Hàn Quốc trong chiến tranh Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Chính phủ Quốc gia Đại Hàn Dân Quốc đối địch với chính quyền Cộng sản Bắc Hàn ở tại Triều Tiên, dưới sự quản lý của Park Chung-hee, đã đóng một vai trò tích cực trong Chiến tranh Việt Nam. Từ tháng 9 năm 1964 đến tháng 3 năm 1973, Hàn Quốc đã gửi hơn 300.000 quân đến Nam Việt Nam. Quân đội Hàn Quốc, Thủy quân lục chiến, Hải quânKhông quân đều tham gia với tư cách là đồng minh của Hoa Kỳ. Số lượng binh sĩ từ Hàn Quốc lớn hơn nhiều so với quân đội đến từ ÚcNew Zealand, và chỉ đứng sau lực lượng quân đội Hoa Kỳ trong tổng quân đội nước ngoài ở Nam Việt Nam. Chỉ huy quân sự là Trung tướng Chae Myung-shin của quân đội Hàn Quốc.

Nguyên nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng thống Hoa Kỳ Lyndon Johnson đã thông qua sự tham gia của nước ngoài vào cuộc chiến như là một thành phần quan trọng trong chiến lược của Mỹ đối với Việt Nam. Hàn Quốc đã đưa ra đề nghị gửi quân đến Nam Việt Nam ngay từ năm 1954, nhưng những điều này đã bị từ chối. Yêu cầu đối tác liên minh của MACV trong các chiến dịch Nhiều lá cờ được đưa ra và Hàn Quốc là một trong những quốc gia ngoài SEATO (Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á) tham gia, với lời hứa về đòn bẩy ngoại giao và viện trợ tài chính cho Hàn Quốc.[1] Người Hàn Quốc sẽ tạo thành lực lượng lớn thứ hai sau Hoa Kỳ với tư cách là một quân đội nước ngoài.

[2]

Thanh toán kinh tế để đổi lấy sự tham gia của Hàn Quốc là một nguyên nhân cơ bản cho sự tham gia này, với một phiên điều trần của Tiểu bang Hạ viện do J. William Fulbright chủ trì chỉ trích việc triển khai lực lượng Hàn Quốc giống như "thuê lính đánh thuê".[3] Việc tham gia chiến đấu có liên quan trực tiếp đến bồi thường tiền tệ, và trong thời kỳ Việt Nam hóa chiến tranh, Park Chung-hee yêu cầu bồi thường thêm để Hàn Quốc có vai trò chiến đấu trực tiếp hơn, điều mà Mỹ không muốn làm.

Hàn Quốc vào thời điểm đó đã bị báo động bởi kế hoạch của Hoa Kỳ để chuyển hai sư đoàn quân sự của họ đóng quân tại Hàn Quốc sang Việt Nam, và sự thay đổi lực lượng có thể ảnh hưởng tới an ninh của Hàn Quốc, đặc biệt là việc chống lại Triều Tiên. Nó cũng thấy Nhật Bản đã phục hồi kinh tế như thế nào trong Chiến tranh Triều Tiên tàn phá, và nhìn thấy cơ hội tương tự ở Việt Nam. Một số binh sĩ thấy mình phải trả ơn cho những hy sinh mà người Mỹ đã làm trong Chiến tranh Triều Tiên, nhưng nhiều người cũng nhìn thấy cơ hội tăng lương và chiến đấu để hỗ trợ gia đình họ vì Hàn Quốc vẫn còn nghèo đói.[4] Mức lương trung bình cho dịch vụ tại Việt Nam là 37,50 đô la mỗi tháng, cao hơn mức lương cơ bản 1,60 đô la mỗi tháng khi trở về nước mặc dù phần lớn được chính phủ Hàn Quốc thực hiện.[5]

Vai trò của quân đội Hàn Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Các đơn vị đầu tiên của quân đội Hàn Quốc đã đến Nam Việt Nam vào tháng 2/1965, trong một nhóm lữ đoàn được gọi là Lực lượng Dove. Những người này bao gồm các kỹ sư, một đơn vị MASH, cảnh sát quân sự, một LST hải quân, nhân viên liên lạc và các nhân viên hỗ trợ khác. Lực lượng Dove đã được triển khai đến khu vực Biên Hòa của miền Nam Việt Nam, và giúp xây dựng trường học, đường sá và cầu. Các đội y tế được báo cáo đã điều trị cho hơn 30.000 thường dân Nam Việt Nam.  Các hoạt động dân sự ở phần phía nam của chiến dịch được báo cáo là đã có một số thành công.[6] Ngoài các lực lượng chiến đấu và không chiến đấu, Hàn Quốc đã gửi khoảng 100.000 công nhân dân sự đến Nam Việt Nam, làm việc trong các nhiệm vụ kỹ thuật và dân sự.[7]

Báo cáo tội ác chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Vụ thảm sát Phong Nhị và Phong Nhất được xác nhận là do lực lượng Hàn Quốc tiến hành, trong khi họ cũng bị cáo buộc đã gây ra vụ thảm sát tại Bình An / Tây Vinh,[8] Bình HòaHà Mỹ. Những sự cố tiếp theo được cho là đã xảy ra tại làng An Linh và Vinh Xuân ở tỉnh Phú Yên.[9] Báo Newsweek cho biết các vụ thảm sát như ở Vinh Xuân được các nhân chứng mô tả là vụ thảm sát trẻ em và toàn bộ gia đình trong nỗ lực triệt hạ ba tỉnh duyên hải miền trung, với những vụ giết người bừa bãi khiến dân làng gia nhập hàng ngũ của Việt Cộng.[9]

Năm 1972, các thành viên American Friends Service Committee, Diane và Michael Jones đã xem xét các tỉnh Quảng Ngãi và Quảng Nam nơi các lực lượng Hàn Quốc đã hoạt động và cáo buộc họ đã tiến hành 45 vụ thảm sát trong đó có 13 thường dân bị giết hại.[10][11] Trong hai tỉnh này, vụ thảm sát Phong Nhị và Phong Nhất được xác nhận đã xảy ra.[11]

Tác động đến Việt Nam và Hàn Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://www.dtic.mil/dtic/tr/fulltext/u2/a237979.pdf
  2. ^ Hunt, Richard A. (2015). Melvin Laird and the Foundation of the Post-Vietnam Military, 1969-1973 (bằng tiếng Anh). Government Printing Office. tr. 352–355. ISBN 9780160927577. 
  3. ^ http://publication.gsis.snu.ac.kr/?doad_doc_id=6469
  4. ^ Kwon, Heonik (10 tháng 7 năm 2017). “Opinion - Vietnam's South Korean Ghosts” – qua NYTimes.com. 
  5. ^ Korea's Amazing Century: From Kings to Satellites (bằng tiếng Anh). James F. Larson. tr. 36–37. 
  6. ^ Larsen, Stanley Robert (15 tháng 8 năm 2014). Vietnam Studies - Allied Participation In Vietnam [Illustrated Edition]. ISBN 9781782893714. 
  7. ^ Lee, Jin-kyung (2010). Service Economies: Militarism, Sex Work, and Migrant Labor in South Korea (bằng tiếng Anh). U of Minnesota Press. tr. 37. ISBN 9780816651252. 
  8. ^ “[Reportage part I] S. Koreans apologize on 50th anniversary of Vietnam War massacres”. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2018. 
  9. ^ a ă “Apocalypse Then”. Newsweek. 9 tháng 4 năm 2000. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2018. 
  10. ^ Baldwin, Frank; Jones, Diane; Jones, Michael (c. 1970-1977). America's rented troops: South Koreans in Vietnam. American Friends Service Committee.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  11. ^ a ă Journal, The Asia Pacific. “Anatomy of US and South Korean Massacres in the Vietnamese Year of the Monkey, 1968 | The Asia-Pacific Journal: Japan Focus”. apjjf.org. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2018.