhiệm:
Audrey Hepburn
cho Roman Holiday
Nữ diễn viên xuất sắc nhất
1954
cho The Country Girl
Kế nhiệm:
Anna Magnani
cho The Rose Tattoo