Hà Nội mùa đông năm 46

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Hà Nội mùa đông năm 46
Hà Nội mùa Đông năm 46.PNG
Bích chương.
Thể loạiDã sử, chiến tranh
Định dạngPhim màu
Kịch bảnĐặng Nhật Minh
Hoàng Nhuận Cầm
Đạo diễnĐặng Nhật Minh
Phạm Nhuệ Giang
Nguyễn Hữu Mười
Thái Ninh
Dẫn chuyệnĐức Trung
Nhạc phimĐỗ Hồng Quân
Nhạc dạoBác Hồ một tình yêu bao la
Nhạc kếtTiến quân ca, Văn Cao
Quốc gia Việt Nam
Ngôn ngữTiếng Việt
Tiếng Pháp
Số tập1
Sản xuất
Biên tậpNguyễn Kim Cương
Xuân Hòa
Địa điểmHà Nội
Hải Phòng
Kỹ thuật quay phimVũ Quốc Tuấn
Bố trí cameraTrần Anh Phương
Thời lượng95 phút
Công ty sản xuấtHãng phim truyện Việt Nam
Nhà phân phốiHãng phim truyện Việt Nam
Hãng phim Phương Nam
Đài truyền hình Việt Nam
Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
Trình chiếu
Kênh trình chiếuVTV1
HTV7
Định dạng hình ảnhSD
Quốc gia chiếu đầu tiên Việt Nam
 Canada
 Hoa Kỳ
 Nhật Bản
 Ấn Độ
 Canada
 Úc
 Pháp
 Mexico
Phát sóng12 tháng 12, 1997
Phát sóng tại Việt NamTháng 03, 1999

Hà Nội mùa đông năm 46[1] (tiếng Pháp: Hanoï hiver 1946, tiếng Anh: Hanoi winter 1946) là một phim chiến tranh cách mạng do Đặng Nhật Minh biên kịch và đạo diễn, xuất phẩm ngày 12 tháng 12 năm 1997 tại Liên hoan phim Toronto[2].

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bằng việc tìm đọc những văn kiện gốc xuất bản thời điểm 1946 cùng di cảo Sống mãi với thủ đô của tác gia Nguyễn Huy Tưởng[3], nhà điện ảnh Đặng Nhật Minh nảy chủ đích dựng lại chân dung chủ tịch Hồ Chí Minh qua các sự kiện chính trị - xã hội nóng hổi mùa đông năm 1946 và nhất là cuộc đấu tranh ngoại giao vì hòa bình của cụ. Đồng thời, nhà điện ảnh cố ý để phim không sa vào tuyên truyền chính trị sáo rỗng cứng nhắc.

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cảnh 1: Tuyến phim mở đầu với tràng súng lính Pháp khiêu khích trước đền Ngọc Sơn. Trong đám đông nhốn nháo có hai vệ quốc quân Lâm và Toản, đều là cựu sinh viên luật khoa. Lâm được giấy mời lên Bắc Bộ phủ nhận công tác mới, tại đó, anh được gặp Hồ chủ tịch đang tiếp đoàn phụ lão Thái Bình. Do Lâm có bằng cử nhân luật, Hồ chủ tịch giao công việc thư ký riêng, mà thực chất là đặc phái viên làm công tác giao thiệp với các phái đoàn đại diện chính phủ Pháp.
  • Cảnh 2: Nhà Hát Lớn Hà Nội được ủy thác cho một toán tự vệ coi giữ, quân Pháp bèn huy động một trung đội đem súng lớn tới công kích. Phía Việt Nam hay tin mới kiến nghị với ban liên kiểm, khi đại diện liên kiểm Pháp-Việt tới thì không kịp. Cả tiểu đội tự vệ bị diệt hết, chỉ đôi ba chiến sĩ cùng một cháu bé may mắn sống sót.
  • Cảnh 3: Vợ Lâm sắp đẻ, cứ ngóng chồng, trong khi anh chỉ mải mê công tác.
  • Cảnh 4: Trong lúc thời sự mỗi lúc một rối ren, Hồ chủ tịch đánh thư kêu gọi đồng bào "bình tĩnh chờ lệnh chính phủ".
  • Cảnh 5: Jean Sainteny tới viếng Hồ chủ tịch đang trở ốm. Ông trấn an cụ về vụ Hải Phòng và thông báo thủ tướng Pháp vừa đắc cử chính là Léon Blum - cựu lĩnh tụ Mặt trận Bình dân, được coi là có cảm tình với Việt Nam. Đáp lại, Hồ chủ tịch nhờ thư ký soạn thư chúc mừng, nuôi hi vọng rằng chính phủ Blum sẽ làm dịu tình hình.
  • Cảnh 6: Một xưởng rèn trên phố Lò Đúc bắt đầu chế gươm, âm thầm chờ chính phủ phát lệnh chiến đấu.
  • Cảnh 7: Họa sĩ Hân tới Bắc Bộ phủ khẩn khoản xin Hồ chủ tịch cho thực hiện nốt chân dung còn dở, dù kì hạn đã hết, Hồ chủ tịch vẫn vui vẻ cho phép. Anh vẽ cụ ngay trong lúc làm việc.
  • Cảnh 8: Tại tiệm cà phê, Toản đang nghe nàng ca sĩ Hương hát Đàn chim Việt thì một toán đảng viên Quốc Dân rút súng đòi nhạc công đổi bài Tô Châu dạ khúc. Toản bèn tóm cổ đứa cầm đầu, buộc đám này rút. Vừa hay, một đồng đội chạy vào bảo nhỏ anh rằng họ phát hiện một canot Pháp chở đầy vũ khí trên sông Hồng.
  • Cảnh 9: Toán tự vệ do Toản cầm đầu phục kích giết lính Pháp, cướp được vô số súng rồi chuồn êm. Trong lúc đó, Lâm vừa về tới nhà thì xảy ra vụ quân Pháp cướp phá nhà thông tin, anh vội chạy ra cùng mọi người ứng cứu.
  • Cảnh 10: Trên chuyến xe điện buổi sớm, Lâm gặp Toản, bèn mắng anh tội "manh động" và đưa Toản về nhà người quen ở Hàng Bún tạm lánh. Hương được Lâm chỉ chỗ, chiều hôm đó tới gặp Toản. Cô vừa lui gót hồng thì chiến xa Pháp vào phố bắn giết bừa bãi. Dù ông chủ nhà cố cản, Toản vẫn nổi máu hung xông ra cứu một em bé rồi bị lính Pháp bắn chết.
  • Cảnh 11: Dân phố Hàng Bún đọc thư chia buồn của Hồ chủ tịch trước di ảnh người thân bị thảm sát. Có tiếng xe hơi nổ máy, khi họ chạy ra mới biết cụ Hồ vi hành.
  • Cảnh 12: Thời sự đã căng như dây đàn, Hồ chủ tịch biệt phái Lâm đi gặp Jean Sainteny, dặn kĩ phải mặc trang phục dân sự. Tiếp anh chỉ có Michel, anh vội đưa Michel công hàm phản đối của chính phủ Việt Nam nhờ trình Sainteny. Michel xin Lâm một bức ảnh Hồ chủ tịch, Lâm tặng ngay.
  • Cảnh 13: Họa sĩ Hân tình cờ gặp cô Huệ trên phố, bèn mời về phòng tranh và thực hiện tác phẩm để đời Thiếu nữ bên hoa huệ.
  • Cảnh 14: Tình hình mỗi lúc càng dồn dập, chính phủ bí mật bố trí đưa cụ Hồ ra ngoại ô, ở nhờ một phú gia làng Vạn Phúc.
  • Cảnh 15: Hàng phố tản cư dần, trong lúc ấy thì Lê trở dạ. Lâm phải vội đưa vợ vào nhà hộ sinh Tây, gửi gắm các xơ.
  • Cảnh 16: Hồ chủ tịch vội về Bắc Bộ phủ bàn phương án ứng phó trong trường hợp xảy ra chiến tranh. Trong lúc cán bộ chiến sĩ Bắc Bộ phủ hối hả chuẩn bị tản cư thì họa sĩ Hân lại đến xin vẽ nốt Hồ chủ tịch, cụ Hồ khuyên anh hãy vẽ đồng bào chiến sĩ.
  • Cảnh 17: Hôm 19 tháng 12, Lâm lại tới tìm Jean Sainteny. Michel vì quý anh mà vào phòng Sainteny yêu cầu ông ra tiếp, nhưng vệ binh ngăn lại, báo rằng ông "bận". Thực tế, Jean Sainteny đã rời nội ô Hà Nội từ sáng ngày để chuẩn bị công tác chiến tranh sau khi hết hạn tối hậu thư. Lâm chỉ nhác thấy vệ binh của Sainteny đang hối hả tập tành.
  • Cảnh 18: Tối 19 tháng 12, trong lúc súng kháng chiến đã rền khắp nơi, thể trạng Lê diễn biến xấu, phải sinh mổ. Lâm tới giường bệnh khuyên cô gắng ở lại Hà Nội mà nuôi con, còn anh theo quân lên cứ, chờ ngày chiến thắng thì đoàn tụ. Giữa phố phường tấp nập những người dựng chiến lũy chống chiến xa, Lâm gặp Hương và nhờ cô chăm nom Lê.
  • Cảnh 19: Tại làng Vạn Phúc, Hồ chủ tịch đánh bản hiệu triệu toàn quốc kháng chiến.
  • Cảnh 20: Đại đội cảnh vệ Bắc Bộ phủ chiến đấu tới người cuối cùng hòng bảo vệ cơ quan biểu tượng của chính phủ, nhưng thực chất để đoàn tản cư có điều kiện rút ra ngoại thành.
  • Cảnh 21: Con cả nhà cụ Dương từ biệt vợ con theo đoàn tản cư lên Việt Bắc làm anh nuôi quân, thằng con nhỏ chạy theo nài bố cho đi cùng. Cụ Hồ tình cờ gặp, bèn động viên ông cho nó cùng đi. Đoàn người đã sang bờ Bắc sông Hồng, ngoái lại nhìn kinh thành nghi ngút cháy sau lưng.

Kĩ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Phim được thực hiện tại Hà NộiHải Phòng từ tháng 02 năm 1996 sang tháng 10 năm 1997 mới xong. Bộ phim thuộc số ít dự án hưởng lợi từ chương trình Chấn hưng điện ảnh cấp Nhà nước[4].

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cố vấn: Nguyễn Huy Hoan
  • Bí thư: Nguyễn Thị Ngọc
  • Thiết kế: Phạm Quốc Trung
  • Âm thanh: Nguyễn Huy Căn
  • Dựng phim: Trần Anh Hoa
  • Kĩ xảo : Cồ Khắc Ứng
  • Hóa trang: Nguyễn Văn Sáu
  • Phục trang: Trần Ngọc Tuyết
  • Đạo cụ: Nguyễn Văn Sinh, Nguyễn Ngọc Văn, Viết Tuấn
  • Dựng cảnh: Trần Trung Trực, Trịnh Trọng Sơn
  • Phối sáng: Trần Quang Tỵ
  • Kịch vụ : Nguyễn Hữu Ý
  • Khói lửa : Nguyễn Duy Với, Nguyễn Văn Chắt
  • Quay phối hợp : Đinh Thành, Trần Thị Mây
  • Tiếng động: Minh Khánh, Mạnh Kiên

Dàn nhạc giao hưởng Việt Nam (nhạc trưởng Đỗ Hồng Quân)

Diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Hậu trường[sửa | sửa mã nguồn]

Sau ngày thống nhất, khi giao lưu với các nhà điện ảnh quốc tế, đạo diễn Đặng Nhật Minh nhận thấy bạn bè thế giới có thành kiến rằng người Việt Nam chỉ thích giải quyết mọi vấn đề chính trị - xã hội bằng vũ lực. Vì thế, những mong xóa ác cảm bằng sự tái hiện lịch sử, ông nảy ý định thực hiện một xuất phẩm điện ảnh về cuộc đấu tranh ngoại giao của chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946 - cái năm mở đầu cho ba thập niên chiến tranh khốc liệt tại Việt Nam. Nhưng mãi đến năm 1988, sau khi được giáo sư Trần Hải Hạc (Đại học Paris) tặng sách Paris-Saigon-Hanoï les archives de la guerre 1944-7 (Philippe Devillers), Đặng Nhật Minh mới dồn lực vào công tác sưu tầm tư liệu. Cuối năm 1988, ông bắt tay vào soạn kịch bản cùng thi sĩ Hoàng Nhuận Cầm. Năm 1989, kịch bản phim Hà Nội mùa đông năm 46 hoàn thành. Nhưng tác phẩm vẫn nằm yên trong ngăn kéo vì xu thế chính trị - xã hội đương thời biến chuyển nhanh theo sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa cùng lí tưởng cộng sản, dòng phim chiến tranh cách mạng lâm tình cảnh đắp chiếu không ai coi nữa.

Năm 1993, trong bối cảnh điện ảnh Việt Nam thị trường hóa mãnh liệt với sự lên ngôi của dòng phim mì ăn liền chuộng yếu tố ướt át, kịch bản Hà Nội mùa đông năm 46 trượt ngay từ vòng đầu cuộc thi kịch bản phim truyện do Cục Điện ảnh phát động. Tuy nhiên, trong một lần tình cờ gặp bộ trưởng Văn Hóa Trần Hoàn, Đặng Nhật Minh thỉnh ý bộ trưởng về tương lai tập kịch bản. Sau khi đọc xong, bộ trưởng Trần Hoàn ký quyết định cho phép sản xuất Hà Nội mùa đông năm 46. Tháng 12 năm 1996, Hà Nội mùa đông năm 46 mới chính thức bấm máy.

Mặc dù được quay theo tiến độ gấp rút, nhưng phim vẫn lỡ cơ hội dự đợt kỷ niệm 60 năm Toàn quốc kháng chiến. Thời điểm phim sắp hoàn thiện, nhà điện ảnh David Overbey sang Việt Nam tuyển tác phẩm cho Liên hoan phim Toronto, khi nghe Đặng Nhật Minh đang chuẩn bị xuất bản tác phẩm mới, ông đã đề nghị Cục Điện ảnh cho xem Hà Nội mùa đông năm 46. Ngay lập tức, ông mời Đặng Nhật Minh đem tác phẩm trình chiếu tại Liên hoan phim Toronto chỉ 2 tuần sau (12 tháng 12 năm 1997), dù khâu hậu kì vẫn chưa xong. Ngày 20 tháng 04 năm 1998, phim lại được chiếu tại Liên hoan phim Quốc tế Singapore. Mãi tháng 03 năm 1999, bản hoàn chỉnh Hà Nội mùa đông năm 46 mới ra mắt khán giả Việt Nam. Năm 2016, phim được tái chiếu tại Liên hoan phim Quốc tế Amiens[5].

Năm 2010, sau khi Hãng phim truyện Việt Nam có quyết định chuyển đổi cơ chế, Hà Nội mùa đông năm 46 nằm trong số các phim gốc của hãng được bàn giao cho Viện phim Việt Nam để bảo quản làm di sản cho hậu thế.

Nhạc nền[sửa | sửa mã nguồn]

Vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Nội ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoại ngữ[sửa | sửa mã nguồn]