Hà Nội
|
Hà Nội
|
|||
|---|---|---|---|
| Thành phố trực thuộc trung ương | |||
Biểu trưng | |||
Quang cảnh thành phố nhìn từ cầu Nhật Tân | |||
| Hành chính | |||
| Quốc gia | |||
| Vùng | Đồng bằng sông Hồng (địa lý) Vùng thủ đô Hà Nội (đô thị) | ||
| Trụ sở UBND | Số 79, phố Đinh Tiên Hoàng, phường Hoàn Kiếm | ||
| Phân chia hành chính | 51 phường, 75 xã | ||
| Trung tâm hành chính | phường Hoàn Kiếm | ||
| Thành lập |
| ||
| Loại đô thị | Loại đặc biệt | ||
| Đại biểu Quốc hội | 30 | ||
| Tổ chức lãnh đạo | |||
| Chủ tịch UBND | Vũ Đại Thắng | ||
| Hội đồng nhân dân | 95 đại biểu | ||
| Chủ tịch HĐND | Phùng Thị Hồng Hà | ||
| Chủ tịch UBMTTQ | Bùi Huyền Mai | ||
| Chánh án TAND | Nguyễn Xuân Kỳ | ||
| Viện trưởng VKSND | Đào Thịnh Cường | ||
| Bí thư Thành ủy | Nguyễn Duy Ngọc | ||
| Địa lý | |||
| Tọa độ: 21°01′42″B 105°51′12″Đ / 21,028333°B 105,853333°Đ | |||
| |||
| Diện tích | 3.359,82 km²[1][2] | ||
| Dân số (31/12/2024) | |||
| Tổng cộng | 8.807.523 người | ||
| Mật độ | 2.621 người/km² | ||
| Kinh tế (2022) | |||
| GRDP | 1.195.989 tỉ đồng (50.99 tỉ USD) | ||
| GRDP đầu người | 141,8 triệu đồng (6.093 USD) | ||
| Khác | |||
| Mã địa lý | VN-HN | ||
| Mã hành chính | 01[3] | ||
| Mã bưu chính | 10000 – 14000 | ||
| Mã điện thoại | 24 | ||
| Biển số xe | 29, 30, 31, 32, 33, 40 | ||
| Website | hanoi | ||
Hà Nội là thủ đô của Việt Nam và là thành phố trực thuộc trung ương của Việt Nam lớn thứ 2 về quy mô dân số. Nó nằm về phía Tây Bắc của trung tâm đồng bằng sông Hồng, với địa hình bao gồm vùng đồng bằng trung tâm và vùng đồi núi ở phía Bắc và phía Tây thành phố. Với diện tích 3.359,82 km²,[1] và dân số xấp xỉ 8,8 triệu người, nó là thành phố trực thuộc trung ương có diện tích lớn thứ 5 tại Việt Nam, và là thành phố đông dân thứ 2 và có mật độ dân số cao nhất trong 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh của Việt Nam. Nó có 126 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 51 phường và 75 xã.
Hà Nội có chỉ số phát triển con người dẫn đầu trong số các đơn vị hành chính của Việt Nam. Năm 2019, nó là đơn vị hành chính Việt Nam xếp thứ 2 về tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), xếp thứ 8 về GRDP bình quân đầu người và đứng thứ 41 về tốc độ tăng trưởng GRDP. UNESCO trao tặng Hà Nội danh hiệu "Thành phố vì hòa bình" vào ngày 16 tháng 7 năm 1999 và công nhận khu Hoàng thành Thăng Long là di sản văn hóa thế giới.
Tên
Tên "Hà Nội" được dùng làm địa danh ở Việt Nam từ năm Minh Mạng thứ 12 (1831) khi có 1 tỉnh có tên là tỉnh Hà Nội được thành lập ở Bắc Thành. "Hà Nội" viết bằng chữ Hán là "河內", nghĩa là "bao quanh bởi các con sông", tên này phản ánh vị trí địa lý của tỉnh Hà Nội. Tỉnh này nằm giữa 2 sông là sông Nhị ở phía Đông Bắc và sông Thanh Quyết ở phía Tây Nam.[4][5]
Tỉnh Hà Nội gồm 4 phủ là Hoài Đức, Thường Tín, Ứng Hoà và Lý Nhân. Toà thành nơi có đặt trị sở của tỉnh Hà Nội, tức tỉnh lị của tỉnh Hà Nội, được gọi là thành Hà Nội theo tên tỉnh. Thành Hà Nội nằm trên địa phận 2 huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận, đều thuộc phủ Hoài Đức.[6] Ngày 1 tháng 10 năm 1888, vua Đồng Khánh ký chỉ dụ cắt toàn bộ huyện Thọ Xương và 1 phần huyện Vĩnh Thuận của tỉnh Hà Nội làm nhượng địa cho Pháp để Pháp thành lập thành phố Hà Nội.[7][8] Trước đó, ngày 19 tháng 7, tổng thống Pháp Marie François Sadi Carnot ký sắc lệnh thành lập thành phố Hà Nội trước khi có sự công nhận của Triều đình Việt Nam.[7] Năm 1890, phủ Lý Nhân bị tách khỏi tỉnh Hà Nội, đổi thành tỉnh Hà Nam.[8]
Năm 1896, tỉnh lị của tỉnh Hà Nội dời ra làng Cầu Đơ thuộc tổng Thanh Oai Thượng, huyện Thanh Oai. Để tránh trùng tên với thành phố Hà Nội, năm 1902, tỉnh Hà Nội được đổi tên thành tỉnh Cầu Đơ theo tên của tỉnh lị. Ngày 6 tháng 12 năm 1904, quan toàn quyền Đông Dương ra nghị định đổi tên tỉnh Cầu Đơ và tỉnh lị của tỉnh này thành "Hà Đông". Tên gọi "Hà Đông" là do quan đốc học tỉnh Cầu Đơ Vũ Phạm Hàm đề xuất, lấy từ 1 câu nói của Lương Huệ Vương được ghi trong sách Mạnh Tử là "河內凶,則移其民於河東,移其粟於河內" (âm Hán Việt: Hà Nội hung, tắc di kỳ dân ư Hà Đông, di kỳ túc ư Hà Nội), có nghĩa là Hà Nội bị mất mùa thì chuyển dân ở Hà Nội sang Hà Đông, chuyển lương thực ở Hà Đông sang Hà Nội. "Hà Nội" trong câu nói trên của Lương Huệ Vương là chỉ vùng phía Bắc sông Hoàng Hà, còn "Hà Đông" là chỉ vùng phía Đông sông Hoàng Hà, thuộc Tây Nam Bộ tỉnh Sơn Tây của Trung Quốc sau này.[8]
Địa lý
Vị trí và lãnh thổ
Hà Nội nằm về phía Tây Bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, trong phạm vi từ 20°34' đến 21°18' vĩ độ Bắc và từ 105°17' đến 106°02' kinh độ Đông, có vị trí địa lý:
- Phía đông giáp tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Hưng Yên
- Phía tây giáp tỉnh Phú Thọ
- Phía nam giáp tỉnh Ninh Bình
- Phía bắc giáp tỉnh Thái Nguyên.
Hà Nội cách thành phố cảng Hải Phòng 102 km, cách thành phố Nam Định 84 km tạo thành 3 cực chính của Đồng bằng sông Hồng. Nó có diện tích 3.358,6 km²,[9][10] chiếm khoảng 1% diện tích tự nhiên của cả nước, đứng hàng thứ 32 về diện tích trong 34 tỉnh, thành phố ở Việt Nam,[11] và là 1 trong 17 thủ đô có diện tích trên 3000 km².[12]
Các điểm cực của Hà Nội là:
- Điểm cực Bắc tại: thôn Đô Lương, xã Trung Giã.
- Điểm cực Tây tại: thôn Lương Khê, xã Bất Bạt.
- Điểm cực Nam tại: khu danh thắng Hương Sơn, xã Hương Sơn.
- Điểm cực Đông tại: thôn Cổ Giang, xã Thuận An
Địa hình
Đa số diện tích Hà Nội nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng với độ cao trung bình từ 5 đến 20 m so với mực nước biển.[13]

Vùng đồi núi tập trung ở ngoại thành phía Bắc và phía Tây thành phố, thuộc các huyện Sóc Sơn, Thạch Thất, Ba Vì, Quốc Oai và Mỹ Đức, với các đỉnh núi như Ba Vì (1296 m),[14][15] Viên Nam (1031 m),[16] Hàm Lợn (462 m); trong đó đỉnh Ba Vì là điểm cao nhất của thành phố Hà Nội.[17] Khu vực nội thành có 1 số gò đồi như gò Đống Đa, núi Nùng, và núi Sưa.[18]
Thủy văn

Sông Hồng bắt đầu chảy vào Hà Nội ở huyện Ba Vì và ra khỏi thành phố ở khu vực huyện Phú Xuyên tiếp giáp Hưng Yên rồi xuôi về Nam Định. Sông Hồng đoạn chảy qua Hà Nội dài 163 km, chiếm khoảng 1/3 chiều dài của con sông này trên đất Việt Nam. Sông Đà là ranh giới giữa Hà Nội với Phú Thọ, hợp lưu với sông Hồng ở phía Bắc thành phố tại huyện Ba Vì. Trên địa phận Hà Nội có những sông khác như sông Đáy, sông Đuống, sông Cầu, sông Cà Lồ... Các sông chảy trong khu vực nội thành như sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu... là những đường tiêu thoát nước của Hà Nội.[a] Do quá trình đô thị hóa từ năm 1990, phần lớn sông hồ Hà Nội ô nhiễm lên. Theo PGS–TS Trần Đức Hạ – Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Cấp thoát nước và Môi trường thuộc Hội Cấp thoát nước Việt Nam, lượng nước thải chưa qua xử lý xả thẳng ra môi trường quá lớn. Tính riêng trong khu vực nội đô, mỗi ngày lượng nước thải xả thẳng ra hệ thống sông hồ vào khoảng 650.000 m³/ngày (2015). Sông Tô Lịch, trục tiêu thoát nước thải chính của thành phố, hàng ngày tiếp nhận khoảng 250.000 m³ nước thải xả thẳng xuống dòng sông mà không hề qua xử lý. Nó ô nhiễm hơn: nước sông cạn hơn, màu nước đen hơn và bốc mùi khác. Với chiều dài gần 20 km chảy qua địa bàn thủ đô, 1 số khúc của sông Nhuệ nước đen kịt hơn và đặc quánh hơn.[19] Sông Kim Ngưu nhận khoảng 125.000 m³ nước thải sinh hoạt mỗi ngày. Sông Lừ và sông Sét trung bình mỗi ngày đổ vào sông Kim Ngưu khoảng 110.000 m³. Các sông mương nội và ngoại thành, ngoài vai trò tiêu thoát nước còn nhận thêm 1 phần rác thải của người dân và chất thải công nghiệp. Những làng nghề thủ công cũng góp phần vào gây nên tình trạng ô nhiễm hơn này.[20]
Khí hậu

Dựa theo Phân loại khí hậu Köppen, trang web ClimaTemps.com xếp Hà Nội mang khí hậu cận nhiệt đới ẩm với mã Cwa.[21]
Nhiệt độ trung bình mùa đông của thành phố từ tháng 11 đến tháng 3 không vượt quá 22 °C, với tháng lạnh nhất là tháng 1 với nhiệt độ trung bình 16,4 °C, lúc thấp xuống tới 2,7 °C. Nhiệt độ trung bình mùa hạ của Hà Nội từ tháng 5 đến tháng 9 vượt 27 °C, với tháng nóng nhất là tháng 7 với nhiệt độ trung bình đạt 29,2 °C, lúc cao nhất lên tới 42,8 °C. Nhiệt độ trung bình cả năm là 23,6 °C, lượng mưa trung bình hàng năm vào mức 1.500mm đến 1.900mm. Vào tháng 5 năm 1926, nhiệt độ tại thành phố được ghi lại ở mức kỷ lục 42,8 °C. Tháng 1 năm 1955, nhiệt độ xuống mức thấp nhất, 2,7 °C do chịu ảnh hưởng của La Niña. Vào tháng 6 năm 2017, ảnh hưởng bởi El Niño trên thế giới, Hà Nội có nhiệt độ lên tới 42,5 °C, là nhiệt độ kỷ lục ghi nhận trong lịch sử. Do chịu ảnh hưởng của hiệu ứng đô thị và là vùng khí hậu có độ ẩm cao hơn nên những đợt nắng nóng hơn, nhiệt độ cảm nhận thực tế cao hơn mức đo đạc, có thể lên tới 50 °C. Nơi có tuyết vào mùa đông ở Hà Nội là đỉnh núi Ba Vì ngày 24 tháng 1 năm 2016 với mức nhiệt đo được là 0 °C.[22]
| Dữ liệu khí hậu của Hà Nội | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tháng | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | Năm |
| Cao kỉ lục °C (°F) | 33.1 (91.6) |
35.1 (95.2) |
37.2 (99.0) |
38.9 (102.0) |
42.8 (109.0) |
42.5 (108.5) |
40.8 (105.4) |
38.7 (101.7) |
37.1 (98.8) |
36.6 (97.9) |
35.5 (95.9) |
31.9 (89.4) |
42.8 (109.0) |
| Trung bình ngày tối đa °C (°F) | 19.7 (67.5) |
20.1 (68.2) |
22.9 (73.2) |
27.2 (81.0) |
31.4 (88.5) |
32.9 (91.2) |
33.1 (91.6) |
32.3 (90.1) |
31.2 (88.2) |
28.8 (83.8) |
25.3 (77.5) |
22.0 (71.6) |
27.2 (81.0) |
| Trung bình ngày °C (°F) | 16.4 (61.5) |
17.2 (63.0) |
20.0 (68.0) |
23.9 (75.0) |
27.4 (81.3) |
28.9 (84.0) |
29.2 (84.6) |
28.6 (83.5) |
27.5 (81.5) |
24.9 (76.8) |
21.5 (70.7) |
18.2 (64.8) |
23.6 (74.5) |
| Tối thiểu trung bình ngày °C (°F) | 14.3 (57.7) |
15.3 (59.5) |
18.1 (64.6) |
21.7 (71.1) |
24.6 (76.3) |
26.1 (79.0) |
26.3 (79.3) |
26.0 (78.8) |
24.9 (76.8) |
22.3 (72.1) |
18.9 (66.0) |
15.6 (60.1) |
21.2 (70.2) |
| Thấp kỉ lục °C (°F) | 2.7 (36.9) |
5.0 (41.0) |
7.0 (44.6) |
9.8 (49.6) |
15.4 (59.7) |
20.0 (68.0) |
21.0 (69.8) |
20.9 (69.6) |
16.1 (61.0) |
12.4 (54.3) |
6.8 (44.2) |
3.6 (38.5) |
2.7 (36.9) |
| Lượng mưa trung bình mm (inches) | 18 (0.7) |
19 (0.7) |
34 (1.3) |
105 (4.1) |
165 (6.5) |
266 (10.5) |
253 (10.0) |
274 (10.8) |
243 (9.6) |
156 (6.1) |
59 (2.3) |
20 (0.8) |
1.611 (63.4) |
| Số ngày mưa trung bình | 10.3 | 12.4 | 16.0 | 14.4 | 14.5 | 14.6 | 15.6 | 16.9 | 13.6 | 10.9 | 7.9 | 5.0 | 152.1 |
| Độ ẩm tương đối trung bình (%) | 80.9 | 83.4 | 87.9 | 89.4 | 86.5 | 82.9 | 82.2 | 85.9 | 87.2 | 84.2 | 81.9 | 81.3 | 82.0 |
| Số giờ nắng trung bình tháng | 74 | 47 | 47 | 90 | 183 | 172 | 195 | 174 | 176 | 167 | 137 | 124 | 1.585 |
| Nguồn 1: Vietnam Institute for Building Science and Technology[23] | |||||||||||||
| Nguồn 2: Pogoda.ru.net (cực độ),[24] (Kỷ lục nhiệt độ cao nhất tháng 5 năm 1926, thấp nhất tháng 1 năm 1955),[25] | |||||||||||||
Môi trường

Hà Nội có những ngày là thành phố ô nhiễm không khí nhất thế giới, với chỉ số bụi mịn ở mức "nguy hiểm cho sức khỏe con người".[26][27][28][29] Theo Báo cáo chất lượng không khí toàn cầu 2018, Hà Nội có hàm lượng bụi mịn cao gấp 4 lần mức khuyến cáo của WHO (40,8 mg/m³, mức khuyến cáo: 10 mg/m³).[30][31] Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam thì Hà Nội là thành phố ô nhiễm không khí nhất với số ngày chất lượng không khí lên mức kém, xấu, nguy hại chiếm tỷ lệ cao.[30][32] 1 số sông chảy qua Hà Nội (sông Nhuệ, sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, sông Lừ, sông Sét) và các hồ ô nhiễm "rất nặng" do 78% nước thải của Hà Nội xả thẳng trực tiếp ra sông, hồ mà không qua xử lý, trong đó mỗi sông của Hà Nội tiếp nhận hàng vạn m³ nước thải đổ vào mỗi ngày.[33][34][35]
Lịch sử
Tiền Thăng Long
Những di chỉ khảo cổ tại Cổ Loa cho thấy con người đã xuất hiện ở khu vực Hà Nội từ cách đây 2 vạn năm, giai đoạn của nền văn hóa Sơn Vi. Nhưng đến thời kỳ băng tan, biển tiến sâu vào đất liền, các cư dân của thời đại đồ đá mới bị đẩy lùi lên vùng núi. Tới khoảng 4 hoặc 5 ngàn năm trước Công Nguyên, con người quay lại sinh sống ở đây. Các hiện vật khảo cổ giai đoạn tiếp theo, từ đầu thời đại đồ đồng đến đầu thời đại đồ sắt, minh chứng cho sự hiện diện của Hà Nội ở 4 thời đại văn hóa: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun và Đông Sơn.[36] Những cư dân Hà Nội thời kỳ đó sinh sống nhờ trồng trọt, chăn nuôi và chài lưới. Thế kỷ III TCN, trong cuộc chiến với quân Tần từ phương Bắc, Thục Phán quyết định đóng đô ở Cổ Loa, cách trung tâm Hà Nội khoảng 15 km. Sự xuất hiện của thành Cổ Loa ghi dấu Hà Nội lần đầu tiên trở thành 1 đô thị trung tâm về chính trị và xã hội.[36]
Thất bại của Thục Phán đầu thế kỷ II TCN đã kết thúc giai đoạn độc lập của Âu Lạc, bắt đầu giai đoạn 1000 năm do các triều đại phong kiến Trung Hoa thống trị. Thời kỳ nhà Hán, Âu Lạc cũ được chia thành 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam, Hà Nội khi đó thuộc quận Giao Chỉ. Vắng bóng trong sử sách suốt 5 thế kỷ đầu, đến khoảng năm 454–456 thời Lưu Tống, Hà Nội được ghi lại là trung tâm của huyện Tống Bình.[37] Năm 226 Nhà Hán khi cai trị Giao Châu đã đổi tên Tống Bình thành Long Uyên (hoặc Long Biên). Năm 544, Lý Bí nổi dậy chống lại nhà Lương, tự xưng hoàng đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Uyên. Người cháu của Lý Bí là Lý Phật Tử tới đóng đô ở Cổ Loa, nền độc lập này kéo dài tới năm 602. Thời kỳ Nhà Đường, An Nam được chia thành 12 châu với 50 huyện, Long Uyên lại được đổi thành Tống Bình, là trung tâm của An Nam đô hộ phủ. Năm 866, viên tướng nhà Đường Cao Biền xây dựng 1 thành trì mới, Tống Bình được đổi tên thành "Đại La" – thủ phủ của Tĩnh Hải quân. Theo truyền thuyết, khi đắp thành, Cao Biền thấy 1 vị thần hiện lên tự xưng là thần Long Đỗ. Vì vậy, sử sách còn gọi Thăng Long là đất "Long Đỗ".[38] Thế kỷ X, sau chiến thắng của Ngô Quyền trước quân Nam Hán, Cổ Loa lần nữa trở thành kinh đô của nước Việt.[36]
Thăng Long, Đông Đô, Đông Quan, Đông Kinh

Sau khi lên ngôi năm 1009 tại Hoa Lư, năm 1010, Lý Thái Tổ quyết định dời đô về Đại La. Theo 1 truyền thuyết, khi tới Đại La, Lý Thái Tổ nhìn thấy 1 con rồng bay lên, vì vậy đặt tên kinh thành mới là "Thăng Long". Kinh thành Thăng Long khi đó giới hạn bởi 3 con sông: sông Hồng ở phía Đông, sông Tô phía Bắc và sông Kim Ngưu phía Nam. Khu hoàng thành được xây dựng gần hồ Tây với cung điện hoàng gia cùng các công trình chính trị. Phần còn lại của đô thị là những khu dân cư, bao gồm các phường nông nghiệp, công nghiệp và thương nghiệp. Trong thế kỷ X, những công trình tôn giáo được xây dựng là chùa Diên Hựu phía Tây hoàng thành xây năm 1049, chùa Báo Thiên xây năm 1057, Văn Miếu xây năm 1070, Quốc Tử Giám dựng năm 1076. Sau 1 thế kỷ, Thăng Long trở thành trung tâm văn hóa, chính trị và kinh tế của quốc gia.[39]
Nhà Trần nối bước nhà Lý cai trị Đại Việt, coi Thăng Long là kinh đô thứ 1 và Thiên Trường là kinh đô thứ 2, nơi các Thượng hoàng ở. Kinh thành Thăng Long tiếp tục được xây dựng. Hoàng thành được củng cố và xuất hiện thêm những cung điện. Năm 1230, Thăng Long được chia thành 61 phường, kinh thành đông đúc hơn trong khi địa giới không thay đổi. Giai đoạn này ghi nhận sự xuất hiện của những cư dân người Hoa, người Java và người Ấn Độ. Nền kinh tế công thương nghiệp sản sinh tầng lớp thị dân và Thăng Long là nơi quy tụ của 1 số học giả như Hàn Thuyên, Lê Văn Hưu và Chu Văn An. Trong cuộc chiến tranh với nhà Nguyên, kinh thành Thăng Long 3 lần bị chiếm giữ rồi đều kết thúc trong chiến thắng của Đại Việt.[40] Thế kỷ XIV, 1 quý tộc ngoại thích là Hồ Quý Ly thâu tóm quyền lực, ép vua Trần dời kinh đô về Thanh Hóa. Khi Hồ Quý Ly chính thức lên ngôi, lập nên nước Đại Ngu năm 1400, kinh đô mới mang tên Tây Đô, Thăng Long được đổi thành "Đông Đô". Năm 1406, nhà Minh đưa quân xâm lược Đại Ngu, Thăng Long bị chiếm đóng và đổi tên thành "Đông Quan". Thời kỳ Bắc thuộc thứ 4 bắt đầu từ năm 1407 và kéo dài tới năm 1428.[41] 1 số nho sĩ và người dân Thăng Long thời ấy tự nhận Thăng Long là "Tràng An", mang ý nghĩa "bình yên lâu dài" hoặc "phồn thịnh mãi mãi".[42] 1 số nhà nghiên cứu cho rằng Tràng An là để chỉ vùng đất của Ninh Bình chứ không phải Thăng Long.[43]


Sau chiến thắng của khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Lợi thành lập nhà Lê và Đông Đô lấy lại vị thế kinh thành. Năm 1430, thành phố được đổi tên thành "Đông Kinh", đến 1466 được gọi là phủ Trung Đô. Hoàng thành Thăng Long dưới thời nhà Lê tiếp tục được mở rộng. Bên cạnh, khu vực dân cư được chia thành 2 huyện Vĩnh Xương và Quảng Đức, mỗi huyện 18 phường. Thời kỳ này, đứng đầu bộ máy hành chính là chức Phủ doãn. Thành phố tiếp tục thời kỳ của những phường hội buôn bán, và bị hạn chế bởi tư tưởng ức thương của nhà Lê. Trong giai đoạn tranh giành quyền lực giữa nhà Lê, nhà Mạc và chúa Trịnh, Thăng Long vẫn duy trì vị trí kinh đô. Nhờ nền kinh tế hàng hóa và sự phát triển của ngoại thương, đô thị Thăng Long thu hút thêm cư dân tới sống. Giai đoạn này có tên gọi khác là "Kẻ Chợ". Nhà truyền giáo người Pháp Alexandre de Rhodes ước tính dân số Thăng Long khi đó khoảng 1 triệu người. William Dampier, nhà phiêu lưu người Anh, đưa ra con số khoảng 2 vạn nóc nhà.[44]

Mùa hè năm 1786, quân Tây Sơn tiến ra miền Bắc lật đổ chính quyền chúa Trịnh, chấm dứt 2 thế kỷ chia cắt Đàng Trong – Đàng Ngoài. Sau khi Nguyễn Huệ cùng quân Tây Sơn quay về miền Nam, năm 1788, nhà Thanh đưa quân xâm lược Đại Việt. Tại Phú Xuân, Nguyễn Huệ lên ngôi ngày 22 tháng 12 năm 1788 rồi đưa quân ra Bắc. Sau chiến thắng ở trận Ngọc Hồi – Đống Đa, nhà Tây Sơn trị vì Đại Việt với kinh đô mới ở Phú Xuân. Hoàng đế Quang Trung đổi tên Thăng Long thành "Bắc Thành".[45]

Năm 1831, trong cuộc cải cách hành chính của Minh Mạng, toàn quốc được chia thành 29 tỉnh, Thăng Long thuộc tỉnh "Hà Nội".[46] Với hàm nghĩa "nằm trong sông", tỉnh Hà Nội khi đó gồm 4 phủ, 15 huyện, nằm giữa sông Hồng và Sông Đáy.[47]

Năm 1848, vua Tự Đức cho phá dỡ các cung điện thời nhà Hậu Lê còn lại trong thành, những đồ chạm khắc mỹ thuật bằng gỗ, đá đều đưa về Huế để trang trí các cung điện trong đó, sót lại đôi rồng đá ở điện Kính Thiên.[48]
Nền kinh tế Hà Nội nửa đầu thế kỷ XIX thay đổi so với Thăng Long trước đó khi các phường, thôn phía Tây và Nam chuyên về nông nghiệp, còn phía Đông, những khu dân cư sinh sống nhờ thương mại, thủ công làm nên bộ mặt của đô thị Hà Nội. Bên cạnh 1 số cửa ô được xây dựng lại, Hà Nội thời kỳ này xuất hiện thêm những công trình tín ngưỡng, tôn giáo như đền Ngọc Sơn, chùa Báo Ân.[46]

Năm 1858, Pháp bắt đầu nổ súng xâm chiếm Đông Dương. Sau khi chiếm 3 tỉnh Đông Nam Kỳ, quân đội Pháp dưới sự chỉ đạo của Francis Garnier tiến đến Hà Nội đầu tháng 11 năm 1873. Khi mà triều đình nhà Nguyễn chủ hòa, dân chúng Hà Nội vẫn tiếp tục chống lại người Pháp dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu. Năm 1884, nhà Nguyễn ký hòa ước công nhận sự bảo hộ của Pháp trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, Hà Nội bước vào thời kỳ thuộc địa.[49]
Năm 1902, Hà Nội trở thành thủ đô của toàn Liên bang Đông Dương.[50] Sau sự quy hoạch của người Pháp, lũy thành thời Nguyễn đã bị triệt hạ, còn lại Cột Cờ, Cửa Bắc với vết đạn năm 1873, Đoan Môn và lan can rồng đá ở trong hoàng thành cũ; đến năm 1897 thì lũy thành hầu như bị phá hủy hoàn toàn.[51] Năm 1901, các công trình phủ Thống sứ, Nhà bưu điện, Kho bạc, Nhà đốc lý, Nhà hát lớn, cầu Long Biên, Ga Hà Nội, những quảng trường, bệnh viện... được xây dựng. Hà Nội có thêm trường đua ngựa, các nhà thờ Cơ Đốc giáo, trường Đại học Y khoa, Đại học Đông Dương, Đại học Mỹ thuật, các trường Cao đẳng Pháp lý, Nông lâm cùng những nhà máy sản xuất rượu bia, diêm, hàng dệt, điện, nước... Khi những nhà tư bản người Pháp tới Hà Nội nhiều hơn, các rạp chiếu phim, nhà hát, khách sạn... dần xuất hiện, những con phố thay đổi để phù hợp với tầng lớp dân cư mới.[49] Vào năm 1921, toàn thành phố có khoảng 4.000 dân châu Âu và 100.000 dân bản địa.[50]
Trong 2 cuộc chiến tranh

Năm 1945, quân đội Pháp quay lại Đông Dương. Sau những thương lượng không thành, Chiến tranh Đông Dương bùng nổ vào tháng 12 năm 1946 và thành phố Hà Nội nằm trong vùng kiểm soát của người Pháp. Sau khi Quốc gia Việt Nam được thành lập năm 1949, Hà Nội được Pháp chuyển giao cho Quốc gia Việt Nam quản lý. Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam khi đó là Bảo Đại đã bổ nhiệm dược sĩ Thẩm Hoàng Tín làm Thị trưởng thành phố.[52] Năm 1954, chiến thắng Điện Biên Phủ giúp Việt Minh kiểm soát toàn bộ miền Bắc Việt Nam, Hà Nội tiếp tục giữ vị trí thủ đô của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 30 tháng 9 năm 1954, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Pháp ký Hiệp định chuyển giao Hà Nội về quân sự; ngày 2 tháng 10, ký Hiệp định chuyển giao Hà Nội về hành chính.[53] Vào thời điểm được tiếp quản, thành phố gồm 4 quận nội thành với 34 khu phố, 37.000 dân và 4 quận ngoại thành với 45 xã, 16.000 dân. Thập niên 1950 và 1960, Hà Nội có những lần thay đổi về hành chính và địa giới. Năm 1958, 4 quận nội thành bị xóa bỏ và thay bằng 12 khu phố. Năm 1959, khu vực nội thành được chia lại thành 8 khu phố, Hà Nội cũng có thêm 4 huyện ngoại thành. Tháng 4 năm 1961, Quốc hội quyết định mở rộng địa giới Hà Nội, sáp nhập thêm 1 số xã của Hà Đông, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc và Hưng Yên.[54][55] Thành phố có diện tích 584 km², dân số 91.000 người. Ngày 31 tháng 5 năm 1961, 4 khu phố nội thành Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Ba Đình, Đống Đa và 4 huyện ngoại thành Đông Anh, Gia Lâm, Thanh Trì, Từ Liêm được thành lập.[50]
Khi cuộc Chiến tranh Việt Nam leo thang, Hà Nội hứng chịu những cuộc tấn công trực tiếp từ Hoa Kỳ. Riêng trong chiến dịch Linebacker II năm 1972, trong khoảng 2.200 người dân bị thiệt mạng ở miền Bắc,[56][57] số nạn nhân ở Hà Nội được thống kê là 1.318 người.[58]
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Sau chiến tranh, Hà Nội giữ vai trò thủ đô của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nó được UNESCO trao danh hiệu "Thành phố vì hòa bình" vào ngày 16 tháng 7 năm 1999.[59] Ngày 4 tháng 10 năm 2000, Chủ tịch nước Trần Đức Lương tặng thưởng thành phố Hà Nội danh hiệu "Thủ đô anh hùng".[60]
Ngày 21 tháng 12 năm 1978, Quốc hội Việt Nam phê chuẩn mở rộng địa giới Hà Nội, sáp nhập thêm 5 huyện Ba Vì, Thạch Thất, Phúc Thọ, Đan Phượng, Hoài Đức và thị xã Sơn Tây của tỉnh Hà Sơn Bình cùng 2 huyện của tỉnh Vĩnh Phú là Mê Linh, Sóc Sơn. Dân số Hà Nội lúc này lên 2,5 triệu người.[61] Bên cạnh lượng dân cư các tỉnh tới định cư ở thành phố, trong khoảng thời gian từ 1977 tới 1984, Hà Nội cũng đưa 12.861 hộ, 21.587 nhân khẩu tới Lâm Đồng theo chính sách xây dựng kinh tế mới.[62] Ngày 12 tháng 8 năm 1991, ranh giới Hà Nội lại được điều chỉnh, chuyển lại 5 huyện và 1 thị xã đã lấy của Hà Sơn Bình năm 1978 cho Hà Tây và Mê Linh được nhập vào tỉnh Vĩnh Phúc.[63]
Ngày 28 tháng 10 năm 1995, quận Tây Hồ được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của 3 phường Bưởi, Thụy Khuê, Yên Phụ thuộc quận Ba Đình và 5 xã Tứ Liên, Nhật Tân, Quảng An, Xuân La, Phú Thượng thuộc huyện Từ Liêm.[64] Ngày 26 tháng 11 năm 1996, quận Thanh Xuân được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của 5 phường Thanh Xuân Bắc, Thanh Xuân, Thượng Đình, Kim Giang, Phương Liệt cùng 1 phần phường Nguyễn Trãi và Khương Thượng thuộc quận Đống Đa, với toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của xã Nhân Chính thuộc huyện Từ Liêm và xã Khương Đình thuộc huyện Thanh Trì. Cùng lúc đó, quận Cầu Giấy được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của 4 thị trấn Cầu Giấy, Nghĩa Đô, Nghĩa Tân, Mai Dịch và 3 xã Dịch Vọng, Yên Hòa, Trung Hòa thuộc huyện Từ Liêm.[65]
Ngày 6 tháng 11 năm 2003, thành lập quận Long Biên trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của 10 xã Thượng Thanh, Giang Biên, Ngọc Thụy, Việt Hưng, Hội Xá, Gia Thụy, Bồ Đề, Long Biên, Thạch Bàn, Cự Khối và 3 thị trấn Gia Lâm, Đức Giang, Sài Đồng thuộc huyện Gia Lâm. Cùng lúc đó, quận Hoàng Mai được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của 9 xã Định Công, Đại Kim, Hoàng Liệt, Thịnh Liệt, Thanh Trì, Vĩnh Tuy, Lĩnh Nam, Trần Phú, Yên Sở cùng 1 phần diện tích xã Tứ Hiệp thuộc huyện Thanh Trì, và toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của 5 phường Mai Động, Tương Mai, Tân Mai, Giáp Bát, Hoàng Văn Thụ thuộc quận Hai Bà Trưng.[66]

Sau thời bao cấp, từ cuối thập niên 1990, sự phát triển về kinh tế dẫn đến các khu vực ngoại ô Hà Nội được đô thị hóa. Những cao ốc mọc lên ở khu vực nội đô và các trung tâm công nghiệp được xây dựng ở những huyện ngoại thành. Giao thông thành phố trở nên ùn tắc hơn khi số lượng xe máy tăng. 1 số khu phố chịu tình trạng ngập úng khi mưa. Vào năm 2003, 30% dân số Hà Nội sống dưới mức 3 m²/người.[67] Mật độ cây xanh của thành phố là khoảng 1–2 m²/người. 1 số di sản kiến trúc đang dần biến mất, thay vào đó là những ngôi nhà ống nằm trên các con phố.[68] Năm 2012, Hà Nội được đánh giá là 1 trong những thành phố ô nhiễm nhất khu vực Đông Nam Á.[69]
Ngày 29 tháng 5 năm 2008, Quốc hội Việt Nam thông qua nghị quyết điều chỉnh địa giới hành chính thủ đô Hà Nội và các tỉnh, có hiệu lực từ 1 tháng 8 cùng năm. Theo nghị quyết, toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh của tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã Đông Xuân, Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình được sáp nhập về Hà Nội. Từ diện tích gần 1.000 km² và dân số khoảng 3,4 triệu người, Hà Nội sau khi mở rộng có diện tích 3.324,92 km² và dân số 6.232.940 người, nằm trong 17 thủ đô lớn nhất thế giới.[70]
Năm 2010, Hà Nội tổ chức Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Hoàng thành Thăng Long, văn bia tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám và Lễ hội Thánh Gióng được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. 1 số công trình như cầu Vĩnh Tuy, Bảo tàng Hà Nội, công viên Hòa Bình được khánh thành. Ngày 27 tháng 12 năm 2013, huyện Từ Liêm được chia thành hai quận là Bắc Từ Liêm và Nam Từ Liêm.[71][72]
Hành chính và chính quyền
Hành chính

Hà Nội là 1 trong 6 thành phố trực thuộc trung ương của Việt Nam, cùng với Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng và Cần Thơ. Riêng Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh được xếp vào đơn vị hành chính cấp tỉnh loại đặc biệt và đồng thời là đô thị loại đặc biệt, thỏa mãn các tiêu chuẩn như tỷ lệ lao động trong các lĩnh vực phi nông nghiệp đạt mức trên 90%, quy mô dân số trên 5 triệu, mật độ dân số bình quân từ 15.000 người/km² trở lên, cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh.[73]
Sau đợt thay đổi về địa giới hành chính (bãi bỏ cấp huyện và sáp nhập xã, phường), từ tháng 7 năm 2025, Hà Nội có 126 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 51 phường và 75 xã.[74]
| Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc thành phố Hà Nội[75] | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
|
|
|
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Chính quyền
| Bộ máy chính quyền Hà Nội |
|---|
Cũng như các tỉnh và thành phố khác của Việt Nam, Hội đồng Nhân dân Thành phố Hà Nội do người dân thành phố trực tiếp bầu lên, là cơ quan quyền lực Nhà nước ở thành phố. Hội đồng Nhân dân Hà Nội nhiệm kỳ 2021–2026 gồm 95 đại biểu.[76]

Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội là cơ quan chấp hành của hội đồng nhân dân và là cơ quan hành chính nhà nước ở thành phố, chịu trách nhiệm chấp hành hiến pháp, pháp luật, các văn bản của Chính phủ và các nghị quyết của hội đồng nhân dân thành phố. Ngoài các sở, ban như những tỉnh khác, thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội có báo Kinh tế và Đô thị, Đài Phát thanh – Truyền hình Hà Nội, Trường Đại học Thủ đô Hà Nội,... và 1 số tổng công ty trên địa bàn thành phố. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Hà Nội có trụ sở nằm ở số 79 phố Đinh Tiên Hoàng và số 12 phố Lê Lai, bên cạnh hồ Hoàn Kiếm.[77]
Kiến trúc và quy hoạch đô thị
Sau 1 thời gian phát triển, thành phố có những ngôi nhà ống trên các con phố lắt léo, những công trình tôn giáo nằm trong các khu dân cư, những cao ốc bên các khu phố, và những cột điện chăng dây. Năm 2010, Hà Nội lập Đồ án Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 cho 1 thành phố 9,1 triệu dân vào năm 2030 và trên 10 triệu người vào năm 2050.[78]
Khu phố cổ

Tất cả các ngôi nhà 2 bên đường khu phố cổ đều theo kiểu nhà ống, đôi khi thông sang phố khác. Bên trong các ngôi nhà có cách bố trí giống nhau ở chỗ: gian ngoài là nơi bán hoặc làm hàng, tiếp đó là khoảng sân lộ thiên để lấy ánh sáng, trên sân có bể cạn trang trí, quanh sân là cây cảnh, giàn hoa, gian nhà trong là nơi ăn ở và nối tiếp là khu phụ.[79] Mật độ dân số tăng khiến khu phố cổ Hà Nội thay đổi. 2 trường hợp được ghi nhận là 3 người sống trong 1 diện tích 1,5 m², và 4 người sống trong 1 căn phòng 10 m² trên nóc 1 nhà vệ sinh chung.[80] Trong khu 36 phố phường thuộc dự án bảo tồn, còn 1 số nhà "cổ", còn lại được xây mới hoặc cải tạo.[81]
Khu thành cổ

Khu thành cổ, tức hoàng thành Thăng Long, nằm ở khoảng giữa hồ Tây và hồ Hoàn Kiếm, xuất hiện cùng với kinh đô Thăng Long. Trải qua những lần phá hủy, xây dựng lại rồi tiếp tục bị tàn phá, hoàng thành Thăng Long còn lưu lại ở 1 số dấu vết. Trên phố Phan Đình Phùng còn cửa Bắc của thành được xây bằng đá và gạch. Cột cờ Hà Nội xây năm 1812 sau này nằm trên đường Điện Biên Phủ. Công trình cao 40 mét này gồm 3 nền thềm và tháp hình lăng trụ, bên trong có cầu thang xoắn ốc dẫn lên kỳ đài.[82]
Ngày 31 tháng 7 năm 2010, tại kỳ họp lần thứ 34 tại Brasilia, thủ đô của Brasil, Ủy ban di sản thế giới của UNESCO công nhận khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long là di sản văn hóa thế giới dựa trên 3 tiêu chí: Chiều dài lịch sử văn hóa, Tính liên tục của tài sản với tư cách là 1 trung tâm quyền lực, và Các tầng di tích di vật đa dạng, phong phú.[83] Sáng ngày 1 tháng 10 năm 2010, trong buổi khai mạc Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Tổng Giám đốc UNESCO Irina Bokova đã trao bằng Di sản văn hóa thế giới khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long cho lãnh đạo Thành phố Hà Nội.[84]
Khu phố Pháp

Khu nhượng địa mang hình chữ nhật được giới hạn bởi các con phố Bạch Đằng, Tràng Tiền, Lê Thánh Tông, Trần Nhân Tông và Nguyễn Huy Tự. Vốn là đồn thủy quân của Hà Nội, đến năm 1875, khu vực này được nhượng lại cho quân đội Pháp xây doanh trại, dinh thự và bệnh viện. Những công trình kiến trúc ở đây có mái lợp ngói đá đen, hành lang xung quanh, và nhà cuốn hình cung. Dinh thự Tổng tham mưu trưởng quân Pháp, sau là Nhà khách Bộ Quốc phòng xây dựng trong khoảng thời gian 1874 đến 1877. Bệnh viện Lanessan, sau là Quân y viện 108 và Bệnh viện Hữu Nghị, khánh thành năm 1893.[85] Khu thành cũ gồm các phố Phan Đình Phùng, Hùng Vương, Hoàng Diệu, Điện Biên Phủ, Lê Hồng Phong, Chu Văn An, Trần Phú. Các biệt thự mang kiến trúc Bắc Bộ nước Pháp. 1 công trình kiến trúc của khu thành cũ là Phủ Toàn quyền, sau là Phủ Chủ tịch, được xây dựng trong khoảng 1900 đến 1902. Khu nam hồ Hoàn Kiếm cũng là 1 hình chữ nhật với 2 cạnh dọc là phố Tràng Thi – Tràng Tiền và phố Trần Hưng Đạo, và 2 cạnh ngang là phố Phan Bội Châu và phố Phan Chu Trinh. Khu vực này được xây dựng đồng thời với khu thành cũ và có quy trình quy hoạch chậm hơn do giải tỏa 1 số làng xóm. Nhà hát Lớn Hà Nội nằm ở đầu phố Tràng Tiền, được xây từ 1902 tới 1911, theo mẫu Opéra Garnier của Paris.[86]
Kiến trúc hậu Pháp thuộc
Vào những năm 1960 và 1970, các khu nhà tập thể theo kiểu lắp ghép xuất hiện ở những khu phố như Khương Thượng, Trung Tự, Giảng Võ, Thành Công và Thanh Xuân Bắc.[81]

Thập niên 1990 và 2000, 1 số con đường giao thông như Giải Phóng, Nguyễn Văn Cừ, Láng Hạ, Ngọc Khánh, Thái Hà được mở rộng. Các khách sạn, cao ốc văn phòng mọc lên, những khu đô thị như Khu đô thị mới Nam Thăng Long, Bắc Thăng Long, Du lịch Hồ Tây, Định Công, và Bắc Linh Đàm dần xuất hiện.[87] Khu vực Mỹ Đình được đô thị hóa với những ngôi nhà cao tầng mọc lên.[81]
1 số đường phố mới đã được đặt tên: năm 2010 là 43[88] và năm 2012 là 34 đường, phố mới.[89] Khoảng thời gian 2010–2012 chứng kiến các dự án đầu tư xây dựng các khu đô thị, tòa cao ốc, chung cư bình dân và cao cấp, trung tâm thương mại với giá bán cao hơn giá thành.[90] Tính đến giữa năm 2017, cảnh sát phòng cháy và chữa cháy thành phố Hà Nội thống kê được 994 tòa nhà cao tầng.[91]
1 số công trình

Trước khi trở thành 1 trung tâm chính trị – vào thế kỷ V với triều đại nhà Tiền Lý – Hà Nội đã là 1 trung tâm của Phật giáo với những thiền phái.[92] Theo văn bia, từ giữa thế kỷ VI, chùa Trấn Quốc được xây dựng trên bãi Yên Hoa ngoài sông Hồng, tới 1615 do bãi sông bị lở, chùa dời về địa điểm khác.[93] Thế kỷ XI, với sự xuất hiện của kinh đô Thăng Long, khi Phật giáo trở thành quốc giáo, các chùa chiền, thiền viện và sư tăng phát triển nhiều hơn. Hà Nội tiếp tục xây dựng các ngôi chùa như chùa Một Cột xây lần đầu năm 1049, chùa Láng từ thế kỷ XII, chùa Quán Sứ, và chùa Kim Liên xuất hiện vào thế kỷ XVII. Đa số các ngôi chùa trong nội ô được xây dựng lại vào thế kỷ XIX.[94]

Ở ngoại thành Hà Nội, xã Hương Sơn, 1 quần thể văn hóa–tôn giáo gồm hàng chục ngôi chùa thờ Phật, các ngôi đền thờ thần, và các ngôi đình thờ tín ngưỡng nông nghiệp được gọi chung là Chùa Hương. Lễ hội Chùa Hương được tổ chức vào mỗi mùa xuân. Cách trung tâm Hà Nội khoảng 20 km về phía Tây, Chùa Thầy nằm trên địa phận của xã Sài Sơn, gắn với tên tuổi thiền sư Từ Đạo Hạnh. Giống như Chùa Hương, lễ hội Chùa Thầy được tổ chức vào mùa xuân, đầu tháng 3 hàng năm.[95]
Hà Nội có những đền thờ Đạo Lão, Đạo Khổng và các thần bảo hộ như Thăng Long tứ trấn, Văn Miếu-Quốc Tử Giám và Đền Ngọc Sơn. Sau khi Kitô giáo theo chân những người châu Âu vào Việt Nam, Hà Nội có nhà thờ Lớn, nhà thờ Cửa Bắc và nhà thờ Hàm Long. Hàng Lược có thánh đường Hồi giáo Al-Noor.[96]
Kinh tế

Năm 2010, GDP Hà Nội tăng 11% và thu nhập bình quân đầu người của Hà Nội xấp xỉ đạt 2.000 Đô la Mỹ. Tổng thu ngân sách trên địa bàn vượt 100.000 tỷ đồng. Năm 2019, Hà Nội là đơn vị hành chính Việt Nam xếp thứ 2 về tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), xếp thứ 8 về GRDP bình quân đầu người, đứng thứ 41 về tốc độ tăng trưởng GRDP. GRDP của thành phố đạt 971.700 tỷ đồng (41,85 tỷ USD), GRDP bình quân đầu người đạt 120,6 triệu đồng (5.200 USD), tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 7,62%.[97] Quy mô GRDP năm 2020 ước đạt 1.016 nghìn tỷ đồng, xếp thứ 2 các tỉnh thành Việt Nam; GRDP bình quân đầu người đạt 122,7 triệu đồng (5.285 USD, xếp hạng 7), GRDP theo giá so sánh năm 2010 ước tăng 3,94%, cao gấp khoảng 1,5 lần mức tăng của cả nước (xếp hạng 26) (báo cáo của địa phương, Tổng cục Thống kê sẽ công bố số liệu đánh giá lại).[98]

Hà Nội có 1 hệ thống bảo tàng, những nhà hát sân khấu dân gian và những làng nghề truyền thống. Năm 2007, Hà Nội đón 1,1 triệu lượt khách du lịch ngoại quốc.[99] Năm 2008, trong 9 triệu lượt khách của thành phố, có 1,3 triệu lượt khách nước ngoài.[100] Trong 1 số năm, bảo tàng Dân tộc học Việt Nam có 180.000 khách tới thăm, trong đó 1 nửa là người nước ngoài.[101] Theo thống kê năm 2019, Hà Nội có 3.499 cơ sở lưu trú với tổng số 60.812 buồng phòng. Trong số này 561 cơ sở lưu trú du lịch đã xếp hạng với 22.749 buồng phòng bao gồm 67 khách sạn được xếp hạng từ 3–5 sao và 7 khu căn hộ du lịch từ 4–5 sao.[102] Với mức giá khoảng 126,26 USD 1 đêm cho phòng khách sạn 5 sao, hiệu suất thuê phòng các khách sạn 3–5 sao ở Hà Nội dao động từ 80% đến 90%. Ngoài 11 khách sạn 5 sao là Daewoo, Horison, Hilton Hanoi Opera, Melia, Nikko, Sofitel Metropole, Sheraton, Sofitel Plaza, và InterContinental, Crown Plaza, Marriot, thành phố có 6 khách sạn 4 sao và 19 khách sạn 3 sao.[103]
Xã hội
Dân cư

Thế kỷ XV, dân các trấn về Thăng Long quá đông khiến vua Lê Thánh Tông có ý định buộc tất cả phải về nguyên quán. Khi nhận thấy họ là lực lượng lao động và nguồn thuế quan trọng, triều đình đã cho phép họ ở lại. Tìm đến kinh đô Thăng Long còn có những cư dân ngoại quốc, phần lớn là người Hoa. Trong hơn 1 ngàn năm Bắc thuộc, có những người Hoa đã ở lại sinh sống thành phố này. Trải qua các triều đại Lý, Trần và Lê, có những người Hoa tới xin phép cư ngụ lại Thăng Long. Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi, trong số 36 phường họp thành kinh đô Thăng Long có 1 phường người Hoa là phường Đường Nhân, sau này có thể là khu vực phố Hàng Ngang.[104]
Thời kỳ Pháp thuộc, với vai trò là thủ phủ của Liên bang Đông Dương, Hà Nội đã thu hút 1 lượng người Pháp, người Hoa và người Việt từ những vùng lân cận. Vào thập niên 1940, dân số thành phố được thống kê là 132.145 người,[105] và đến năm 1954 thì giảm xuống còn 53.000 dân trên 1 diện tích 152 km², điều này là do phần lớn người dân đã di tản lên những vùng Việt Minh kiểm soát sau khi Pháp trở lại chiếm đóng Hà Nội năm 1946. Sau khi chính quyền Việt Minh tiếp quản Hà Nội, đa số người Pháp và người Hoa rời bỏ thành phố để vào miền Nam hoặc trở về quê hương. Ở những làng ngoại thành, ven đô cũ, nơi người dân sống chủ yếu nhờ nông nghiệp, 1 số gia đình giữ được gia phả từ các thế kỷ XV và XVI. Trong nội thành, có 1 số dòng họ định cư liên tục tại Thăng Long từ thế kỉ XV như dòng họ Nguyễn ở Đông Tác. Do tính chất của công việc, 1 số thương nhân và thợ thủ công ít khi trụ nhiều đời tại 1 điểm. Gặp khó khăn trong kinh doanh, những thời điểm sa sút, họ tìm tới vùng đất khác. Có những trường hợp, 1 gia đình có người đỗ đạt được bổ nhiệm làm quan tỉnh khác và đem theo gia quyến, đôi khi cả họ hàng.[106]

Năm 1954, thành phố có 53.000 dân, trên 1 diện tích 152 km². Đến năm 1961, thành phố mở rộng diện tích lên 584 km² với dân số 91.000 người. Năm 1978, Quốc hội Việt Nam quyết định mở rộng thủ đô lần thứ 2 với diện tích đất tự nhiên 2.136 km², dân số 2,5 triệu người.[50] Tới năm 1991, địa giới Hà Nội tiếp tục thay đổi, còn 924 km² và dân số vẫn ở mức hơn 2 triệu người. Thập niên 1990, với việc các khu vực ngoại ô dần được đô thị hóa, dân số Hà Nội tăng, đạt con số 2.675.166 người vào năm 1999.[107][108][109] Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, Hà Nội có hơn 6,23 triệu dân và nằm trong 17 thủ đô có diện tích lớn nhất thế giới.[70] Theo kết quả cuộc điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 2009, dân số Hà Nội là 6.451.909 người.[110] Dân số trung bình của thành phố năm 2010 là 6.561.900 người.[111] Tính đến hết năm 2015, dân số Hà Nội là 7.558.956 người. Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, dân số Hà Nội là 8.053.663 người, trong đó 49,2% dân số (tức 3,96 triệu người) sống ở thành thị, và 50,8% dân số sống ở nông thôn (tức 4,09 triệu người).[112][113]

Về cơ cấu dân số, người Việt chiếm tỷ lệ khoảng 99%, theo sau là người Mường, người Tày và các dân tộc thiểu số khác.[110][112] Đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống xen kẽ với người Việt ở tất cả 30 đơn vị hành chính cấp huyện của thành phố, trong đó cư trú tập trung ở 14 xã của 5 huyện Ba Vì, Thạch Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ và Mỹ Đức.[114]
Ở những khu phố trung tâm, khoảng 30% cán bộ, công nhân, viên chức được phân phối nhà ở.[115] Đa số các hộ dân cư có nhà ở và chủ yếu sống trong các loại nhà kiên cố và bán kiên cố.[113] 1 số năm, thành phố xây mới hàng triệu mét vuông nhà. Những gia đình trẻ hơn thường chưa có nhà ở hơn, phải sống ghép chung hoặc thuê nhà ở tạm.[116] Với giá từ 500 triệu tới 1,5 tỷ đồng 1 căn hộ chung cư, 1 người dân có thu nhập trung bình chỉ có thể mua được sau 1 số năm tích lũy tài chính.[115] Tại các khu vực ven sông Hồng và các bãi bồi thuộc trung tâm thành phố, hàng trăm gia đình sống trong những ngôi nhà lợp mái tre, không có điện, không có trường học và không được chăm sóc về y tế.[117]
Y tế

Năm 2010, thành phố Hà Nội có 650 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc sở Y tế thành phố, trong đó có 40 bệnh viện, 29 phòng khám khu vực và 575 trạm y tế.[118] Số giường bệnh trực thuộc sở Y tế Hà Nội là 11.536 giường, chiếm khoảng 1/20 số giường bệnh toàn Việt Nam; tính trung bình ở Hà Nội 569 người/giường bệnh so với 310 người/giường bệnh ở Thành phố Hồ Chí Minh.[119] Điều này dẫn đến tình trạng nhiều bệnh viện 1 giường bệnh có đến 2-3 bệnh nhân nằm điều trị là thường xuyên gặp.[120] Theo thống kê năm 2010, Hà Nội có 2.974 bác sĩ, 2.584 y sĩ và 3.970 y tá.[121]

Do sự phát triển không đồng đều, các bệnh viện Việt Đức, Bạch Mai, Bệnh viện Nhi Trung ương và Bệnh viện Phụ sản Hà Nội được đánh giá là trong tình trạng quá tải.[122][123] Cùng với hệ thống y tế của nhà nước, Hà Nội có 1 hệ thống bệnh viện, phòng khám tư nhân dần phát triển. Năm 2007, toàn thành phố có 8 bệnh viện tư nhân với khoảng 300 giường bệnh. Theo đề án đang được triển khai, đến năm 2010, Hà Nội sẽ có thêm 8 đến 10 bệnh viện tư nhân. Khi đó, tổng số giường bệnh tư nhân sẽ lên tới khoảng 2.500 giường.[124]
Điều kiện chăm sóc y tế giữa nội ô và các huyện ngoại thành Hà Nội có sự chênh lệch. Sau đợt mở rộng địa giới hành chính năm 2008, mức chênh lệch này tăng, thể hiện qua các chỉ số y tế. Nếu như tại địa phận Hà Nội cũ, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng là 9,7%, thì ở Hà Tây, con số lên tới 17%. Tuổi thọ trung bình tại khu vực Hà Nội cũ là 79 tuổi, sau khi mở rộng, con số này giảm còn 75,6 tuổi. Tại 1 số khu vực thuộc các huyện ngoại thành, cư dân sống thiếu nước sạch để sinh hoạt, phải sử dụng nước ao, nước giếng.[125]
Giáo dục

Từ thế kỷ XV tới thế kỷ XIX, Hà Nội là 1 trong những địa điểm chính để tổ chức các cuộc thi thuộc hệ thống khoa bảng, nhằm chọn những nhân vật bổ sung vào bộ máy quan lại. Về số lượng trạng nguyên, Hà Nội thấp hơn những vùng đất khác như Bắc Ninh, Hải Dương và Nam Định.[126] 1 thời kì trường thi Hà Nội nhập vào với trường Nam Định gọi là trường Hà Nam thi tại Nam Định (1884 đến 1915). Hà Nội là nơi người Pháp đặt 1 số trường dạy nghề và giáo dục bậc đại học, trong đó có viện Đại học Đông Dương, trường Y khoa Đông Dương, và trường Bách nghệ Hà Nội.[127]
Năm 2009, Hà Nội có 677 trường tiểu học, 581 trường trung học cơ sở và 186 trường trung học phổ thông (THPT) với 27.552 lớp học, 982.579 học sinh.[128][129][130] Hệ thống trường trung học phổ thông, Hà Nội có 40 trường công lập, 65 trường dân lập và 5 trường bán công.[131] Nó có 3 trường trung học đặc biệt, trực thuộc các trường đại học, là trường THPT chuyên ngoại ngữ thuộc trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội, trường THPT chuyên Khoa học Tự nhiên thuộc trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội và trường THPT chuyên Đại học Sư phạm Hà Nội thuộc trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Hệ thống giáo dục của thành phố có những trường bổ túc và những lớp học xóa mù chữ. Sau khi Hà Tây được sáp nhập vào thành phố, Hà Nội đứng đầu Việt Nam về số lượng người không biết chữ, với gần 235.000 người mù chữ trên tổng số 1,7 triệu người của cả Việt Nam.[132] Năm 2017, thành phố xác nhận đã hoàn thành chương trình xoá mù chữ mức độ 2.[133]
Hà Nội có trên 50 trường đại học và những cao đẳng. Năm 2007, nó có 606.207 sinh viên.[134] Đại học Quốc gia Hà Nội thúc đẩy việc xây dựng và di dời sinh viên tới khu đô thị đại học tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc. Dự án khu đô thị đại học Hòa Lạc được kỳ vọng sẽ giải quyết tình trạng quá tải tại nội thành Hà Nội đồng thời tạo không gian học tập và nghiên cứu hiện đại. Dự án có tổng diện tích hơn 1.100 ha, dự kiến phục vụ khoảng 60.000 sinh viên khi hoàn thiện với cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc tế và những tiện ích như ký túc xá, thư viện trung tâm và không gian sáng tạo.[135]
Văn hóa
Địa điểm
Năm 2008, Hà Nội có 17 rạp hát. Nhà hát Lớn Hà Nội, do người Pháp xây dựng và hoàn thành vào năm 1911, là nơi biểu diễn các loại hình nghệ thuật cổ điển như opera, nhạc thính phòng, kịch nói, và là trung tâm của các hội nghị, gặp gỡ. Cung Văn hóa Hữu nghị Hà Nội cũng là 1 địa điểm biểu diễn, là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa, nghệ thuật và thời trang. Dành cho sân khấu kịch, thành phố có nhà hát Tuổi trẻ với 650 chỗ ngồi, nhà hát Chuông Vàng với 250 ghế ngồi, và nhà hát Kịch Việt Nam với 170 ghế. Nhà hát Hồng Hà tại Đường Thành dành cho sân khấu tuồng. Nhà hát Cải lương Trung ương nằm tại quận Hai Bà Trưng. Môn nghệ thuật chèo có nhà hát Chèo Việt Nam ở khu Văn công Mai Dịch, huyện Từ Liêm, và từ năm 2007 thêm 1 điểm biểu diễn ở Kim Mã, Giang Văn Minh.[136] Rạp múa rối nước Thăng Long ở phố Đinh Tiên Hoàng, bờ hồ Hoàn Kiếm.[125]

Năm 2009, Hà Nội có 32 thư viện do địa phương quản lý với lượng sách 565 nghìn bản.[137] Ngoài hệ thống thư viện địa phương, tại Hà Nội còn phải kể tới các thư viện trong trường đại học. Thư viện Quốc gia tọa lạc tại 31 phố Tràng Thi, với 800.752 đầu sách, 8.677 tựa báo, tạp chí, có thể xem như thư viện quan trọng nhất của Việt Nam.[138]
1900 Le Theatre nằm trong top 100 vũ trường nổi tiếng nhất thế giới năm 2019 của tạp chí DJ Mag.[139] Vũ trường New Century trên phố Tràng Thi mở cửa năm 1999 và đóng cửa vào năm 2007 bởi dính líu tới mại dâm và ma túy. Trước đó, vũ trường Đêm Màu Hồng ở phố Hàng Chiếu kết thúc trong 1 vụ cháy lớn vào năm 1999.[140]
Công viên Hồ Tây có diện tích 35.560 m², chia thành 5 khu vui chơi với các đường trượt cao tốc, bể tạo sóng và bể massage.[141]
Theo thời gian, bộ mặt đô thị của khu phố cổ đã có những thay đổi, những con phố nơi đây vẫn giữ những cái tên thuở trước và trong đó vẫn có những nơi buôn bán, kinh doanh những mặt hàng truyền thống. Sau khi Hà Tây được sáp nhập vào Hà Nội, Hà Nội có thêm nhiều làng nghề khác. Theo số liệu cuối năm 2008, toàn Hà Nội có 1.264 làng nghề.[142] 1 làng nghề là làng lụa Vạn Phúc, vốn thuộc thành phố Hà Đông tỉnh Hà Tây trước đây, sau là quận Hà Đông. Sản phẩm lụa của làng có tên "lụa Hà Đông", từng được ca ngợi trong âm nhạc, thi ca và điện ảnh. Tương truyền, bà tổ làng lụa Vạn Phúc vốn người Hàng Châu, Trung Quốc, theo chồng chinh chiến rồi tới ở lại và truyền nghề dệt cho làng.[143]

Từ ngày 9 đến 12 tháng Giêng âm lịch, lễ hội Triều Khúc được tổ chức tại ngôi làng cùng tên, thuộc xã Tân Triều, nơi có nghề làm nón quai thao và may các đồ thờ như lọng, tàn, trướng, y môn, tán tía. Lễ hội được mở đầu bằng lễ rước long bào từ đình Sắc về đình Lớn. Khi cuộc tế lễ trong đình bắt đầu thì ngoài sân đình các trò vui được tổ chức, trong đó có trò "con đĩ đánh bồng". Đĩ đánh bồng do 2 nam thanh niên mặc trang phục nữ giới biểu diễn, nhún nhảy và đánh chiếc trống Bồng đeo trước bụng. Những trò vui khác như múa lân hí cầu, đấu vật, và hát Chèo Tàu được tổ chức cho tới ngày 12, hội kết thúc bằng lễ rã đám.[144] Hội Gióng, hay còn gọi là hội làng Phù Đổng, xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, xuất phát từ 1 câu chuyện truyền thuyết về Thánh Gióng, 1 trong Tứ bất tử của tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Vào 9 tháng 4 âm lịch hàng năm, những người dân ở 1 số nơi tụ hội về đây tham dự, xem lễ hội làng. Lễ hội làng Gióng được cử hành trên 1 diễn trường dài khoảng 3 km gồm đền Thượng, đền Mẫu và chùa Kiến Sơ. Bắt đầu từ ngày 6, người dân làng tổ chức rước lễ rước cờ tới đền Mẫu, rước cơm chay lên đền Thượng và ngày chính hội tổ chức hội trận, tái hiện cảnh Thánh Gióng phá giặc Ân. Các ngày từ 10 đến 12 được tiếp nối bằng các lễ rửa khí giới, rước cờ báo tin thắng trận với trời đất và cuối cùng là lễ khao quân, đến đêm có hát chèo. Ngoài lễ hội chính tại làng Phù Đổng, những nơi khác tổ chức hội Gióng như hội đền Sóc ở huyện Sóc Sơn, hội Gióng Xuân Tảo ở phường Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm, hội Phù Thánh Gióng ở làng Chi Nam, xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm.[145]
Trong nội ô thành phố, vào ngày 5 Tết Nguyên Đán, lễ hội Đống Đa được tổ chức ở gò Đống Đa, thuộc quận Đống Đa. Địa điểm này từng là nơi diễn ra trận đánh giữa nhà Tây Sơn và quân Thanh vào đêm 4 rạng ngày 5 tháng 1 năm Kỷ Dậu, tức 1789. Lễ hội Đống Đa được tổ chức với những trò vui, trong đó tiết mục rước rồng lửa do thanh niên mặc quần áo võ sinh rước đi quanh sân, cùng 1 đám võ sinh múa côn quyền tái hiện hình ảnh của quá khứ.[146]
Xã Hương Sơn có lễ hội chùa Hương. Với cảnh núi non, sông nước cùng quần thể di tích chùa Hương, lễ hội là điểm đến của những tăng ni, phật tử, người hành hương và khách du lịch. Theo 1 hành trình, khách trẩy hội có thể bắt đầu từ bến Đục, ngồi đò theo dòng suối Yến ghé lễ đền Trình. Từ đó, du khách đi qua cầu Hội, hang Sơn thủy hữu tình, núi Đồi Chèo, núi Con Voi, núi Mâm Xôi và núi Con Gà rồi cập bến vào chùa Thiên Trù. Từ đây, du khách bắt đầu hành trình đi bộ thăm chùa Tiên, chùa Giải Oan, đền Cửa Võng và đến đệ nhất động Hương Tích.[147]
Ẩm thực
Cốm làng Vòng được những người dân của ngôi làng cùng tên làm. Cốm làm từ giống nếp vàng gặt khi còn non, gói trong những tàu lá sen màu ngọc thạch và được những người bán hàng rao bán từ sáng. Món ăn này còn được chế biến thành món chả cốm.[148]
Thanh Trì, làng vùng ngoại ô khác thuộc phường Thanh Trì, quận Hoàng Mai, được biết đến với món bánh cuốn Thanh Trì. Bánh được làm từ gạo gié cánh, tám thơm, tráng mỏng như tờ giấy. Những phụ nữ vùng Thanh Trì cho bánh vào thúng, đội trên đầu và đi rao khắp các ngõ phố của Hà Nội. Bánh xếp trong thúng, từng lớp gối nhau trên những tàu lá chuối. Khi ăn, bánh được bóc từng lớp rồi cuộn lại, bày trên những chiếc đĩa. Món bánh cuốn Thanh Trì được ăn cùng với loại nước mắm pha theo công thức của người Thanh Trì xưa kia được thêm tinh dầu từ con Cà cuống, đậu phụ rán nóng, và chả quế. Bánh còn được ăn với thịt 3 chỉ quay giòn.[149]
1 món ăn khác là chả cá Lã Vọng. Vào thời Pháp thuộc, gia đình họ Đoàn phố Hàng Sơn, sau này là 14 phố Chả Cá, tạo nên 1 món ăn mà danh tiếng của nó làm thay đổi tên con phố. Chả được làm từ thịt cá lăng – hoặc cá quả, cá nheo – thái mỏng ướp với nước riềng, nghệ, mẻ, hạt tiêu, nước mắm rồi kẹp vào cặp tre nướng trên lò than trên bàn ăn của thực khách. Chả cá Lã Vọng có thể ăn kèm với bánh đa nướng, bún rối, lạc rang, rau mùi, húng láng, thì là, hành củ tươi chẻ nhỏ, chấm với mắm tôm.[150]
Phở Hà Nội mang vị ngọt của xương bò, thịt vừa chín đến độ để vẫn dẻo mà không dai, màu nước phở trong, bánh phở mỏng và mềm. Sau khi được trần qua nước nóng, bánh phở được dàn đều trong bát, bên trên là những lát thịt mỏng cùng hành hoa, rau thơm.[151]
Âm nhạc
Trong những năm tháng Hà Nội là thủ đô trong cuộc đấu tranh, Văn Cao viết cho Hà Nội 1 số hành khúc như Thăng Long hành khúc ca, Gò Đống Đa, và Tiến về Hà Nội. Khi những người lính thuộc Trung đoàn Thủ Đô rời Hà Nội, nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi đã viết ca khúc "Người Hà Nội".[152] Hình ảnh Hà Nội trong cuộc chiến với thực dân Pháp là đề tài của các tác phẩm như "Sẽ về Thủ đô" của Huy Du, "Cảm xúc tháng Mười" của Nguyễn Thành, và "Ba Đình nắng" của Bùi Công Kỳ. Trong chiến tranh Việt Nam, Hà Nội được khắc họa trong các tác phẩm như "Bài ca Hà Nội" của Vũ Thanh, "Hà Nội – Điện Biên Phủ" của Phạm Tuyên, "Khi thành phố lên đèn" của Thái Cơ, và "Tiếng nói Hà Nội" của Văn An. Hà Nội hiện lên với dáng vẻ "cổ xưa, kiêu kỳ và lãng mạn", với "ánh đèn giăng mắc", "có bóng trăng thơ in trên mặt hồ", với hình ảnh người con gái "khăn san bay lả lơi trên vai ai", "áo trắng Trưng Vương, Tây Sơn em tan trường về" trong những nhạc phẩm mang tính chất hoài niệm như Hướng về Hà Nội của Hoàng Dương, Nỗi lòng người đi của Anh Bằng, Hà Nội ngày tháng cũ của Song Ngọc và Gửi người em gái miền Nam của Đoàn Chuẩn. Hình ảnh của thiên nhiên, cảnh vật, con người, truyền thống lịch sử và nét thanh lịch của Hà Nội được khắc họa qua những giai điệu, như Hoàng Hiệp với "Nhớ về Hà Nội", Phan Nhân với "Hà Nội niềm tin và hy vọng", Hoàng Vân với "Tình yêu Hà Nội", Văn Ký với "Trời Hà Nội xanh" và "Hà Nội mùa xuân", Nguyễn Đức Toàn với "Hà Nội trái tim hồng", Trần Hoàn với "Khúc hát người Hà Nội", Trịnh Công Sơn với "Nhớ mùa thu Hà Nội", Nguyễn Cường với "Mãi vẫn là tuổi thơ tôi Hà Nội", Dương Thụ với "Mong về Hà Nội", Phú Quang với "Em ơi, Hà Nội phố", "Hà Nội ngày trở về", "Im lặng đêm Hà Nội", Phạm Minh Tuấn với "Hà Nội ơi thầm hát trong tôi", Nguyễn Tiến với "Chiều mưa Hà Nội", Trần Quang Lộc với "Có phải em mùa thu Hà Nội", Trương Quý Hải với "Hà Nội mùa vắng những con mưa", Lê Vinh với "Hà Nội và tôi", và Vũ Quang Trung với "Chiều Hà Nội". 1 số địa danh của Hà Nội cũng trở thành chủ đề sáng tác trong âm nhạc như "Một thoáng Tây Hồ" của Phó Đức Phương, "Ngẫu hứng sông Hồng" của Trần Tiến, "Chiều Hồ Gươm" của Đặng An Nguyên, "Truyền thuyết Hồ Gươm" của Hoàng Phúc Thắng, "Bên lăng Bác Hồ" của Dân Huyền. 1 số tác phẩm không nhắc đến địa danh Hà Nội trong tựa đề hoặc trong ca từ và lấy cảm hứng hoặc viết về mảnh đất này như "Những ánh sao đêm" của Phan Huỳnh Điểu, "Từ một ngã tư đường phố" của Phạm Tuyên, "Mùa xuân làng lúa làng hoa" của Ngọc Khuê, "Hoa sữa" của Hồng Đăng, "Thu quyến rũ" của Đoàn Chuẩn, và "Phố nghèo", "Ngẫu hứng phố" của Trần Tiến. 1 Hà Nội với các loài hoa được nhạc sĩ Giáng Son khắc họa trong "Hà Nội 12 mùa hoa".[153]
Điện ảnh và truyền hình
Sau khi được giải phóng vào năm 1954, 1 số bộ phim của điện ảnh cách mạng đã nói về Hà Nội, trong đó có Giông tố, Sao tháng Tám, Hà Nội mùa đông năm 1946, Em bé Hà Nội, Phía bắc Thủ đô và Tiền tuyến gọi.[154] Em bé Hà Nội, tác phẩm của đạo diễn Hải Ninh, khắc họa cuộc sống của Hà Nội trong thời gian quân đội Hoa Kỳ ném bom miền Bắc đã giành Bông sen vàng tại Liên hoan phim Việt Nam năm 1975 và giải đặc biệt của ban giám khảo Liên hoan phim Moskva cùng năm đó.[155] 1 số bộ phim điện ảnh khai thác đề tài về lớp thanh niên sống ở Hà Nội thời kỳ sau chiến tranh như Tuổi mười bảy, Những người đã gặp, Hãy tha thứ cho em, Cách sống của tôi và Hà Nội mùa chim làm tổ.[154]
Giao thông

Giao thông đường không, ngoài sân bay quốc tế Nội Bài cách trung tâm khoảng 35 km, thành phố có sân bay Gia Lâm ở phía Đông, thuộc phường Long Biên, từng là sân bay chính của Hà Nội những năm 1970, sân bay Gia Lâm sau đó chỉ phục vụ cho các chuyến bay dịch vụ của trực thăng, gồm dịch vụ du lịch. Bên cạnh đó là sân bay Bạch Mai thuộc quận Thanh Xuân được xây dựng từ năm 1919 và có thời gian đóng vai trò như 1 sân bay quân sự.[156]

Hà Nội có những tuyến đường cao tốc trên địa bàn như Đại lộ Thăng Long, Pháp Vân – Cầu Giẽ, Hà Nội – Bắc Giang, Hà Nội – Hải Phòng, Nội Bài – Lào Cai, Hà Nội – Thái Nguyên và Hà Nội – Hòa Bình, được xây dựng và hoàn thành nhằm kết nối nhanh chóng, thuận tiện thủ đô với các tỉnh.[157] Nó có 7 tuyến đường vành đai giúp kết nối các quận, huyện trong thành phố như đường vành đai 1, đường vành đai 2, đường vành đai 2,5, đường vành đai 3 và đường vành đai 3,5, và kết nối các tỉnh trong vùng thủ đô như đường vành đai 4 và đường vành đai 5.[158]
Trong nội ô, các con phố của Hà Nội ùn tắc hơn do lượng phương tiện tham gia giao thông lớn hơn.[159] Giáo sư Seymour Papert – nhà khoa học máy tính từ Viện Công nghệ Massachusetts bị tai nạn ở Hà Nội vào cuối năm 2006 – đã miêu tả giao thông của thành phố như 1 ví dụ minh họa cho giả thuyết về "hành vi hợp trội", phương thức mà các đám đông, tuân theo các nguyên tắc đơn giản và không cần sự lãnh đạo, tạo ra các vận động và hệ thống phức tạp.[160] Trên những đường phố Hà Nội, vỉa hè có thể bị chiếm dụng khiến người đi bộ phải đi xuống lòng đường.[161] Theo quy hoạch giao thông Hà Nội mà Thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng phê duyệt năm 2008, chi phí cho phần phát triển đường bộ lên tới 100.000 tỷ đồng. 3 tuyến đường vành đai, 30 tuyến đường trục chính cùng 1 số tuyến phố sẽ được xây dựng mới hoặc cải tạo lại.[161]
Thành phố kết nghĩa
Tham khảo
Ghi chú
Chú thích
- ^ a b "Phê duyệt và công bố kết quả thống kê diện tích đất đai năm 2020". Quyết định số 387/QĐ-BTNMT 2022. Bộ Tài nguyên và Môi trường (Việt Nam). Lưu trữ ngày 12 tháng 8 năm 2022 tại Wayback Machine
- ^ Tổng cục Thống kê (2022). Niên giám Thống kê Việt Nam năm 2021 (PDF). Nhà Xuất bản Thống kê. tr. 89. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 1 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2022.
- ^ "Quyết định số 19/2025/QĐ-TTg về việc ban hành Bảng danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam" (PDF). Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. ngày 30 tháng 6 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2025.
- ^ An Chi. Chuyện Đông chuyện Tây, tập 2. Tái bản lần thứ nhất, có sửa chữa. Nhà xuất bản Trẻ. Năm 2006. Trang 88.
- ^ An Chi. Chuyện Đông chuyện Tây, tập 4. Tái bản lần thứ nhất, có sửa chữa. Nhà xuất bản Trẻ. Năm 2006. Trang 19.
- ^ An Chi (2006). Chuyện Đông chuyện Tây, Tập 2 (ấn bản thứ 1). Nhà xuất bản Trẻ. tr. 88–89. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2024.
- ^ a b "Địa giới Hà Nội thời Pháp xâm lược, tạm chiếm -- 1000 Years Thang Long". VietnamPlus. ngày 22 tháng 9 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2023.
- ^ a b c Nguyễn Ngọc Tiến (ngày 14 tháng 12 năm 2014). "Tỉnh Hà Nội và thành phố Hà Nội". Báo Hànộimới. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2023.
- ^ "Niên giám thống kê tóm tắt 2017". ngày 31 tháng 12 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2018.
- ^ "Niên giám thống kê 2019" (PDF). Tổng cục Thống kê. ngày 30 tháng 6 năm 2020. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2020.
- ^ ONLINE, TUOI TRE (ngày 12 tháng 6 năm 2025). "Chi tiết diện tích, dân số, quy mô kinh tế của 34 tỉnh, thành mới". TUOI TRE ONLINE. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2025.
- ^ "Sở Nội vụ tổ chức khai mạc triển lãm tài liệu lưu trữ với chủ đề "Dấu ấn địa giới hành chính Hà Nội qua tài liệu lưu trữ"". ngày 3 tháng 10 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2020.
- ^ "Giới thiệu tổng quan và khái quát về địa lí thành phố Hà Nội". ngày 25 tháng 12 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2020.
- ^ "Đền thờ Bác Hồ trên đỉnh Ba Vì". ngày 3 tháng 10 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2020.
- ^ "Leo bộ lên đỉnh Ba Vì, bạn đã thử chưa?". ngày 16 tháng 4 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2020.
- ^ Trí, Dân. "Ngỡ ngàng cảnh đẹp núi non sừng sững giữa Hà Nội". Báo điện tử Dân Trí. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2022.
- ^ "Hai ngày cuối tuần ăn chơi ở Sóc Sơn". ngày 17 tháng 12 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2020.
- ^ "Núi non Hà Nội". hanoimoi.com.vn. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2022.
- ^ Sông ‘chết’ bao vây Hà Nội Lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021 tại Wayback Machine, thanhnien, 22.6.2015
- ^ Khánh Lan (ngày 12 tháng 4 năm 2007). "Sông ngòi Hà Nội đang kêu cứu". Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ Climate of Hanoi Lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021 tại Wayback Machine.
- ^ Đoàn Loan (ngày 24 tháng 1 năm 2016). "Tuyết rơi trên núi Ba Vì, Hà Nội". VnExpress. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2021.
- ^ "Vietnam Building Code Natural Physical & Climatic Data for Construction" (PDF). Vietnam Institute for Building Science and Technology. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2018.
- ^ "ПОГОДА в Ханое" [Weather in Hanoi] (bằng tiếng Nga). Weather and Climate (Погода и климат). Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2015.
- ^ Giới thiệu tổng quan và khái quát về địa lý thành phố Hà Nội Lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021 tại Wayback Machine Phương Anh, Cổng Giao tiếp điện tử Hà Nội cập nhật 07:13 25/12/2014
- ^ "Hôm nay Hà Nội lại là thành phố ô nhiễm không khí nhất thế giới: Chỉ số AQI lên tới 190, vượt xa cả Bắc Kinh lẫn Jakarta!". Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2019.
- ^ "Sáng nay, không khí Hà Nội ô nhiễm nhất thế giới". Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2019.
- ^ "Cảnh báo: Hà Nội "vượt mặt" Bắc Kinh, đứng đầu thế giới về ô nhiễm không khí trong ngày 26/8". Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2019.
- ^ "Hà Nội là một trong hai thành phố ô nhiễm bụi nặng nề nhất Đông Nam Á". Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2019.
- ^ a b "Hà Nội ô nhiễm không khí thứ 2 ở Đông Nam Á". Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2019.
- ^ "WHO: Chất lượng không khí ở Việt Nam kém đi rất nhiều". Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2019.
- ^ "Ảnh Hà Nội trong báo động đỏ về ô nhiễm không khí". Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2019.
- ^ "Nước thải đầu độc sông, hồ Hà Nội". Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2019.
- ^ "Những dòng sông 'chết' ở Hà Nội". Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2019.
- ^ "Hà Nội ngày càng ô nhiễm 'vì không gom được nước thải'". Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2019.
- ^ a b c "Thời kỳ tiền Thăng Long". Hà Nội theo năm tháng. ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ "Hà Nội trong nghìn năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc". Báo điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2012.
- ^ "Hà Nội đã có bao nhiêu tên gọi?". VDC. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2006.
- ^ "Thăng Long thời Lý". Hà Nội theo năm tháng. ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.[liên kết hỏng]
- ^ "Thăng Long thời Trần". Hà Nội theo năm tháng. ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|ngày truy cập=(trợ giúp) - ^ "Thăng Long - Đông Đô - Đông Quan". Hà Nội theo năm tháng. ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ "Văn hóa người Tràng An sau 10 năm hợp nhất". Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2020.
- ^ "Tràng An là đất ở đâu? | Báo Công an nhân dân điện tử". Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2020.
- ^ "Đông Kinh Kẻ Chợ thời Mạc và Lê Mạt". Hà Nội theo năm tháng. ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|ngày truy cập=(trợ giúp) - ^ "Thăng Long thời Tây Sơn". Hà Nội theo năm tháng. ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ a b "Thời kỳ Hà Nội". Hà Nội theo năm tháng. ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ Nguyễn Vinh Phúc. "Hà Nội nghĩa là gì?". VDC. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 9 năm 2003. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết) - ^ "Thành cổ Hà Nội - những dấu ấn lịch sử".
{{Chú thích web}}:|ngày lưu trữ=cần|url lưu trữ=(trợ giúp) - ^ a b "Hà Nội thời Pháp thuộc". Hà Nội theo năm tháng. ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ a b c d Papin, Philippe (2001). Histoire de Hanoi. Fayard. tr. 381–386. ISBN 2213606714.
- ^ Logan (2000), tr. 86.
- ^ Tên phố và công viên Hà Nội trước năm 1954 Lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021 tại Wayback Machine, Tạp chí Quê hương, 22/05/2012
- ^ Chỉ thị của Ban chấp hành Đảng bộ Thành phố Hà Nội về vận động nhân dân hoan nghênh chính quyền, bộ đội ta vào tiếp quản thành phố Lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021 tại Wayback Machine, Báo Hà Nội mới, 10/10/2018
- ^ "Nghị quyết không số của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc mở rộng thành phố Hà Nội" (Thông cáo báo chí). Phó Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa II. ngày 20 tháng 4 năm 1961. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2012.
- ^ "Quyết định 78-CP chia các khu vực nội thành và ngoại thành của Thành phố Hà Nội" (Thông cáo báo chí). Thủ tướng Hội đồng Chính phủ. ngày 31 tháng 5 năm 1961. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2012.
- ^ Herring, George (1979). America's Longest War. John Wikey & Sons. tr. 248.
- ^ Morocco, John (1985). Rain of Fire: Air War, 1969–1973. Boston: Boston Publishing Company. tr. 150.
- ^ "North Vietnam Says 1,318 Dead in the Raids on Hanoi". New York Times. ngày 4 tháng 1 năm 1973. tr. 3.
- ^ unesco. "DELFT, HANOI, ZUK MIKAEL, QUITO AND TIMBUCTU TO RECEIVE 1998-1999 UNESCO CITIES FOR PEACE PRIZE". Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2013.
- ^ "Hà Nội xây dựng chủ nghĩa xã hội những năm cuối thế kỷ 20". Văn phòng Ban chỉ đạo Quốc gia Kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết) - ^ "Hà Nội ngày nay". Hà Nội theo năm tháng. ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ Nguyễn Phú Trọng. "Hà Nội - 50 năm chiến đấu, xây dưng và phát triển". ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ "NGHỊ QUYẾT CỦA KỲ HỌP THỨ 9, QUỐC HỘI KHÓA VIII, NGÀY 12-8-1991 VỀ VIỆC ĐIỀU CHỈNH ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH MỘT SỐ TỈNH, THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG" (Thông cáo báo chí). Chủ tịch Quốc hội Việt Nam khóa VIII. ngày 12 tháng 8 năm 1991. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2011.
{{Chú thích thông cáo báo chí}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết) - ^ "Nghị định 69-CP năm 1995 về việc thành lập quận Tây Hồ". Báo Chính phủ. ngày 28 tháng 10 năm 1995. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 5 năm 2024.
- ^ "Nghị định 74-CP năm 1996 về việc thành lập quận Thanh Xuân và quận Cầu Giấy". Báo Chính phủ. ngày 22 tháng 11 năm 1996. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 5 năm 2024.
- ^ "Nghị định 132/2003/NĐ-CP năm 2003 về việc thành lập quận Long Biên và quận Hoàng Mai". Báo Chính phủ. ngày 6 tháng 11 năm 2003. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 5 năm 2024.
- ^ "30% dân số nội thành ở Hà Nội sống dưới mức 3m2/người". Lao Động. ngày 1 tháng 7 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 3 năm 2019.
- ^ Nguyễn Hiền. "Hà Nội phát triển và đầu tư". Dân trí. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ Hương Thu. "Không khí Hà Nội 'bẩn hạng nhất châu Á'". VnExpress. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2012.
- ^ a b Hồng Khánh (ngày 29 tháng 5 năm 2008). "Địa giới Hà Nội chính thức mở rộng từ 1 tháng 8". VnExpress. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ "Nghị quyết 132/NQ-CP năm 2013 chia huyện Từ Liêm thành 2 quận Bắc Từ Liêm và Nam Từ Liêm". Báo Chính phủ. ngày 27 tháng 12 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 9 năm 2023.
- ^ Thanh Hiếu (ngày 4 tháng 7 năm 2023). "Hà Nội thông qua nghị quyết thành lập quận Đông Anh". Tiền Phong. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2023.
- ^ Thủ tướng chính phủ. "Nghị định số 42/2009/NĐ-CP của Chính phủ: Về việc phân loại đô thị ở Việt Nam". Chính phủ Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2009.
- ^ Ủy ban Thường vụ Quốc hội (ngày 20 tháng 6 năm 2025). "Nghị quyết số 1656/NQ-UBTVQH15 sắp xếp các ĐVHC cấp xã của thành phố Hà Nội năm 2025". Xây dựng chính sách, pháp luật. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2025.
- ^ TRUYỀN HÌNH TRỰC TIẾP: Lễ công bố quyết định triển khai đơn vị hành chính đến 126 xã, phường, Hà Nội Online, ngày 30 tháng 6 năm 2025, truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2025
- ^ "Báo cáo kết quả bầu cử HĐND nhiệm kỳ 2016 - 2021" (PDF). TRANG WEB ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2017.
- ^ Anhthu (ngày 24 tháng 7 năm 2008). "Công bố trụ sở chính thức của các cơ quan TP Hà Nội (mới)". Báo Hànộimới. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2015.
- ^ An Trân (ngày 30 tháng 3 năm 2010). "Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn 2050". Hà Nội mới. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2012.
- ^ "Khu phố cổ". Kiến trúc Hà Nội. Sở Du lịch Hà Nội. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2004. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ Văn Phúc Hậu (ngày 5 tháng 2 năm 2006). "Những căn "nhà khổ"". Đến với khu phố cổ Hà Nội. Sài Gòn giải phóng. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ a b c Lý Trực Dũng (ngày 21 tháng 2 năm 2008). "Kiến trúc Thăng Long-Hà nội trước ngưỡng cửa 1000 năm". Tia Sáng. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ "Khu thành cổ". Kiến trúc Hà Nội. Sở Du lịch Hà Nội. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ Kim Tân (ngày 1 tháng 8 năm 2010). "Hoàng thành Thăng Long được công nhận di sản văn hoá thế giới". Dân trí. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ Kim Tân (ngày 1 tháng 10 năm 2010). "Khai lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long". Dân trí. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ Nguyễn Vinh Phúc (ngày 31 tháng 12 năm 2008). "Những khu phố cũ ở Hà Nội". Báo Người Hà Nội. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010.
- ^ "Kiến trúc thời Pháp thuộc". Kiến trúc Hà Nội. Sở Du lịch Hà Nội. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ "Kiến trúc hiện đại". Kiến trúc Hà Nội. Sở Du lịch Hà Nội. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ "Hà Nội có thêm 43 tuyến đường, phố mới" (Thông cáo báo chí). Lưu Vân, báo Diễn đàn Doanh nghiệp. ngày 25 tháng 8 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012.
- ^ "Hà Nội đặt tên cho 34 đường phố mới" (Thông cáo báo chí). Liên Phương, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. ngày 13 tháng 7 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012.
{{Chú thích thông cáo báo chí}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết) "Bế mạc kỳ họp thứ 5 HĐND thành phố Hà Nội khóa XIV" (Thông cáo báo chí). Báo Hànộimới. ngày 13 tháng 7 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012. - ^ ""Nghĩa địa chôn" 140.000 tỷ đồng ở Hà Nội, TP HCM?" (Thông cáo báo chí). Ngọc Sơn, báo Diễn đàn Doanh nghiệp. ngày 22 tháng 10 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012.
- ^ Kiểm tra thực hiện Tháng cao điểm về an toàn PCCC tại Hà Nội Lưu trữ ngày 2 tháng 8 năm 2017 tại Wayback Machine Theo báo cáo kết quả thực hiện Tháng cao điểm về an toàn PCCC đối với nhà, công trình cao tầng, siêu cao tầng, trung tâm thương mại trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2017, hiện tại Hà Nội có 994 nhà cao tầng, 33 Trung tâm thương mại Chu Thúy. Cảnh sát PC&CC TP Hà Nội. Cập nhật lúc: Thứ sáu 28/07/2017 14:37
- ^ "Công trình tôn giáo - tín ngưỡng". Kiến trúc Hà Nội. Sở Du lịch Hà Nội. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2004. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết) - ^ "Chùa Trấn Quốc". ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010. [sai nguồn]
- ^ Logan (2000), tr. 90.
- ^ "Chùa Thầy - Thiên Phúc Tự - Nét đẹp cổ kính". Đài Truyền hình Việt Nam. ngày 8 tháng 4 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.[liên kết hỏng]
- ^ Thánh đường Hồi giáo giữa lòng thủ đô Lưu trữ ngày 28 tháng 12 năm 2013 tại Wayback Machine Mai Uyên, VnExpress 28/4/2014
- ^ BÁO CÁO Tình hình kinh tế - xã ḥi quý IV và năm 2019 Lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021 tại Wayback Machine số 609/BC-CTK 25/12/2019
- ^ "Tăng trưởng GRDP năm 2020 của Hà Nội đạt mức cao so với mức chung của cả nước". Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2021.
- ^ "Hà Nội: Đón trên 1,1 triệu lượt khách du lịch quốc tế". Tổng cục Du lịch. ngày 28 tháng 11 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ Lê Nam (ngày 18 tháng 12 năm 2008). "Ngành du lịch Hà Nội Phấn đấu đón 10,5 triệu lượt khách du lịch". Kinh tế & Đô thị. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ Khánh Linh (ngày 2 tháng 10 năm 2006). "Du lịch Hà Nội: Nỗi buồn của người tâm huyết..." Vietnam Net. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ Thủy Bích (ngày 27 tháng 8 năm 2019). "Hơn 500.000 lượt khách quốc tế đến Hà Nội trong tháng 8/2019". Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2021.
- ^ Nguyên Minh (ngày 12 tháng 10 năm 2007). "Hà Nội: Chạy đua đầu tư khách sạn cao cấp". SGGP. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2011.
- ^ "Diện mạo phường phố Thăng Long thời Lý". Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 2 năm 2020.
- ^ Baron & La Salle. Dictionnaire des Communes administratif et militaire, France métropolitaine et France d'outre-mer. Paris: Charles-Lavauzelle & Cie, 1949.
- ^ "Nguồn gốc dân cư". Khái quát về Hà Nội. Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ "Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999". Tổng cục Thống kê. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2018.
- ^ "Dân số Hà Nội đứng thứ 2 cả nước" (Thông cáo báo chí). báo Hànộimới. ngày 12 tháng 11 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2011.
- ^ Tổng cục Thống kê (Việt Nam) (ngày 1 tháng 4 năm 1999). "Dân số và mật độ dân số tại thời điểm 1/4/1999 phân theo địa phương" (xls). Tổng cục Thống kê (Việt Nam). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2011.
Hà Nội diện tích 921,0 km², dân số 2675166, mật độ dân số 2904,6
- ^ a b "Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Trang 149-150". Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. tháng 6 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2010.
- ^ "Dân số và mật độ dân số năm 2009 phân theo địa phương". Tổng cục Thống kê Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ a b "Kết quả toàn bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019". Tổng cục Thống kê. ngày 17 tháng 10 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2021.
- ^ a b "Hà Nội: Kết quả sơ bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019". Con số & sự kiện. ngày 4 tháng 9 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2021.
- ^ Minh Huệ (ngày 28 tháng 10 năm 2014). "Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số thành phố Hà Nội lần II". Hà Nội Mới. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2021.
- ^ a b "Gia đình trẻ mua nhà ở Hà Nội: Khó hơn lên trời! (Kỳ II)". An ninh Thủ đô. ngày 15 tháng 10 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2015.
Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất Hà Nội vừa cho biết, qua điều tra sơ bộ, trên địa bàn thành phố, chỉ có khoảng 30% cán bộ, công nhân, viên chức được phân phối nhà ở
- ^ "Hà Nội: gần 100% hộ gia đình trẻ chưa có nhà". Tuổi Trẻ Online. ngày 19 tháng 1 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2022.
- ^ Đức Văn (ngày 5 tháng 8 năm 2009). "Xóm nhà tranh trong lòng Hà Nội". Lao động. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết) - ^ "Số cơ sở khám, chữa bệnh trực thuộc sở Y tế phân theo địa phương". Tổng cục Thống kê Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2012.
- ^ "Số giường bệnh trực thuộc sở Y tế phân theo địa phương". Tổng cục Thống kê Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2012.
- ^ Cá biệt có khi lên đến 8-9 người bệnh/giường
- ^ "Số cán bộ ngành Y trực thuộc sở Y tế phân theo địa phương". Tổng cục Thống kê Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2012.
- ^ "Bệnh viện quá tải, Thủ tướng yêu cầu đầu tư cho tuyến dưới" (Thông cáo báo chí). Nam Phương, VnExpress. ngày 24 tháng 11 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021.
- ^ "Hà Nội: quá tải ở các bệnh viện chuyên khoa đầu ngành" (Thông cáo báo chí). Lan Anh, Tuổi Trẻ (báo). ngày 2 tháng 9 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021.
- ^ Hạnh Ngân (ngày 12 tháng 7 năm 2007). "Năm 2010, Hà Nội sẽ có 2.500 giường bệnh tư nhân". Tiền Phong. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ P. Thanh (ngày 15 tháng 8 năm 2008). "Y tế Hà Nội ngổn ngang khó khăn". Dân Trí. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ Trạng nguyên Việt Nam#Thống kê
- ^ "Đại học Đông Dương: Nền móng của giáo dục đại học hiện đại ở Việt Nam". Tạp chí Hoạt động Khoa học. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết) - ^ "Số lớp học phổ thông tại thời điểm 30/9 phân theo địa phương". Tổng cục Thống kê Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ "Số trường phổ thông tại thời điểm 30/9 phân theo địa phương". Tổng cục Thống kê Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ "Số học sinh phổ thông tại thời điểm 31/12 phân theo địa phương". Tổng cục Thống kê Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ "Danh sách các trường THPT công lập, dân lập và bán công". Sở Giáo dục và Đào tại Hà Nội. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ Tiến Dũng (ngày 29 tháng 10 năm 2008). "Hà Nội dẫn đầu cả nước về số người mù chữ". VnExpress. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ Xuân Long (ngày 16 tháng 2 năm 2017). "Hà Nội công bố hoàn thành chương trình xoá mù chữ". Tuổi Trẻ Online. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2021.
- ^ "Số giáo viên, số sinh viên đại học và cao đẳng phân theo địa phương". Tổng cục Thống kê Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ Ngọc Thành (ngày 17 tháng 10 năm 2023). "Bên trong đô thị đại học lớn nhất Việt Nam". VnExpress. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2024.
- ^ "Điểm biểu diễn Văn hóa nghệ thuật". ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ "Số thư viện do địa phương quản lý phân theo địa phương". Tổng cục Thống kê Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ "Nguồn lực thông tin". Thư viện Quốc gia Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết) - ^ "Poll Clubs 2019: 1900 Le Theatre". DJMag.com. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2019.
- ^ "Hà Nội: Nguy cơ cháy ở vũ trường rất cao". VnExpress. ngày 9 tháng 10 năm 2001. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ "Công viên nước Hồ Tây". Hiệp hội Du lịch Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ Ngân Tuyền (ngày 11 tháng 9 năm 2008). "Ô nhiễm - Câu chuyện cũ". Hà Nội đất trăm nghề và nguy cơ mất nghiệp. An ninh Thủ đô. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ Hoàng Thắng (ngày 10 tháng 11 năm 2008). "Làng nghề cũng khóc vì ô nhiễm". Báo Công an Nhân dân. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ "Lễ hội Triều Khúc". Lễ hội truyền thống. ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ "Lễ hội Thánh Gióng". Lễ hội truyền thống. ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.[liên kết hỏng]
- ^ "Lễ hội Quang Trung". Lễ hội truyền thống. ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ Trần Thùy Linh (ngày 22 tháng 2 năm 2010). "Lãng phí tài nguyên du lịch: Nghịch lý du lịch lễ hội". báo Thanh Niên. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2011.
- ^ "Cốm Vòng". ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ "Bánh cuốn Thanh Trì". ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ "Chả cá Lã Vọng". ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ "Phở, bún chả, bún thang Hà Nội được công nhận món ăn đạt giá trị chuẩn châu Á". ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2013.
- ^ Hà Diệu (ngày 13 tháng 3 năm 2007). "Sáu mươi năm vang vọng một bài ca". VietNamNet. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ "Mười hai tháng 12 mùa hoa Hà Nội". Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2017.
- ^ a b Vũ Hà (ngày 19 tháng 10 năm 2008). "Đâu rồi - Điện ảnh Hà Nội?". Đài Tiếng nói Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2015.
- ^ Thu Nguyên (ngày 18 tháng 3 năm 2007). "Đạo diễn Hải Ninh nhớ "Em bé Hà Nội"". Dân Trí. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2013.
- ^ T.Mai (ngày 17 tháng 8 năm 2010). "Hà nội qua bưu ảnh cổ: Sân bay Bạch Mai". Pháp Luật & Xã hội. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2012.
{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết) - ^ Bá Đô; Giang Huy (ngày 14 tháng 11 năm 2019). "9 cao tốc kết nối các tỉnh phía Bắc với thủ đô". VnExpress. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2021.
- ^ VnExpress. "Hiện trạng 7 tuyến đường vành đai Hà Nội". vnexpress.net. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2024.
- ^ "Giao thông Hà Nội: Tùy tiện, hỗn loạn". Báo Tin tức VN. ngày 15 tháng 8 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2015.
- ^ Đặng Lê (ngày 8 tháng 12 năm 2006). "Giao thông Hà Nội qua cái nhìn của GS Seymour Papert". Dân Trí (báo). Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ a b Hà Lan (ngày 29 tháng 7 năm 2008). "Quy hoạch giao thông Hà Nội mở rộng: Cần 100.000 tỷ đồng". Sài Gòn giải phóng. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
- ^ "(3)Sisters (friendship) tie-up city etc". Trang web của tỉnh Fukuoka. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2012.
- ^ "Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hội kiến Tổng thống Seychelles". BÁO ĐIỆN TỬ CỦA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2013.
- ^ Những con sông chảy qua thành Thăng Long Lưu trữ ngày 11 tháng 5 năm 2018 tại Wayback Machine Nguyễn Vinh Phúc Thứ ba, ngày 30 tháng 12 năm 2008
Đọc thêm
- Nguyễn Vinh Phúc (2004). Hà Nội - Con đường, dòng sông và lịch sử. Hà Nội: Nhà xuất bản Trẻ.
- Tô Hoài (2007). Chuyện cũ Hà Nội. Hà Nội: Nhà xuất bản Hội Nhà Văn.
- Nguyễn Vinh Phúc (2004). Hà Nội qua những năm tháng. Hà Nội: Nhà xuất bản Trẻ.
- Clément, Pierre (2003). Hà Nội chu kỳ của những đổi thay hình thái kiến trúc và đô thị. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật. ISBN p5lcQwAACAAJ.
{{Chú thích sách}}: Kiểm tra giá trị|isbn=: ký tự không hợp lệ (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ|đồng tác giả=(trợ giúp) - Nguyễn Vinh Phúc (2004). Phố và đường Hà Nội. Hà Nội: Nhà xuất bản Giao thông Vận tải.
- Logan, William Stewart (2000). Hanoi: Biography of a City (bằng tiếng Anh). UNSW Press. ISBN 9780868404431.
- Papin, Philippe (2001). Histoire de Hanoi. Fayard. ISBN 2213606714. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2010.
- Boudarel, Georges (2002). Hanoi: City of the Rising Dragon. Rowman & Littlefield. ISBN 0742516555. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2010.
{{Chú thích sách}}: Đã bỏ qua tham số không rõ|đồng tác giả=(trợ giúp) - Boudarel, Georges (1997). Hanoi 1936-1996: du drapeau rouge au billet vert. Autrement. ISBN 9782862607191. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2010.
{{Chú thích sách}}: Đã bỏ qua tham số không rõ|đồng tác giả=(trợ giúp).
Liên kết ngoài
Tư liệu liên quan tới Hanoi tại Wikimedia Commons
Dữ liệu địa lý liên quan đến Hà Nội tại OpenStreetMap- Hà Nội tại Từ điển bách khoa Việt Nam
- Hà Nội tại Encyclopædia Britannica (bằng tiếng Anh)
- Website chính thức

- Hà Nội trên Facebook
- Hanoi trên Citizendium của Larry Sanger
- Thống kê dân số và lao động ở Hà Nội
- Bản đồ thành phố Hà Nội năm 1968 trên website Thư viện Đại học Texas tại Austin (The University of Texas at Austin), Hoa Kỳ

