Hàm Phong

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hàm Phong Đế
咸豐帝
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
《咸丰皇帝朝服像》.jpg
Flag of the Qing dynasty (1889-1912).svg Hoàng đế Đại Thanh
Tại vị 9 tháng 3 năm 185022 tháng 8 năm 1861
(11 năm, 166 ngày)
Tiền nhiệm Thanh Tuyên Tông
Kế nhiệm Thanh Mục Tông
Thông tin chung
Phối ngẫu Hiếu Đức Hiển Hoàng hậu
Hiếu Trinh Hiển Hoàng hậu
Hiếu Khâm Hiển Hoàng hậu
Hậu duệ Thanh Mục Tông
Vinh An Cố Luân Công chúa
Tên đầy đủ Ái Tân Giác La Dịch Trữ
(愛新覺羅奕詝)
Niên hiệu Hàm Phong (咸丰)
Thụy hiệu Hiệp Thiên Dực Vận Chấp Trung Thùy Mộ Mậu Đức Chấn Vũ Thánh Hiếu Uyên Cung Đoan Nhân Khoan Mẫn Trang Kiệm Hiển Hoàng đế
(協天翊運執中垂謨懋德振武聖孝淵恭端仁寬敏莊儉顯皇帝)
Miếu hiệu Văn Tông (文宗)
Thân phụ Thanh Tuyên Tông
Thân mẫu Hiếu Toàn Thành Hoàng hậu
Sinh 17 tháng 7, 1831(1831-07-17)
Viên Minh Viên, Bắc Kinh
Mất 22 tháng 8, 1861 (30 tuổi)
Tị Thử Sơn Trang, Thừa Đức
An táng Thanh Đông lăng, Tuân Hóa

Thanh Văn Tông (chữ Hán: 清文宗; 17 tháng 7 năm 183122 tháng 8 năm 1861), thường được gọi là Hàm Phong Đế (咸豐帝), là vị Hoàng đế thứ 9 của triều đại nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc. Ông trị vì từ năm 1850 đến năm 1861, khoảng 11 năm với niên hiệuHàm Phong (咸豐). Ông là con trai thứ tư của Thanh Tuyên Tông Đạo Quang hoàng đế; mẹ là Hiếu Toàn Thành hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị.

Thụy hiệu sau khi mất của ông là Hiệp Thiên Dực Vận Chấp Trung Thùy Mô Mậu Đức Chấn Vũ Thánh Hiếu Uyên Cung Đoan Nhân Khoan Mẫn Trang Kiệm Hiển Hoàng đế (協天翊運執中垂謨懋德振武聖孝淵恭端仁寬敏莊儉顯皇帝).

Hãn hiệu là Đồ Cách Bá Nhĩ Ngạch Nhĩ Bách Đặc Hãn (chữ Hán:图格莫尔额尔伯特汗- tiếng Mãn: Түгээмэл Элбэгт хаан)

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hàm Phong tên thật là Dịch Trữ (奕詝, Yìzhǔ), sinh vào ngày 9 tháng 6 năm Đạo Quang thứ 11 (tức ngày 17 tháng 7, năm 1831) tại Viên Minh Viên (圆明园) ở Bắc Kinh. Dịch Trữ là Hoàng tử thứ tư, nhưng lại con trai lớn nhất của hoàng đế Đạo Quang lúc bấy giờ vì cùng năm đó Hoàng trưởng tử Dịch Vĩ (奕緯) mắc bệnh qua đời ở tuổi 23, Hoàng nhị tử Dịch Cương (奕綱) và Hoàng tam tử Dịch Kế (奕繼) lại mất sớm.

Vì là đích tử do hoàng hậu sinh, lại có tài văn thơ, viết lách từ bé nên Dịch Trữ được vua cha sủng ái nhất trong các hoàng tử.

Năm Đạo Quang thứ 26 (1847), lúc này ông đã 16 tuổi, Đạo Quang đã bí mật tuyển chọn ông làm Trữ quân (储君). Năm thứ 30, khi đang hấp hối, Đạo Quang soạn di chiếu sai đại thần đồng tôn làm Hoàng thái tử.

Thời gian trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

25 tháng 2 năm 1850, Đạo Quang hoàng đế băng hà. 9 tháng 3 năm 1850, Thái tử Dịch Trữ lên ngôi, trở thành Hàm Phong đế năm 19 tuổi, được xem là trẻ tuổi so với các hoàng đế đời trước.

Vừa lên ngôi, Hàm Phong phải đương đầu không chỉ với các thách thức đối nội, mà còn chứng kiến lãnh thổ Trung Quốc bắt đầu chịu sự xâm nhập mạnh mẽ của các đế quốc phương Tây. Hàng loạt cuộc khởi nghĩa nổi dậy khiến triều đại nhà Thanh dần bị suy yếu, đầu tiên là khởi nghĩa nông dân Thái Bình Thiên Quốc (太平天國) năm 1851 - 1864 do Hồng Tú Toàn (洪秀全) cầm đầu vào giữa thế kỷ 19. Năm kế tiếp là lực lượng vũ trang Niệp Quân hoạt động ở phía bắc Trường Giang chống lại chính quyền nhà Thanh năm 1851 - 1868.

Năm 1853, khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc tạm được dẹp loạn do Hàm Phong cử một vài vị tướng quan trọng tham gia cuộc chiến chống quân Thái Bình Thiên Quốc, trong đó có Tăng Quốc Phiên (曾國藩) và Tăng Cách Lâm Thấm (僧格林沁). Tiếp theo năm 1854 là cuộc bạo loạn do người H'Mông, hay còn gọi là người Miêu (苗) khởi xướng tại Vân Nam. Năm 1856 bắt đầu nổi dậy phong trào ly khai của người Hồi (回) theo Hồi giáo (còn gọi là cuộc nổi dậy Panthay) ở Vân Nam, cùng năm đó diễn ra Chiến tranh nha phiến lần thứ hai (1856 - 1860).

Lực lượng Anh-Pháp sau khi kích động vài cuộc chiến tại Thiên Tân đã cử nhà ngoại giao Harry Smith Parkes đến đàm phán với nhà nước Đại Thanh. Hàm Phong nghe lời xúi dục của Ý Phi Diệp Hách Ná Lạp thị (懿妃叶赫那拉氏) - phi tần kề cận tham gia chính sự cùng ông nhiều nhất, cho rằng Trung Quốc vẫn chiếm thế thượng phong nên không chấp thuận bất cứ đề nghị nào của thực dân Anh-Pháp. Ông cử Cung Thân Vương Dịch Hân (恭亲王奕訢) thay mặt ông đến đàm phán, nhưng kết cục mối quan hệ với quân Anh-Pháp rạn nứt khi Harry Smith Parkes bị bắt giam ngay trong cuộc đàm phát ngày 18 tháng 09.

18 tháng 09, 1856, tại quận Tông Châu quân xâm lược Anh-Pháp đụng độ và xảy ra trận chiến quyết liệt với đội quân Mông Cổ do Tăng Cách Lâm Thấm chỉ huy trước khi tiến đánh vùng ngoại ô thành phố Bắc Kinh. 21 tháng 09, 10.000 tướng sĩ của đội quân, bao gồm nhiều tướng sĩ tài giỏi xuất chúng đã bị lực lượng Anh-Pháp giết sạch bằng vũ khí hỏa lực trong Trận Bát Lý Kiều (diễn ra trên cầu Bát Lý). Sau đó, liên quân Anh-Pháp đánh chiếm Bắc Kinh vào 06 tháng 10 năm 1856.

Tháng 9, 1860, Hàm Phong cùng hoàng tộc phải rời Tử Cấm Thành đến Thừa Đức để lánh nạn. 18 tháng 10 năm 1860, liên quân Anh-Pháp liên tiếp bắn phá Vườn Viên Minh (圆明园) và Di Hòa viên, hay còn gọi là Cung điện Mùa hè (颐和园/頤和園) khiến Vườn Viên Minh bị phá hủy hoàn toàn, còn Di Hòa viên bị hư hại nặng. Nghe tin Vườn Viên Minh xa hoa tráng lệ bị đốt phá, Hàm Phong cảm thấy nhục nhã và đau buồn khôn xiết. Ông bắt đầu lạm dụng rượu và thuốc phiện khiến sức khỏe ngày càng suy sụp.

Dưới thời Hàm Phong đế, Trung Quốc mất đi một phần vùng đất Mãn Châu vào tay Đế quốc Nga. Theo Điều ước Ái Hồn (瑷珲条约) (1858), lãnh thổ giữa dãy núi Stanovoysông Amur phải nhượng lại cho Nga, và tương tự khu vực phía Đông của sông Ussuri theo Hiệp ước Bắc Kinh (北京條約) (1860). Sau Hiệp ước, người Nga đặt tên lãnh thổ vừa xáp nhập là thành phố Vladivostok.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lúc đàm phán với cường quốc Châu Âu, Hàm Phong cùng hoàng thất cũng như các cận thần trong triều lấy cớ đi săn bắn để trốn sang Nhiệt Hà, khi ấy ông đã yếu sức, không còn khả năng trị quốc. Ngày 22 tháng 8, năm 1861 (tức năm Tân Dậu), Hàm Phong băng hà ở Tị Thử Sơn trang[1].

Người kế vị chỉ có hoàng tử Tái Thuần (载淳), con trai duy nhất của Hàm Phong và Ý Quý phi (懿贵妃) lúc này mới 5 tuổi. Biết mình không qua khỏi, trước lúc lâm chung Hàm Phong ban cho chính thất là Hiếu Trinh Hiển Hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị (孝贞显皇后鈕祜祿氏) và Ý Quý phi mỗi người một con dấu với hy vọng cả hai sẽ hợp sức cùng nhau nuôi dạy hoàng đế tương lai khôn lớn. Ông cũng để di chiếu lại cho tám vị đại thần, đứng đầu bởi Túc Thuận, làm phụ chính hỗ trợ cho tiểu hoàng đế. Điều này có nghĩa thực quyền sẽ nằm trong tay nhóm tám vị này[2].

Sau khi Hàm Phong qua đời, Tải Thuần kế vị, trở thành tân đế dưới tên Đồng Trị, phong đích mẫu Hiếu Trinh Hiển Hoàng hậu làm Mẫu Hậu Hoàng thái hậu (母后皇太后) (tức Từ An Thái Hậu), sinh mẫu Ý Quý phi làm Thánh Mẫu Hoàng thái hậu (聖母皇太后) (tức Từ Hi Thái Hậu).

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Hàm Phong đế chết trẻ tuổi 30, chỉ vỏn vẹn sau 11 năm trị vì. Ông bị phê bình là vị vua kém cỏi, không có tài trị quốc, dung túng hậu phi can dự triều chính, khiến các hoàng đế đời sau phải chịu sự thao túng của Thái hậu nhiếp chính, dẫn đến triều đại nhà Thanh suy tàn, chấm dứt chế độ phong kiến.

Có thuyết kể hoàng đế tuổi trẻ vốn đam mê tửu sắc, trong Vườn Viên Minh tìm thấy loại xuân dược ông hay dùng. Ngoài tam cung lục viện, ông còn đặt ra "Ngũ Xuân Chi Sủng" (五春之宠) trong vườn gồm có: Thiên Địa Nhất Gia Xuân (天地一家春), tẩm cung của Ý Quý phi Diệp Hách Na Lạp thị, và 4 chữ "Xuân" khác là Hạnh Hoa Xuân (杏花春), Vũ Lăng Xuân (武陵春), Hải Đường Xuân (海棠春), Mẫu Đơn Xuân (牡丹春), đều là nơi ở của mĩ nữ Hán tộc[3]. Tương truyền theo gia pháp nhà Thanh, người Hán được phép nhập cung và ban danh phận rất ít, hoàng đế phải ưu tiên các cô gái Mãn Châu nên Hán nữ trong vườn được Hàm Phong sủng hạnh đều không phong hiệu. Tuy vậy, số lượng mĩ nữ nhiều vô số kể, trong đó có cả ca kỹgóa phụ. Ông thường xuyên tổ chức xem cải lương múa hát, uống rượu hoang dâm cùng các mĩ nữ phi tần. Điều này làm ông hao tổn sức khỏe đáng kể, sau thừa kế ngai vàng gặp nhiều biến cố quốc gia đại sự nên ông càng sa vào cơn nghiện nha phiến, trở nên suy sụp và qua đời sớm.

Hậu cung[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hoàng hậu:
    Hàm Phong đế khi mặc thường phục
  1. Hiếu Đức Hiển Hoàng hậu Tát Khắc Đạt thị (孝德顯皇后萨克达氏; 1831 - 1850), xuất thân từ Mãn Châu Tương Hoàng kỳ, con gái của Thái Thường tự Thiếu khanh Phú Thái (富泰). Nguyên là Phúc tấn của Hàm Phong khi ông còn là Hoàng tử, qua đời trước khi Hàm Phong kế vị. Không con cái.
  2. Hiếu Trinh Hiển Hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị (孝贞显皇后鈕祜祿氏; 1837 - 1881), xuất thân từ Mãn Châu Tương Hoàng kỳ, con gái của Mục Dương A (穆楊阿). Từ vị Trinh tần (貞嬪), phong lên Trinh Quý phi (貞貴妃) rồi Hoàng hậu. Thời Thanh Mục Tông tôn làm Từ An Hoàng thái hậu (慈安皇太后).
  3. Hiếu Khâm Hiển Hoàng hậu Diệp Hách Ná Lạp thị (孝钦显皇后叶赫那拉氏; 1835 - 1908), xuất thân từ Mãn Châu Tương Lam Kỳ, con gái của Huệ Trưng (惠徵). Bà nhập cung sách phong Lan Quý nhân (蘭貴人), tiến phong Ý Tần (懿嫔), rồi Ý Quý phi (懿貴妃). Hàm Phong Đế băng hà, bà được Thanh Mục Tông tấn tôn làm Ý Hoàng quý thái phi (懿皇貴太妃). Ngay sau đó, bà tiếp tục được tấn tôn làm Thánh Mẫu Hoàng thái hậu (聖母皇太后), hiệu là Từ Hi Hoàng thái hậu (慈禧皇太后). Năm 1875, bà được Thanh Đức Tông tấn tôn làm Từ Hi Thái hoàng thái hậu (慈禧太皇太后).
  • Hoàng quý phi:
  1. Trang Tĩnh Hoàng quý phi Tha Tha Lạp thị (莊靜皇貴妃他他拉氏; 1837 - 1890), con gái của Chủ sự Khánh Hải (慶海). Bà nhập cung được sách phong Lệ Quý nhân (麗貴人). Năm 1854, tiến phong Lệ tần (麗嬪) rồi Lệ phi (麗妃), trở thành sủng phi của Hàm Phong. Năm 1855 sinh Vinh An Cố Luân Công chúa, Hàm Phong không thể sủng hạnh bà trong vòng 100 ngày nên cho Ý Tần Diệp Hách Na Lạp thị tẩm. Ý Tần sau đó hạ sinh Hoàng tử Tái Thuần nên Lệ Phi ít được sủng ái hơn lúc trước. Sau khi Hàm Phong Đế băng hà, con trai duy nhất của ông là Hoàng tử Tái Thuần lên ngôi, bà được tôn làm Lệ Hoàng quý phi (麗皇貴妃). Năm 1875, bà được Thanh Đức Tông tấn tôn làm Lệ Hoàng quý thái phi (麗皇貴太妃).
  2. Đoan Khác Hoàng quý phi Đồng Giai thị (端恪皇貴妃佟佳氏; 1844 - 1910), sơ phong Kỳ tần (祺嫔) của Hàm Phong, được Thanh Mục Tông tấn tôn làm Hoàng Khảo Kỳ phi (皇考祺妃), Đức Tông tấn tôn làm Kỳ Quý phi (祺贵妃), Tuyên Thống Đế tấn tôn làm Kỳ Hoàng quý thái phi (祺皇贵太妃). Bà là phi tần duy nhất của Nhà Thanh sống qua 5 triều đại Hoàng đế từ Đạo Quang tới Phổ Nghi.
  • Quý phi:
  1. Mân Quý phi Từ Giai thị (玫貴妃徐佳氏; 1835 - 1890), sơ phong Mân tần (玟嫔) của Hàm Phong, từng bị phế làm Quan nữ tử (官女子) nhưng được phục vị, sinh Hoàng tử thứ 2 chết yểu. Bà được tấn tôn làm Quý phi dưới thời Đồng Trị. Qua đời trước Trang Trĩnh Hoàng quý phi 7 ngày và cùng được an táng tại Định Lăng - Phi Viên Tẩm. Sinh ra Mẫn Quận vương.
  2. Uyển quý phi Tác Xước Lạc thị (婉貴妃索绰络氏; mất 1894), sơ phong Uyển quý nhân, sau thăng Uyển tần, trở thành Uyển Thái tần dười thời Đồng Trị.Sau khi mất được Đồng Trị tấn tôn làm Hoàng Khảo Uyển phi (皇考婉妃). Năm 1874, bà tiếp tục được tấn tôn làm Uyển Quý phi (婉貴妃).
  • Phi:
  1. Lục phi Diệp Hách Na Lạp thị (璷妃葉赫那拉氏; mất 1895), phong hiệu Vũ Lăng Xuân (武陵春); là một trong Tứ Xuân nương nương (四春娘娘) của Hàm Phong, cả bốn người cùng được sách phong Quý nhân dưới thời Hàm Phong, tấn tôn lên bậc Tần dưới thời Đồng Trị và bậc Phi dưới thời Quang Tự (bao gồm; Lục phi, Hi phi, Cát phi, Khánh phi).
  2. Hi phi Sát Ha Lạp thị (禧妃察哈拉氏; mất 1877), phong hiệu Hải Đường Xuân (海棠春).
  3. Cát phi Vương thị (吉妃王氏; mất 1905), phong hiệu Mẫu Đơn Xuân (牡丹春).
  4. Khánh phi Trương thị (慶妃张氏; mất 1885), phong hiệu Hạnh Hoa Xuân (杏花春).
  • Tần:
  1. Vân tần Võ Giai thị (雲嬪武佳氏).
  2. Dung tần Y Nhĩ Căn Giác La thị (容嬪伊尔根觉罗氏).
  3. Thục tần Diệp Hách Na Lạp thị (璹嫔叶赫那拉氏).
  4. Ngọc tần Diệp Hách Na Lạp thị (玉嬪叶赫那拉氏), em gái của Thục tần.
  • Thường tại:
  1. Bình Thường tại Y Nhĩ Căn Giác La thị (玶常在伊尔根觉罗氏), ban đầu được sách phong Anh Quý nhân (英贵人), Anh tần (英嫔). Năm 1856, giáng làm Y Đáp ứng (伊答應), năm 1857 hồi vị Thường tại.
  2. Xuân Thường tại (瑃常在).
  3. Hâm Thường tại (鑫常在).

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hoàng nam:
  1. Hoàng trưởng tử Tái Thuần (载淳), tức Mục Tông Nghị hoàng đế (穆宗毅皇帝), mẹ là Hiếu Khâm Hiển Hoàng hậu.
  2. Hoàng nhị tử Mẫn Quận vương (悯郡王); mẹ là Mân Quý phi.
  • Hoàng nữ:
  1. Vinh An Cố Luân Công chúa (荣安固伦公主; 1855 - 1875), mẹ là Trang Tĩnh Hoàng quý phi. Tuy không phải đích nữ do hoàng hậu sinh nhưng Hàm Phong vẫn đặc cách phong làm Cố Luân (固伦) thay vì Hòa Thạc Công chúa (和硕公主) theo đúng cách gọi của Quý tộc nhà Thanh.
  • Dưỡng tử:
  1. Vinh Thọ Cố Luân công chúa (荣壽固伦公主; 1854 - 1924), dưỡng nữ, con gái của Cung Thân vương Dịch Hân.
  2. Tải Điềm (·載湉, 1871 – 1908), sinh sau khi Hàm Phong qua đời, con trai của Thuần Hiền Thân vương Dịch Hoàn (醇贤亲王), em cùng cha khác mẹ với Hàm Phong và người vợ là Diệp Hách Na Lạp thị, em gái Hiếu Khâm Hiển Hoàng hậu. Năm 1875 được Hiếu Khâm Hiển Hoàng hậu nhận làm con nuôi để chính thức kế vị sau khi Tải Thuần băng hà, trở thành Thanh Đức Tông Quang Tự hoàng đế.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Edward Behr, The Last Emperor, 1987, p. 44
  2. ^ Sui Lijuan: Carrying out the Coup. CCTV-10 Series on Cixi, Ep. 4
  3. ^ “Nguyên nhân cái chết của hoàng đế Hàm Phong”.