Hà nhật quân tái lai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Hà nhật quân tái lai (chữ Hán: 何日君再来, sáng tác năm 1939) là bài hát nổi tiếng của Trung Quốc, phần lời do Bối Lâm, nhạc do Lưu Tuyết Am viết. Tại Việt Nam hồi thập niên 1940, đây là một trong những bài tân nhạc ngoại quốc thịnh hành nhất, với tên Bao giờ chàng trở lại (Văn Chung dịch ra tiếng Việt)[1].

Bối cảnh lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1929, Phổ Kiệt đi du lịch đến Nhật Bản và được giáo dục tại trường học Gakushuin Peers 'School. Ông trở nên thông thạo tiếng Nhật. Sau khi tốt nghiệp Học viện Quân sự Hoàng gia Nhật Bản, Phổ Kiệt đã đồng ý tổ chức cuộc hôn nhân với một quý tộc Nhật Bản. Ông đã chọn Saga Hiro, một người họ hàng của gia đình Nhật Bản, từ bức ảnh của một số ứng cử viên có thể được kiểm soát bởi quân Quan Đông [3]. Vì Phổ Nghi không có người thừa kế nên đám cưới có ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị và nhằm mục đích tăng cường mối quan hệ giữa hai nước và đưa máu Nhật vào gia đình hoàng đế Mãn Châu. Lễ đính hôn diễn ra tại Đại sứ quán Mãn Châu Quốc ở Tokyo ngày 2 tháng 2 năm 1937 với đám cưới chính thức được tổ chức tại Toà nhà Quân đội Hoàng gia ở Kudanzaka, Tokyo vào ngày 3 tháng 4. Tháng 10, hai vợ chồng chuyển đến Tân Kinh (nay là Trường Xuân), thủ đô Mãn Châu Quốc, nơi Phổ Nghi là Hoàng đế.

Vào ngày 23 tháng 10 năm 1924, một cuộc đảo chính do quân phiệt Phùng Ngọc Tường lãnh đạo đã chiếm quyền kiểm soát Bắc Kinh. Phùng Ngọc Tường, mới nhất của các lãnh chúa để có Bắc Kinh đang tìm kiếm tính hợp pháp và quyết định bãi bỏ các Điều khoản ưa thích không được ưa chuộng là một cách dễ dàng để giành được sự chấp thuận của đám đông. [95] "Các điều khoản của việc đối xử thuận lợi" được Phùng sửa đổi đơn phương vào ngày 5 tháng 11 năm 1924, bãi bỏ quyền sở hữu và đặc quyền của Phổ Nghi và giáng ông thành một công dân bình thường của Trung Hoa Dân Quốc. Phổ Nghi đã bị trục xuất khỏi Tử Cấm Thành cùng ngày. [96] Phổ Nghi được cho ba giờ để rời khỏi Tử Cấm Thành. [95] Phổ Nghi đã dành vài ngày tại nhà của cha ông là vương gia Tải Thuần, và tạm thời cư trú tại đại sứ quán Nhật ở Bắc Kinh. [2] Phổ Nghi rời nhà của cha mình cùng với Johnston và người hầu Big Li của mình mà không thông báo cho người hầu của vương gia Tải Thuần, người đã theo họ trong một chiếc xe khác trong khi hai cảnh sát tham gia vào các xe của Phổ Nghi, dẫn đến một chuyến xe lửa dã man đi qua Bắc Kinh vì tài xế của Phổ Nghi đã cố gắng mất chiếc xe của người giúp việc trước khi Phổ Nghi có thể trượt vào một cửa hàng đồ trang sức và vào một chiếc xe ngựa đã đưa ông đến các di sản của Nhật Bản [97]. Phổ Nghi ban đầu muốn đi đến Bảo tàng Anh, nhưng Johnston của Nhật Bản đã nhấn mạnh rằng ông sẽ an toàn hơn với người Nhật [98]. Đối với Johnston, hệ thống Nhật Bản nơi người Nhật thờ lạy hoàng đế của họ như một vị thần sống động đã gần gũi hơn với hệ thống chính trị lí tưởng hơn hệ thống chế độ quân chủ lập hiến của Anh, và ông liên tục chỉ đạo Phổ Nghi theo hướng ủng hộ Nhật Bản [98]. Một trong những cố vấn của Phổ Nghi Lu Zongyu - người bí mật làm việc cho người Nhật - đề nghị Phổ Nghi chuyển đến Thiên Tân, nơi mà ông cho rằng an toàn hơn Bắc Kinh, thông qua lý do thực tế là người Nhật cảm thấy rằng Phổ Nghi sẽ dễ dàng kiểm soát ở Thiên Tân mà không có bối rối vì có anh ta sống trong Nhà tù Nhật Bản, đang gây căng thẳng quan hệ với Trung Quốc [99]. Vào ngày 23 tháng 2 năm 1925, Phổ Nghi rời Bắc Kinh đến Thiên Tân trong khi mặc một bộ váy chùm và sọ người Trung Quốc đơn giản vì anh sợ bị cướp trên tàu. [100]

Đầu năm 1932, cố vấn trưởng của Phổ Nghi Trịnh Hiểu Tư đã hứa với Itagaki rằng ông sẽ là thủ tướng Mãn Châu Quốc, một lời đề nghị thu hút sự chú ý của ông đủ để ông thuyết phục Phổ Nghi chấp nhận các điều khoản của Nhật Bản, nói với ông rằng Mãn Châu Quốc sẽ sớm trở thành một chế độ quân chủ và lịch sử sẽ lặp lại chính nó, như Phổ Nghi sẽ chinh phục phần còn lại của Trung Quốc từ căn cứ Manchurian của mình giống như nhà Thanh đã làm vào năm 1644.

Đối với khu vực định cư quốc tế Thượng Hải, 30.000 thường dân Nhật đã sống với 30.000 quân vào ngày 12 tháng 8 năm 1937. Năm 1932 có 1.040.780 người Trung Quốc sinh sống trong Khu định cư Quốc tế, với 400.000 người khác trốn vào khu vực này. Ngày 13 tháng 8 năm 1937, quân đội Quốc hội và máy bay chiến đấu tấn công các vị trí Hàng Hải Nhật ở Thượng Hải, dẫn đến trận Thượng Hải. Ngày 14 tháng 8, máy bay Quốc dân Đảng đã vô tình đánh bom Khu định cư Quốc tế Thượng Hải, dẫn đến hơn 3.000 người chết vì dân thường.

So với Trân Châu Cảng Chín mươi phút sau khi bắt đầu, cuộc tấn công đã kết thúc. Hai ngàn tám thủy thủ đã thiệt mạng và 710 người khác bị thương; 218 binh lính và phi công (những người là một phần của Quân đội cho đến khi Không quân Hoa Kỳ độc lập được thành lập năm 1947) đã bị giết và 364 người bị thương; 109 thủy quân lục chiến đã thiệt mạng và 69 người bị thương; và 68 thường dân đã thiệt mạng và 35 người bị thương. Tổng cộng đã có 2.403 người Mỹ chết và 1.178 người bị thương. [91] 18 tàu ​​bị chìm hoặc bị mắc cạn, bao gồm 5 tàu chiến [10] [92]/ Tất cả những người Mỹ bị giết hoặc bị thương trong cuộc tấn công đều là phi chiến binh, vì thực tế không có tình trạng chiến tranh khi cuộc tấn công xảy ra. [23] [24] [93] USS Arizona trong cuộc tấn công USS Nevada, hỏa hoạn và xuống cung, cố gắng để lại bến cảng trước khi cố tình diễu hành. Trong số những người tử vong ở Mỹ, gần một nửa là do vụ nổ của tạp chí về phía trước của Arizona.

Bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

何日君再來 thực sự là một bài hát viết cho Tango dance của Lưu Tuyết Am vào năm 1930. Năm 1938, ca khúc được hát bởi ca sĩ nữ nổi tiếng 周璇 là bài hát chủ đề cho bộ phim 三星伴月. Bài hát rất nổi tiếng cũng như gây tranh cãi. Sự tranh cãi nảy sinh do các cách giải thích khác nhau và các bài đọc chính trị về ý nghĩa "ẩn" của nó. Lời bài hát được hiểu là chống lại Nhật Bản, phản bội, hoặc khiêu dâm.

Tuy nhiên, khi bài hát trở nên phổ biến ở các thành phố như Bắc Kinh, Tĩnh Tín và Thượng Hải, cơ quan chiếm đóng Nhật Bản đã cấm bài hát vì người Nhật nghĩ rằng 君 đã đề cập đến Quân đội Trung Quốc bị lật đổ.

Sau năm 1949, bài hát bị cấm bởi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vì nó được xem là tư sản và suy đồi [1]. [2] Lưu Tuyết Am bị phê bình và chịu đựng trong Phong trào Chống Bán nội bộ năm 1957 và trong Cách mạng Văn hoá vào những năm 1960, ông đã bị tra tấn vì bài hát này. Bởi vì bài hát này đã được hát bằng cả tiếng Trung và tiếng Nhật bởi Lý Hương Lan (李香蘭), vì vậy Hồng quân ngụ ý rằng 君 phải có nghĩa là Quân đội Hoàng gia Nhật Bản. Cả ông và vợ ông đều bị đánh đập tàn nhẫn. Vợ ông sau đó đã chết vì vết thương và Lưu Tuyết Am đã được gửi đến trại lao động trong nhiều năm chỉ vì bài hát này. Ông đã đưa ra một lời tự phê bình công khai vào năm 1980 trước khi ông được khôi phục, và được thả trở lại thành phố, nhưng lời chỉ trích của bài hát tiếp tục ở Trung Quốc đại lục một thời gian như một ví dụ về "Nhạc vàng", một sản phẩm của xã hội suy đồi và phi đạo đức, Bắc Kinh lại nói rằng 君 ngụ ý quân đội Quốc Dân Đảng tại Đài Loan [1]

Bài hát này cũng bị cấm ở Đài Loan vào thời của võ trang vì từ "quân" (君, jūn) (ở đây được sử dụng để nói về người, do đó được dịch là "bạn") giống như từ "quân" (軍, jūn, nghĩa là "quân đội"), do đó các nhà kiểm duyệt sợ rằng mọi người có thể kết hợp bài hát với Quân Giải phóng Nhân dân [3].

Lời bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Lời 1

好花不常开 Hoa đẹp không nở mãi
好景不常在 Cảnh đẹp không ở hoài
愁堆解笑眉 Buồn làm nét ngài hết tươi
泪洒相思带 Lệ rơi làm vẻ thương nhớ bớt
今宵离别后 Đêm nay chia biệt xong
何日君再来 Ngày nào anh trở lại ?
喝完了这杯 Uống xong chén rượu này
请进点小菜 Ra ngoài dùng mấy món
人生难得几回醉 Đời người mấy lúc được say
不欢更何待 Không vui đi còn đợi gì
(白)来来来 (nói) Tới đây...
喝完了这杯再说吧 Cạn chén rồi nói chuyện nhé
(唱)今宵离别后 (hát) Đêm nay chia biệt xong
何日君再来 Ngày nào anh trở lại

Lời 2

玉漏频相催 Nét đẹp tàn khiến lo âu
良辰去不回 Giờ lành đi không về
一刻千金价 Một giây giá nghìn vàng
痛饮莫徘徊 Gắng uống, bồi hồi trong dạ
今宵离别后 Đêm nay chia biệt xong
何日君再来 Ngày nào anh trở lại
喝完了这杯 Uống xong chén rượu này
请进点小菜 Ra ngoài dùng mấy món
人生难得几回醉 Đời người mấy lúc được say
不欢更何待 Không vui đi còn đợi gì
(白)来来来 (nói) Tới đây...
再敬你一杯 Thêm một chén nữa nhé
(唱)今宵离别后 Đêm nay chia biệt xong
何日君再来 Ngày nào anh trở lại

Điệp khúc

停唱阳光叠 Ngừng hát điệu Dương quan
重击白玉杯 Nâng thả chén ngọc trắng
殷勤频致语 Nói ân cần đôi tiếng
牢牢抚君怀 Ôm ấp anh trong lòng
今宵离别后 Đêm nay chia biệt xong
何日君再来 Ngày nào anh trở lại

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Chữ nghĩa bề đề - Đặng Trần Huân

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]