Hòa thượng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Hòa thượng là một danh hiệu, chức danh dành cho Tăng sĩ Phật giáo

Nghĩa gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Hòa thượng (zh. héshàng 和尚[上], sa. upādhyāya, pi. upajjhāya, ja. ōshō, bo. mkhan po མཁན་པོ་), dịch âm Hán-Việt là Ưu-ba-đà-la, Ô-ba-đà-na (zh. 鄔波駄耶). Hòa thượng có những nghĩa sau:

  1. Là bậc tôn sư thân cận dìu dắt các Sa-di hoặc Tỉ-khâu, vì vậy cũng được gọi là Thân giáo sư (zh. 親教師) hoặc Lực sinh (zh. 力生). Trong thời gian đầu của Phật giáo tại Ấn Độ, người ta phân biệt hai vị thầy của một người mới nhập Tăng-già, đó là Hòa thượngA-xà-lê (hoặc Giáo thụ, sa. ācārya, pi. ārcāriya). Hòa thượng là người dạy các đệ tử biết trì Giới, thực hành nghi lễ, và vị Giáo thụ là người giảng Pháp, ý nghĩa của kinh sách. Vì thế mà danh từ Hòa thượng đồng nghĩa với từ Luật sư hoặc Giới sư trong thời này.[1]
  2. Vị trụ trì, Tăng sĩ Phật giáo. Ở Nhật Bản, từ nầy được phát âm theo nhiều cách khác nhau: Thiền tông gọi là ōshō, Thiên thai tông gọi là kashō, Chân ngôn tông gọi là washō.

Tại Đông Á[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Đông ÁNam Á, danh hiệu Hòa thượng là chức vị cao nhất mà một người tu hành có thể đạt được, cao hơn cả vị A-xà-lê. Muốn mang danh hiệu này một vị tăng phải đạt được những tiêu chuẩn đạo đức, thời gian tu tập (tuổi hạ).... và danh hiệu này được ban trong một buổi lễ long trọng. Danh từ này sau cũng được dùng chỉ những vị tăng cao tuổi, trụ trì một ngôi chùa và có đức hạnh, tư cách cao cả mặc dù chưa được chính thức phong hiệu.

Danh hiệu "Đại Hòa thượng" hay là "Đại sư" cũng thường được sử dụng trong Thiền tông để chỉ những vị Thiền sư. Theo những nghi thức tụng niệm trong một Thiền viện tại Nhật Bản, thiền sinh phải tưởng niệm đến hệ thống truyền thừa từ Phật Thích-ca Mâu-ni đến vị Lão sư (ja. rōshi) đang trụ trì và tụng danh hiệu của chư vị. Tên của chư vị thường được gài thêm danh hiệu "Đại Hòa thượng" phía sau để tăng thêm vẻ uy nghiêm, dù Phật giáo tại Nhật không có chế độ phân cấp các tu sĩ.

Tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Hiến Chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất năm 1964 quy định thì những Tăng sĩ đã thọ giới Tỳ Kheo có tuổi đời từ 20 đến 40 tuổi là Ðại Ðức, từ 40 đến 60 tuổi đời là Thượng tọa và từ 60 tuổi đời trở lên có thể được tấn phong là Hòa thượng. Hòa thượng là các vị đã thọ Tỳ kheo giới và có 60 tuổi đời sắp lên, trong đó có 30 tuổi hạ, và phải qua một tiến trình đề cử và suy tôn của một đại hội toàn quốc hay do giáo lệnh của Ðức Tăng thống phê chuẩn.[1][2]

Hiện nay, theo quy định trong Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, "Được tấn phong Hòa thượng những Thượng tọa từ 60 tuổi đời, 40 tuổi đạo trở lên, có đạo hạnh, có công đức với Đạo pháp và dân tộc, do Ban Trị sự Tỉnh hội, Thành hội đề nghị lên Ban Thường trực Hội đồng Trị sự để xét duyệt, đệ trình Thường trực Hội đồng Chứng minh phê chuẩn, được Hội nghị Trung ương thông qua hay Đại hội Phật giáo toàn quốc tấn phong với một Nghị quyết và một giáo chỉ do Đức pháp chủ ban hành".[2][3]

Bên cạnh đó, danh hiệu "Đại lão Hòa thượng" được dùng để gọi những vị Hòa thượng có tuổi đạo từ 60 năm trở lên tính theo hạ lạp, thông thường là 80 tuổi đời trở lên. Đối với người nữ xuất gia, chức vụ Ni Trưởng được xem là ngang hàng với chức vị Hòa thượng là các vị Ni sư có trên 60 tuổi đời và trên 40 tuổi đạo.[2]

Các Hòa Thượng Còn Sống[sửa | sửa mã nguồn]

Miền Bắc Việt Nam
STT Pháp Danh Năm Sinh Năm Thọ Giới Tỳ Kheo Chức Vụ giáo hội Trụ Xứ Địa Phương Ghi chú
1 Thích Phổ Tuệ 1917 1937 Pháp Chủ Hội Đồng Chứng Minh chùa Ráng Hà Nội
2 Thích Minh Tâm 1917 Uỷ Viên hội đồng chứng minh Nam Định
3 Thích Thanh Đàm 1924 1948 Phó Pháp Chủ HDCM Chùa Yên Hòa Kim sơn Ninh Bình
4 Thích Trí Tịnh 1925 Phó Pháp Chủ HDCM Chùa Trung Hậu Hà Nội
5 Thích Thanh Dục 1927 Uỷ viên HDCM Chùa Thánh Long Thái Bình
6 Thích Thanh Dũng 1932 Phó Pháp Chủ Chánh Thư Ký HDCM Chùa Hàm Long Bắc Giang
7 Thích Thanh Minh Chứng Minh BTS Huyện Thanh Oai Chùa Kim Bài Hà Nội
8 Thích Thanh Quang Hà Nội
9 Thích Thanh Nhã 1950 Phó Trưởng BTS TP. Hà Nội Chùa Trấn Quốc Hà Nội
10 Thích Thanh Duệ 1951 Trưởng Ban Trị Sự PG Vĩnh Phúc Chùa Quán Sứ Hà Nội
11 Thích Thanh Nhiễu 1952 1972 Phó chủ tịch thường trực HDTS Chùa Quán Sứ Hà Nội
12 Thích Thanh Lương 1949 Chứng Minh BTS Tỉnh Nam Định Nam Định
13 Thích Thanh Nghị 1951 Chứng Minh BTS Tỉnh Nam Định Nam Định
14 Thích Thanh Hưng 1952 Phó ban hướng dẫn Phật Tử TW Chùa Thiên Phúc Hà Nội
15 Thích Gia Quang 1954 Phó Chủ tịch HDTS Chùa Liên Phái Hà Nội
16 Thích Bảo Nghiêm 1956 1975 Phó chủ tịch HDTS , Trưởng BTS Hà Nội Chùa Bằng Hà Nội
17 Thích Quảng Tùng 1953 Phó chủ tịch HDTS, Trưởng BTS Hải Phòng Chùa Dư Hàng Hải Phòng
18 Thích Thanh Điện 1958 Phó Tổng thư ký HDTS , chánh VP1 TW Chùa Duệ Tú Hà Nội
19 Thích Thanh Đạt 1955 Ủy viên thường trực HDTS Chùa Đồng Ngọ Hải Dương
20 Thích Thanh Dương 1959 Chùa Quán Sứ Hà Nội
21 Thích Thanh Chính 1959 Phó trưởng ban thường trực BTS TP.Hà Nội Chùa Đồng Dương Hà Nội
22 Thích Thanh Giác 1957 Phó trưởng BTS TP. Hải Phòng Chùa Phổ Chiếu Hải Phòng
23 Thích Thanh Hiện 1960 Trưởng BTS PG . Tỉnh Hưng Yên Hưng Yên
24 Thích Thanh Cao Hà nội
25 Thích Thanh Thiền Chùa Quán Sứ Hà Nội
26 Thích Thanh Khôi 1943 Chùa Thái Phúc Thái Bình

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam
  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.
Bảng các chữ viết tắt
bo.: Bod skad བོད་སྐད་, tiếng Tây Tạng | ja.: 日本語 tiếng Nhật | ko.: 한국어, tiếng Triều Tiên |
pi.: Pāli, tiếng Pali | sa.: Sanskrit संस्कृतम्, tiếng Phạn | zh.: 中文 chữ Hán