Seoul

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Hán Thành)
Jump to navigation Jump to search
Seoul
서울시
—  Thành phố đặc biệt  —
Thành phố Đặc biệt Seoul
서울특별시
Seoul montage.
Thông tin về hình này
Hiệu kỳ của Seoul
Hiệu kỳ
Ấn chương chính thức của Seoul
Ấn chương
Vị trí Seoul trên bản đồ Hàn Quốc
Vị trí Seoul trên bản đồ Hàn Quốc
Seoul trên bản đồ Hàn Quốc
Seoul
Seoul
Seoul trên bản đồ Asia
Seoul
Seoul
Seoul trên bản đồ Trái Đất
Seoul
Seoul
Quốc gia  Hàn Quốc[1]
Vùng Vùng thủ đô Seoul
Khu
Chính quyền
 • Kiểu Chính quyền Thành phố Đặc biệt Seoul
Chính quyền thị trưởng-hội đồng
 • Thị trưởng Park Won-soon (Dân chủ)
 • Hội đồng Hội đồng Thành phố Đặc biệt Seoul
 • Đại biểu Quốc dân
 - Quốc hội
49 / 300
16.3% (tổng số ghế)
49 / 253
19.4% (ghế bầu cử)
Diện tích[2]
 • Thành phố đặc biệt 605,21 km2 (23,367 mi2)
Độ cao 38 m (125 ft)
Dân số (2018[3])
 • Thành phố đặc biệt 9.838.892
 • Mật độ 0.00.016/km2 (0.00.042/mi2)
 • Vùng đô thị 25.600.000
 • Tên gọi dân cư 서울 사람 (Seoul saram). 서울시민 (Seoul-si-min). Seoulite
 • Phương ngữ Phương ngữ Seoul
Múi giờ UTC+9 sửa dữ liệu
Mã ISO 3166 KR-11 sửa dữ liệu
Thành phố kết nghĩa San Francisco, Cairo, Jakarta, New Delhi, Đài Bắc, Ankara, Guam, Tehran, Bogotá, Tokyo, Moskva, Sydney, Bắc Kinh, Ulaanbaatar, Hà Nội, Warszawa, Astana, Athena, Washington, Bangkok, Tirana, São Paulo, Delhi, Buenos Aires, Thành phố México, Rio de Janeiro, Quận Honolulu, Paris, Roma, Thành phố New York sửa dữ liệu
Chim Chim ô thước
Màu Đỏ Seoul[4]
Hoa Hoa liên kiều
Phong cảnh Phong cảnh Seoul (sông HánNamsan)[5]
Linh vật Haechi
Khẩu hiệu "I·SEOUL·U"[6]
Bài hát "S.E.O.U.L"
Cây Cây bạch quả
GDP (PPP) (Thành phố Đặc biệt) 407 tỉ US$[7]
GDP (PPP) bình quân đầu người (Thành phố Đặc biệt) 41,126 US$ [8][9]
Trang web seoul.go.kr
Hangugeo-Chosonmal.svg
Bài viết này có chứa các ký tự tiếng Hàn. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các ký tự Chosŏn'gŭl hay Hanja.

Seoul (Hangul: 서울; Bính âm từ Hoa ngữ: Hán Thành  ; Phiên âm Tiếng Việt: Xê-un hay Xơ-un, Hán-Việt từ năm 2005: Thủ Nhĩ) là thủ đô của Hàn Quốc, nằm bên Sông Hán ở phía tây bắc Hàn Quốc. Thành phố cách biên giới với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên 50 km về phía nam (Khu phi quân sự Triều Tiên). Seoul là một thành phố cổ, từng là kinh đô của Bách Tế (18 TCN – 660) và Triều đại Triều Tiên (1392-1910). Thành phố đã trở thành thủ đô của Hàn Quốc sau khi thành lập chính phủ Hàn Quốc năm 1948. Seoul là một thành phố đặc biệt, trực thuộc trung ương. Với dân số hơn 10 triệu, Seoul là thành phố lớn nhất Hàn Quốc và là một trong những thành phố lớn nhất thế giới tính theo dân số[10]. Diện tích chỉ 605 km², nhỏ hơn Luân Đôn hay Thành phố New York, đây là một trong những thành phố lớn có mật độ dân số cao nhất thế giới. Seoul cũng là một trong những thành phố có kết nối số nhiều nhất thế giới với số người sử dụng Internet nhiều hơn tất cả Châu Phi hạ Sahara, trừ Cộng hòa Nam Phi ra[11]. Seoul còn là một trong 20 thành phố toàn cầu. Vùng thủ đô Seoul bao gồm cả thành phố cảng lớn Incheon và tỉnh Gyeonggi, có tổng cộng 25 triệu dân sinh sống[12], là vùng đô thị lớn thứ hai thế giới sau Vùng thủ đô Tokyo, chiếm một nửa dân số Hàn Quốc cùng với 632.000 người nước ngoài[13]. Hầu như một nửa dân Hàn Quốc sống ở Vùng thủ đô Seoul khiến nó trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của quốc gia này. Thành phố đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của Hàn Quốc và đã được xem là "Kỳ tích sông Hán".

Seoul có 3 triệu xe đăng ký và nạn kẹt xe xảy ra thường xuyên. Những năm gần đây, chính quyền vùng thủ đô đã áp dụng nhiều biện pháp để làm sạch nước và không khí bị ô nhiễm. Sự phục hồi của con suối trong trung tâm thành phố Cheonggyecheon đã là một dự án làm đẹp đô thị lớn.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lịch sử Seoul
Cung điện Gyeongbokgung

Sự định cư của con người ở vùng lưu vực sông Hán, nơi có Seoul ngày nay, bắt đầu vào năm 4000 TCN.

Lịch sử của Seoul có thể quay về từ 18 TCN, khi đây là kinh đô Wiryeseong của triều đại Bách Tế (thành lập năm 18 TCN) ở khu vực đông bắc Seoul. Có một số bức tường thành còn lại trong khu vực đó kể từ thời điểm này. Pungnaptoseong, một bức tường bằng đất ở ngay bên ngoại ô Seoul, được cho là đã có mặt tại vị trí chính của Wiryeseong. Khi 3 nước Tam Quốc tranh giành vùng chiến lược này, sự kiểm soát đã chuyển từ Bách Tế sang Cao Câu Ly vào thế kỷ thứ 5 và từ Cao Câu Ly đến Tân La vào thế kỷ thứ 6.

Trong thế kỷ 11, sau khi đánh bại được Tân La Thống nhất, triều đình Cao Câu Ly xây dựng một cung điện mùa hè ở Hanesong (Seoul ngày nay), được gọi là "Kinh đô phía Nam". Chỉ từ thời kỳ này, Seoul trở thành một khu vực đông dân cư hơn. Khi nhà Triều Tiên (còn gọi là Joseon) thay thế Cao Câu Ly, kinh đô được dời hẳn đến Hanesong (Hán Thành), và trở thành kinh đô của nhà Triều Tiên cho đến khi triều đại sụp đổ năm 1910. Cung điện Gyeongbokgung, được xây dựng vào thế kỷ 14, là dinh thự của hoàng gia cho đến năm 1592. Cung điện lớn khác, Changdeokgung, được xây dựng năm 1405, phục vụ như là cung điện hoàng gia từ năm 1611 đến năm 1872. Sau khi nhà Triều Tiên đổi tên thành Đế quốc Đại Hàn năm 1897, Hanesong cũng được đổi tên thành Seoul như ngày nay.

Ban đầu, thành phố này hoàn toàn bị bao quanh bởi một bức tường đá tròn để bảo vệ người dân an toàn trước thú dữ, trộm cướp và các cuộc tấn công quân sự từ nội loạn và ngoại bang. Sau đó, thành phố đã phát triển vượt ra khỏi những bức tường và mặc dù chúng không còn tồn tại nữa (ngoại trừ núi Bugaksan (Hangul: 북악산 Hanja: 北岳 山), phía bắc khu vực trung tâm thành phố, các tường thành vẫn nằm gần khu trung tâm thành phố Seoul, bao gồm cả Sungnyemun (thường được gọi là Namdaemun) và Heunginjimun (thường được gọi là Dongdaemun). Trong triều đại Joseon, các cửa được mở và đóng cửa mỗi ngày, cùng với tiếng chuông lớn ở tháp chuông Bosingak. Vào cuối thế kỷ 19, sau hàng trăm năm cô lập, Seoul đã mở cửa cho người nước ngoài và bắt đầu hiện đại hóa. Seoul đã trở thành thành phố đầu tiên ở Đông Á sử dụng điện trong cung điện hoàng gia, được xây dựng bởi Công ty chiếu sáng Edison và một thập kỷ sau đó, Seoul cũng đã xây dựng hoàn thiện các đèn đường điện.

Phần lớn sự phát triển này của Seoul là do những hoạt động thương mại với nước ngoài như PhápHoa Kỳ. Ví dụ: Công ty Điện của Seoul, Công ty Xe điện Đệ nhất của Seoul và Công ty Nước Nóng Nước Seoul đều là các doanh nghiệp liên doanh Mỹ gốc Hàn. Vào năm 1904, một người Mỹ tên là Angus Hamilton đã viếng thăm thành phố và nói, "Các đường phố ở Seoul rất thanh lịch, rộng rãi, sạch đẹp, gây ấn tượng và thoát nước tốt. Những làn đường hẹp và bẩn đã được cải tạo và mở rộng, Seoul đã vươn lên mạnh mẽ để trở thành một trong những thành phố phát triển nhanh nhất, hấp dẫn và sạch nhất ở phương Đông.

Trong thời kỳ Triều Tiên thuộc Nhật, thành phố được mang tên tiếng NhậtKeijo. Công nghệ của Nhật đã được nhập khẩu vào thành phố, các bức tường thành đã được gỡ bỏ, một số cửa thành bị phá hủy. Các con đường trở thành các công trình lát gạch và xây dựng theo phong cách phương Tây. Thành phố được giải phóng vào cuối Thế chiến thứ II.

Năm 1945, thành phố được chính thức đặt lại tên cũ là Seoul, và được chỉ định là một thành phố đặc biệt của Hàn Quốc vào năm 1949.

Trong chiến tranh Triều Tiên, Seoul được xem là chiến trường chính và nhiều lần bị tranh giành xâu xé giữa quân đội Bắc Triều TiênHàn Quốc, khiến thành phố gần như bị phá hủy hoàn toàn sau chiến tranh. Thủ đô Hàn Quốc phải tạm thời di dời đến Busan. Một ước tính về các thiệt hại to lớn cho thấy rằng sau chiến tranh, ít nhất 191.000 tòa nhà, 55.000 ngôi nhà, và 1.000 nhà máy bị tàn phá. Ngoài ra, một đợt người tị nạn đã vào Seoul trong lúc chiến tranh, làm dân số của thành phố và khu vực đô thị của nó tăng lên đến một ước tính khoảng 1,5 triệu vào năm 1955.

Sau chiến tranh, Seoul bắt đầu tập trung vào việc tái thiết và hiện đại hóa. Khi nền kinh tế Hàn Quốc bắt đầu phát triển nhanh chóng từ những năm 1960, quá trình đô thị hóa cũng tăng tốc và công nhân bắt đầu chuyển tới Seoul và các thành phố lớn khác. Từ những năm 1970, quy mô của khu vực hành chính Seoul đã mở rộng đáng kể khi nó sáp nhập một số thị trấn và làng mạc từ một số quận hạt xung quanh. Những chính sách kinh tế năng nổ thập niên 1960 và thập niên 1970 đã giúp tái thiết thành phố rất nhanh. Seoul chính là đầu tàu tạo nên kì tích sông Hán kỳ diệu cho nền kinh tế Hàn Quốc.

Nhiều cuộc chiến tranh quy mô lớn trong thế kỷ XX đã khiến nhiều di tích lịch sử của Seoul bị phá hủy. Trong thập niên 1990, nhiều công trình lịch sử đã được phục dựng, bao gồm Cung Gyeongbok (Cảnh Phúc), cung điện chính của triều đại Triều Tiên.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố được biết đến trong quá khứ bởi các tên gọi kế tiếp nhau như Wiryeseong (âm Hán Việt: Úy Lễ Thành; ; Bách Tế), Hanyang (Hán Dương; ) và Hanseong (Hán Thành; ; Cao LyTriều Tiên). Tên hiện nay lấy từ tên trong từ Hàn cổ Seorabeol hay Seobeol, có nghĩa là "kinh thành", trước kia dùng cho Gyeongju (Khánh Châu), kinh đô của vương quốc Tân La xưa kia.

Không giống như các địa danh khác ở Hàn Quốc, "Seoul" không có chữ Hán tương đương. Ngày 18 tháng 1 năm 2005, chính quyền Seoul chính thức sử dụng tên Shou'er (giản thể: 首尔; phồn thể: 首爾; bính âm: shǒu'ěr, phiên âm Hán ViệtThủ Nhĩ) thay cho tên gọi lịch sử nhưng không còn phổ biến, Hán Thành (giản thể: 汉城; phồn thể: 漢城; bính âm: hànchéng).[14][15][16]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Đông Cung Đồ, bức tranh nổi tiếng mô phỏng cung điện Changdeokgung

Seoul nằm ở phía tây bắc Hàn Quốc, với diện tích đất đai ước tính khoảng 605,52 km² với bán kính khoảng 15 km, bị chia cắt thành hai nửa bắc và nam bởi sông Hán, thành phố này được bao quanh bởi 8 ngọn núi cũng như những vùng đất của đồng bằng sông Hán và khu vực phía tây. Sông Hán đã đóng một vai trò quan trọng trong suốt chiều dài lịch sử Triều Tiên. Thời Tam Quốc ở Triều Tiên, ba quốc gia luôn cố gắng giành quyền kiểm soát vùng đất này, nơi mà có con sông được dùng làm trạm thông thương tới Trung Quốc (qua biển Hoàng Hải). Tuy nhiên con sông này hiện nay không còn được sử dụng với mục đích hàng hải nữa do cửa sông nằm trên biên giới giữa hai miền Triều Tiên và bị chắn không cho dân thường qua lại.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng giống như phần lớn các vùng khác ở Hàn Quốc, Seoul có khí hậu ôn đới lục địa, bất chấp việc Hàn Quốc bị vung quanh bởi ba mặt đều là biển. Mùa hè bình thường khí hậu nóng và ẩm, với mùa mưa kéo dài từ tháng 6 đến tháng 9. Tháng 8 là tháng nóng nhất trong năm, có nhiệt độ trung bình từ 22 °C đến 30 °C (72 °F đến 86 °F) và cũng có thể nóng hơn. Mùa đông thường rất lạnh nếu so sánh với các vùng ở cùng vĩ độ, với nhiệt độ trung bình tháng giêng từ -10 °C đến 1 °C (19 °F đến 33 °F), mùa đông thường khô hơn rất nhiều so với mùa hè dù bình thường trong một năm ở Seoul có khoảng 28 ngày là có tuyết.

Dữ liệu khí hậu của Seoul (1981–2010, cao kỉ lục/thấp kỉ lục 1907–nay)
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 14.4 18.7 23.8 29.8 34.4 37.2 38.4 38.2 35.1 30.1 25.9 17.7 38,4
Trung bình cao °C (°F) 1.5 4.7 10.4 17.8 23.0 27.1 28.6 29.6 25.8 19.8 11.6 4.3 17,0
Trung bình ngày, °C (°F) −2.4 0.4 5.7 12.5 17.8 22.2 24.9 25.7 21.2 14.8 7.2 0.4 12,5
Trung bình thấp, °C (°F) −5.9 −3.4 1.6 7.8 13.2 18.2 21.9 22.4 17.2 10.3 3.2 −3.2 8,6
Thấp kỉ lục, °C (°F) −22.5 −19.6 −14.1 −4.3 2.4 8.8 12.9 13.5 3.2 −5.1 −11.9 −23.1 −23,1
Giáng thủy mm (inch) 20.8
(0.819)
25.0
(0.984)
47.2
(1.858)
64.5
(2.539)
105.9
(4.169)
133.2
(5.244)
394.7
(15.539)
364.2
(14.339)
169.3
(6.665)
51.8
(2.039)
52.5
(2.067)
21.5
(0.846)
1.450,5
(57,106)
độ ẩm 59.8 57.9 57.8 56.2 62.7 68.1 78.3 75.6 69.2 64.0 62.0 60.6 64,4
Số ngày giáng thủy TB (≥ 0.1 mm) 6.5 5.8 7.4 7.8 9.0 9.9 16.3 14.6 9.1 6.3 8.7 7.4 108,8
Số ngày tuyết rơi TB 8.0 5.2 3.4 0.1 0.0 0.0 0.0 0.0 0.0 0.1 2.1 6.1 24,9
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 160.3 163.3 189.0 205.0 213.0 182.0 120.0 152.5 176.2 198.8 153.2 152.6 2.066,0
Tỷ lệ khả chiếu 52.3 53.6 51.0 51.9 48.4 41.2 26.8 36.2 47.2 57.1 50.2 51.1 46,4
Nguồn: Korea Meteorological Administration[17][18][19] (Tỷ lệ khả chiếu, ngày tuyết)[20]

Cảnh quan thành phố[sửa | sửa mã nguồn]

Trung tâm cũ của Seoul thời vương triều Triều Tiên hiện nay là một nơi kinh doanh sầm uất, phần lớn những cung điện, văn phòng chính phủ, trụ sở các tập đoàn, khách sạn và chợ truyền thống đều nằm ở đây. Vùng nay bao phủ châu thổ Cheonggyecheon, với một dòng suối nhỏ chạy từ tây tới đông qua châu thổ trước khi đổ ra sông Hán. Trong nhiều năm, dòng suối này đã được tu bổ bằng xi măng và gần đây được khôi phục qua một dự án phục sinh đô thị. Về phía bắc của khu kinh doanh là ngọn núi Bukhan (Bắc Hán), về phía nam là ngọn núi Namsan (Nam Sơn) nhỏ hơn. Tiến sâu nữa về phía nam là vùng ngoại ô khu Yongsan (Long Sơn), khu Maposông Hán. Qua con sông Hán là vùng khu Gangnam, khu Seocho rất phát triển. Trung tâm Thương mại Thế giới Hàn Quốc nằm ở khu Gangnam, rất nhiều triển lãm và hội nghị được tổ chức tại đây. Tại khu Gangnam còn có COEX Mall, một trung tâm giải trí và mua sắm trong nhà lớn ở Seoul. Bamseom là một hòn đảo nằm giữa con sông Hán gần Yeouido và trụ sở của quốc hội cũng như các kênh truyền hình lớn và một vài tòa nhà hành chính. Sân vận động Olympic, công viên Olympic và Lotte World nằm ở khu Songpa, bờ nam sông Hán. phía nam vùng Gangnam là các ngọn núi Namhan (Nam Hán), CheonggyeGwanak.

Các công trình đáng chú ý tại Seoul có thể kể đến Tòa nhà Tài chính Hàn Quốc, Tháp N Seoul, và Trung tâm thương mại thế giới Seoul, Tòa nhà 63 và sáu tòa cao ốc dân dụng Tower Palace. Những kế hoạch phát triển đô thị đã trở thành một khái niệm quan trọng khi Seoul được thiết kế để trở thành thủ đô vào cuối thế kỷ XIV. Cung điện của vương triều Triều Tiên hiện vẫn nằm ở Seoul, với cung chính, Cung Gyeongbok, hiện đang được khôi phục nguyên trạng. Ngày nay, ở Seoul có 8 đường xe điện ngầm trải dài hơn 250 km.

Con đường đậm chất lịch sử nhất ở Seoul là đường Cái Chuông, trên con đường này người ta có thể thấy Phổ Tín Các (Bosingak), một ngôi đình có một chiếc chuông lớn. Chiếc chuông rung bốn lần trong ngày, vì vậy mà có thể kiểm soát được bốn cổng chính vào thành phố. Bây giờ thì chiếc chuông này chỉ còn được rung vào nửa đêm trong dịp năm mới, khi đó nó sẽ được rung 30 lần.

Con đường ô tô quan trọng nhất của Seoul trước đây chạy dọc đường Cái Chuông, nhưng đến đầu thập niên 1970, nó đã bị thay bởi đường ray số 1 của hệ thống tàu điện ngầm. Một vài con đường nổi tiếng khác ở Seoul bao gồm đường Eulji, đường Teheran, đường Thế Tông, đường Chungmu, đường Yulgong, và đường Toegye.

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Seoul có mật độ dân số rất cao, gần gấp đôi New York và cao gấp 8 lần so với Rome. Khu vực đô thị của thành phố được xem là nơi có mật độ dân số cao nhất trong OECD ở châu Á vào năm 2012 và đứng thứ hai trên thế giới sau Paris. Tính đến năm 2015, dân số là 9,86 triệu, vào năm 2012 là 10.442.426. Tính đến cuối tháng 6 năm 2011, 10.29 triệu công dân Hàn Quốc đã sống trong thành phố. Con số này giảm 0,24% so với cuối năm 2010. Dân số của Seoul đã giảm từ đầu những năm 1990, nguyên nhân là do chi phí sinh hoạt ngày càng đắt đỏ và dân số quá đông.

Hầu hết những người dân của Seoul là người Triều Tiên cùng với một số ít người Trung QuốcNhật Bản. Ngày nay, 200.000 người nước ngoài được ước tính đang sống tại Seoul, những người này bao gồm người từ Nam Á, Đông Nam Á, Trung Á, Châu Phi, Châu Âu, Châu Đại DươngChâu Mỹ. Tỉ lệ phạm pháp ở Seoul là rất thấp. Dù một nửa dân số không theo đạo, hai đạo phổ biển ở Seoul là đạo Phậtđạo Cơ Đốc (mỗi đạo chiếm khoảng 25%). Những đạo khác bao gồm Shaman giáoNho giáo, tuy nhiên hai đạo sau được nhìn nhận như là triết lý phổ biển của xã hội hơn.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Cheonggyecheon chảy qua khu trung tâm Seoul
khu thương mại ở Gangnam-gu

Với việc là nơi đặt trụ sở đầu não của một vài tập đoàn lớn nhất thế giới như Samsung, tập đoàn LG, HyundaiXe ô-tô Kia, lĩnh vực dịch vụ tại Seoul đã phát triển nhanh chóng, đóng góp cho nền kinh tế quốc gia cũng như sự phát triển của đất nước. Hàn Quốc thu được 63,2% GDP từ khu vực dịch vụ, trên cả thu nhập quốc gia bình quân. Các sản phẩm xuất khẩu chính là hàng điện tử, ô tô và thiết bị máy móc. Sự phát triển kinh tế này cũng giúp tỉ lệ thất nghiệp chỉ giữ ở mức 3,4%. Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cũng cao, vào khoảng 2 tỉ dollar Mỹ. Tuy nhiên, Hàn Quốc có thể bị đe dọa với một nền kinh tế đang tăng trưởng chậm và điều này có thể ảnh hưởng tới chính Hàn Quốc cũng như sự phát triển của đất nước này. Là một trong "bốn con hổ của châu Á", Hàn Quốc đã trải qua một giai đoạn phát triển vượt bậc vào những năm 90. Tuy nhiên, tài liệu của CIA đã chỉ ra rằng kinh tế Hàn Quốc đã có dấu hiệu của sự tăng trưởng ở mức vừa phải trong giai đoạn từ 2003 đến 2006 với tốc độ tăng trưởng bình quân 4-5%. Sự suy giảm về tiêu thụ hàng hóa của người tiêu dùng đã hạn chế tốc độ phát triển kinh tế của Hàn Quốc, tuy nhiên sự tiêu thụ cũng đã bắt đầu dần tăng trưởng trở lại. Nhìn chung, kinh tế của Hàn Quốc đã và đang chạy với tốc độ tốt và viễn cảnh của nó là khá khả quan.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Gần như tất cả ôtô ở Hàn Quốc (Seoul nói riêng) do các tập đoàn trong nước như Hyundai, KIA, Daewoo...sản xuất

Giao thông của Seoul bắt đầu bùng nổ từ thời kỳ Đế quốc Đại Hàn, khi những con đường ô tô đầu tiên được đặt nền móng, một con đường nổi Seoul với Incheon được hoàn thành trong giai đoạn này. Seoul có hơn 3 triệu phương tiện giao thông được đăng ký vì vậy tắc nghẽn giao thông đã trở thành một điều thường nhật tại thành phố này.

Tàu điện ngầm[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tàu điện ngầm Seoul
Một hành khách trong hành lang chờ của tàu điện ngầm tuyến số 5

Seoul có một hệ thống tàu điện ngầm nối mỗi quận của thành phố và các khu vực xung quanh. Với lượng khánh hơn 8 triệu mỗi ngày, hệ thống tàu điện ngầm của Seoul được xếp vào một trong những hệ thống tàu điện ngầm bận rộn nhất trên thế giới. Tàu điện ngầm vùng đô thị Seoul có 12 tuyến phục vụ Seoul, Incheon, Gyeonggi, tây Gangwon, và bắc Chungnam. Ngoài ra, để đối phó với nhiều hình thức vận chuyển khác nhau,chính quyền vùng đô thị Seoul thuê một số nhà toán học để tính toán việc điều phối tàu điện ngầm, xe buýt, và lịch giao thông theo một thời gian biểu. Nhiều tuyến khác nhau được vận hành bởi Korail, Seoul Metro, Tổng công ty đường sắt cao tốc đô thị Seoul, AREX, Shinbundang Railroad CorporationMetro 9.

Hàng không[sửa | sửa mã nguồn]

Có hai sân bay quốc tế nằm ở Seoul. Sân bay quốc tế Gimpo, từng nằm ở Gimpo nhưng đã được xáp nhập vào Seoul từ năm 1963, là sân bay quốc tế duy nhất cho Seoul từ khi được xây dựng lần đầu trong thời Chiến tranh Triều Tiên. Ngoài ra, còn một vài sân bay nội địa khác được xây dựng trong thời chiến, bao gồm một sân bay nằm ở Yeouido.

Khánh thành vào tháng 3 năm 2001, Sân bay quốc tế Incheon tại đảo YeongjongIncheon đã thay thế tầm quan trọng của sân bay Gimpo. Incheon hiện giờ thực hiện hầu hết tất cả các chuyến bay trong nước và quốc tế trừ những chuyến bay tới Sân bay HanedaTokyoSân bay Hồng KiềuThượng Hải. Điều này đã làm giảm rất nhiều tần suất bay của sân bay Gimpo.

Sân bay quốc tế Incheon, cùng với Sân bay quốc tế Hồng Kôngsân bay Changi, đã trở thành những trung tâm vận tải quan trọng ở châu Á. Trong một cuộc đồng điều tra của Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tếHội đồng Sân bay Quốc tế đã bầu chọn Incheon là sân bay tốt nhất thế giới. Skytrax chọn đây là một trong 5 sân bay tốt nhất thế giới năm 2006.

Incheon và Gimpo nối với thành phố Seoul bằng đường quốc lộ, Gimpo còn được nối bằng đường điện ngầm số 5.

Các đơn vị hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố đặc biệt Seoul được cấu thành từ 25 khu (구 gu), 15.267 động (동 dong). Động tương đương với thôn hoặc làng. Hơn mười lăm nghìn động này lại được chia ra thành 112.734 phiên địa (번지 beonji).

Cờ Seoul cũ (1947–1996)
Các khu của Seoul
Nơi bắt đầu của suối Cheonggyecheon

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Bongeunsa tại Nam Seoul

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố là nơi quy tụ các nhóm nhạc K-Pop và ca sĩ đơn nổi tiếng. Có một số bài hát viết về Seoul như "Seoul Song" (Super Junior & Girls' Generation), "Fly To Seoul" (2PM), "Girls' generation", "Seoul" (SNSD; Super Junior), "Moon of Seoul "(Kihyun MonstaX) "With Seoul" (Bangtan Sonyeondan; BTS)

Các di tích lịch sử và bảo tàng[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại Triều Tiên đã xây dựng Ngũ cung ở Seoul. Hai trong số 5 cung điện được miêu tả trong bức Đông Cung Đồ.

Bảo tàng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoại ô vùng đại đô thi:

Chùa và đền[sửa | sửa mã nguồn]

Thể thao[sửa | sửa mã nguồn]

Pháo hoa trong lễ bế mạc Thế vận hội Mùa hè 1988 ở Seoul

Seoul đã từng tổ chức Đại hội Thể thao châu Á 1986, Thế vận hội Mùa hè 1988Paralympic Games 1988. Đây cũng là một trong những thành phố chủ nhà của FIFA World Cup 2002. Sân vận động World Cup Seoul là nơi tổ chức lễ mở màn và trận đấu đầu tiên của giải đấu.

Taekwondo (Túc thủ đạo) là môn quốc võ của Hàn Quốc và Seoul chính là nơi đặt trụ sở của Quốc kỹ viện, hay còn được biết đến là Liên đoàn Taekwondo Thế giới.

Thành phố có ba đội bóng chày trong Tổ chức Bóng chày Hàn Quốc là: Doosan Bears, LG Twins, và Woori Heros,Samsung Lions. Hai đội bóng rổ trong giải bóng rổ Hàn Quốc: Seoul Samsung ThundersSeoul SK Knights.

Ngoài ra còn có một CLB bóng đá chuyên nghiệp tại Seoul là CLB FC Seoul, đội bóng tham dự giải K-league. Có hai đội bóng Giải K3 đặt tại Seoul là Seoul UnitedEungpyeong Chung-goo FC.

Các thành phố kết nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Một vài hình ảnh về Seoul[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trước năm 1972, Seoul là thủ đô "de jure" của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Bắc Triều Tiên) như được nêu trong mục 103 của Hiến pháp Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên.
  2. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên seoul1
  3. ^ 행정안전부. 행정안전부> 정책자료> 통계> 주민등록 인구통계. www.mois.go.kr. 
  4. ^ “Color”. 
  5. ^ “Seoul's symbols”. Seoul Metropolitan Government. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016. 
  6. ^ 논란 겪은 ‘I·SEOUL·U’ 서울 공식브랜드로 확정. 
  7. ^ “wearetop10.com Top 10 Wealthiest Cities of the World by GDP”. 
  8. ^ “Global city GDP 2014”. Brookings Institution. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2014. 
  9. ^ This includes Incheon and Gyeonggi Province
  10. ^ “City Mayors: The world's largest cities (1 to 100)”. 
  11. ^ “The Digital Divide at a glance”. 
  12. ^ “Current population of the Seoul National Capital Area”. Statistics Korea. 
  13. ^ http://kosis.kr/abroad/abroad_01List.jsp?parentId=A
  14. ^ 서울특별시표기 首爾로...중국, 곧 정식 사용키로:: 네이버 뉴스 (bằng tiếng Hàn). News.naver.com. Ngày 23 tháng 10 năm 2005. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2012. 
  15. ^ 'Seoul' morphs into Chinese 'Shouer'. Chinadaily.com.cn. Ngày 20 tháng 1 năm 2005. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2012. 
  16. ^ “goodcharacters.com”. goodcharacters.com. 
  17. ^ “평년값자료(30년)” (bằng tiếng Triều Tiên). Korean Meteorological Administration. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014. 
  18. ^ “기후자료 극값(최대값) 전체년도 일최고기온 (℃) 최고순위, 서울(108)” (bằng tiếng Triều Tiên). Korea Meteorological Administration. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2017. 
  19. ^ “기후자료 극값(최대값) 전체년도 일최저기온 (℃) 최고순위, 서울(108)” (bằng tiếng Triều Tiên). Korea Meteorological Administration. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2017. 
  20. ^ “Climatological Normals of Korea” (PDF). Korea Meteorological Administration. 2011. tr. 499 and 649. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2016. 

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]

Trang chủ[sửa | sửa mã nguồn]

Du lịch và thông tin đời sống[sửa | sửa mã nguồn]

  • i Tour Seoul – Trang hướng dẫn du lịch chính thức Seoul
  • VisitSeoul – The Official Seoul Tourism Guide YouTube Channel
  • Seoul Travel Guide – Thông tin du lịch dành cho khách đến Seoul

Bản đồ[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
'
Thủ đô của Baekje
18 BC–475 AD
Kế nhiệm:
Ungjin
Tiền nhiệm:
Gaegyeong
Thủ đô của Triều Tiên Kế nhiệm:
Huỷ bỏ
Tiền nhiệm:
Sáng tạo mới
Thủ đô của Hàn Quốc
1948–
Kế nhiệm:
Đương nhiệm