Grenadier

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Grenadier (/ˌɡrɛnəˈdɪər/, phát âm tiếng Pháp: [ɡʁə.na.dje]), hoặc Granatier, là một nhánh của binh chủng bộ binh các nước Châu Âu từ thế kỉ 17 đến 19. Trong tài liệu tiếng Việt, thuật ngữ này thường được dịch là lính ném lựu đạn hoặc lính phóng lựu. Trong thời kỳ phổ biến của nó, thuật ngữ này gợi đến khái niệm những người lính to cao và dũng cảm nhất trong quân đội, giữ vai trò ném lựu đạn công phá vào các vị trí phòng thủ của đối phương. Ngày nay trong ngôn ngữ phương Tây, từ Grenadier thường được dùng để chỉ những người lính thuộc lực lượng tinh nhuệ, bởi xét theo nguồn gốc thì đây là những chiến sĩ được tuyển chọn kỹ càng về sức khoẻ và chiều cao cũng như lòng dũng cảm.

Grenadier of the Old Guard c.1812 by Édouard Detaille

Từ nguyên Grenadier vốn xuất phát từ "grenade" (lựu đạn), ban đầu là những người lính được đào tạo chuyên dụng để ném lựu đạn và đôi khi tham gia tấn công. Lúc đó, những Grenadiers được tuyển chọn từ những người cao nhất và dũng cảm nhất trong quân đội. Đến thế kỷ 18, những người lính Grenadiers này không còn phù hợp với chiến thuật nữa, nhưng tên gọi Grenadiers vẫn còn được dùng để chỉ những người được đào tạo kĩ nhất về sức mạnh và kỹ thuật để dẫn đầu những cuộc xung phong qua các chiến trường. Grenadiers nhiều khi cũng chỉ huy những cuộc tấn công vào công sự của đối phương trong các cuộc bao vây, mặc dù vị trí này đã có sẵn những binh sĩ xung kích như cảm tử quân (forlorn hopes), công binh chiến đấu (sappers) hoặc lính xung kích (pionner).

Cá biệt, tại một số quốc gia như Pháp còn có quân đoàn "kỵ binh ném lựu đạn của quân đoàn hoàng gia" (Grenadiers à Cheval de la Garde Impériale) và Argentina với quân đoàn Regiment of Mounted Grenadiers, hay Đế quốc Anh với lực lượng Horse Grenadier Guards (Quân đoàn Kỵ Binh Lựu Đạn Hoàng Gia). Cũng như những người lính bộ binh, những kỵ binh cũng được lựa chọn dựa trên sức khỏe và thể hình của cả người và ngựa (thường sẽ đến từ lực lượng heavy calvalry).

Ngày này, tên gọi này còn dùng để chỉ những người lính được trang bị súng phóng lựu.

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

17th century grenadier throwing a hand grenade. The concept of throwing grenades made its way to Europe during the mid-17th century.

‎Khái niệm ném lựu đạn có thể quay trở lại ‎‎nhà Minh ,‎‎khi những người lính Trung Quốc trên ‎‎Vạn Lý Trường Thành‎‎ được cho là đang sử dụng vũ khí này ‎‎(Thunder Crash Bomb).‎‎ Các tài liệu tham khảo sớm nhất về những người lính ném lựu đạn trong quân đội phương Tây đến từ Áo và Tây Ban Nha. Các tài liệu tham khảo cũng xuất hiện ở Anh trong ‎‎cuộc nội chiến Anh.‎‎ Tuy nhiên, đó là dưới triều đại của Louis XIV, các đại đội của binh sĩ phục vụ như grenadiers lần đầu tiên được đưa vào quân đội Pháp. ‎‎ Theo René Chartrand, Trung tá ‎‎Jean Martinet‎‎ đã thành lập một công ty grenadier ở ‎‎Régiment du Roi‎‎ vào năm 1667. ‎

‎Bộ binh của các tỉnh Thống nhất Hà Lan, bị ảnh hưởng bởi những kẻ xâm lược Pháp của họ, đã nhận quản lý grenadiers vào năm 1672. Đến năm 1678, sáu người đàn ông trong mỗi đại đội được huấn luyện để ném lựu đạn cầm tay, được phát triển bởi nghệ sĩ pháo hoa bậc thầy người Hà Lan Johan van Haren. ‎

‎Vào tháng 5 năm 1677, Quân đội Anh ra lệnh cho hai binh sĩ của mỗi Trung đoàn Vệ binh phải được huấn luyện như grenadiers; vào tháng 4 năm 1678, người ta ra lệnh bổ sung một đại đội grenadiers vào tám trung đoàn cao cấp của quân đội. ‎‎ Vào ngày 29 tháng 6 năm đó, nhà văn ‎‎John Evelyn‎‎ đã nhìn thấy họ khoan tại một trại ở Hounslow, gần London: ‎

‎Bây giờ được đưa vào phục vụ một loại người lính mới gọi là Grenadiers, những người khéo léo trong việc ném tay grenadoes, mỗi người có một túi đầy; họ có mũ lông với vương miện đối phó như ‎‎Janizaries,‎‎khiến họ trông rất dữ tợn, và một số có mũ trùm đầu dài treo phía sau, như chúng ta hình dung ‎‎những kẻ ngốc‎‎. Quần áo của họ cũng được piebald, vàng và đỏ. ‎

‎Lựu đạn[sửa | sửa mã nguồn]

‎Những quả lựu đạn đầu tiên là những quả cầu sắt nhỏ chứa đầy ‎‎thuốc súng‎‎ hợp nhất với chiều dài của dây cháy chậm, gần bằng kích thước của một quả ‎‎bóng tennis‎‎. Grenadiers phải đủ cao và đủ mạnh để ném những vật nặng này đủ xa để không làm hại bản thân hoặc đồng đội của họ, và đủ kỷ luật để đứng ở vị trí hàng đầu trong cuộc chiến, thắp ngòi nổ và ném vào thời điểm thích hợp để giảm thiểu khả năng ném lựu đạn của kẻ thù trở lại. Có thể hiểu được, những yêu cầu như vậy đã dẫn đến grenadiers được coi là một lực lượng chiến đấu ưu tú.‎

Thế kỉ 17[sửa | sửa mã nguồn]

Thế kỷ 17, lính ném lựu đạn được tổ chức thành các đơn vị. Họ có nhiệm vụ ném lựu đạn vào thành lũy đối phương. Được tuyển chọn vào các đơn vị này thường là những người cao lớn và dũng cảm.

Thế kỉ 18 và 19[sửa | sửa mã nguồn]

Mũ lính phóng lựu Phổ thế kỷ 18.

Thời kì này các đơn vị lính ném lựu đạn không còn thực sự cần thiết nữa, nhưng các đơn vị lính ném lựu vẫn tồn tại. Tuy không còn làm nhiệm vụ ném lựu đạn, nhưng nhờ sức khỏe và chiều cao họ trở thành tiền thân của bộ đội xung kích trên chiến trường.

Thuật ngữ "lính phóng lựu" đã được sử dụng làm danh xưng một đơn vị xung kích tinh nhuệ thế kỷ 18-19, tiêu biểu như Trung đoàn Phóng lựu Potsdam của Phổ, Trung đoàn Phóng lựu Sardegna tại Ý, Trung đoàn Bộ binh Phóng lựu (Foot Grenadiers), Trung đoàn Biệt kích Phóng lựu (Fusilier-Grenadiers), Trung đoàn Khinh binh Phóng lựu (Tirailleur-Grenadiers) và Trung đoàn Thiết kỵ Cận vệ Đế chế (Grenadiers à Cheval de la Garde Impériale), Trung đoàn Cận vệ Đế chế của Nga hoàng, Trung đoàn Cận vệTrung đoàn Phóng lựu 101 Anh. Trung đoàn Phóng lựu 101 là lực lượng trực thuộc quân đội Ấn Độ thuộc Anh, và được xem là trung đoàn "phóng lựu" cổ nhát trong đế quốc Anh. Vào năm 1747 các đại đội phóng lựu thuộc một số trung đoàn Pháp bị giải thể đã được trộn lại thành Trung đoàn Phóng lựu Pháp (Grenadiers de France).

Trong cách mạng Mỹ năm 1775-1783, quân khởi nghĩa 13 thuộc địa Bắc Mỹ cũng thành lập một số đơn vị "phóng lựu" tham gia chiến đấu.

Tại Mexico Antonio López de Santa Anna đã dùng từ "phóng lựu" để đặt danh hiệu cho Trung đoàn Cận vệ Nguyên thủ tối cao vào ngày 7 tháng 12 năm 1841. Đơn vị này tồn tại đến năm 1847.[1]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ p.42 Chartrand, Rene Santa Anna's Mexican Army 1821-48 Osprey Publishing, 25/03/2004