Bước tới nội dung

Hôn nhân cùng giới

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Hôn nhân cùng giới hay hôn nhân đồng tínhhôn nhân của hai người cùng giới tính hợp pháp. Tính đến năm 2024, hôn nhân cùng giới đã được hợp pháp hóa và công nhận ở 37 quốc gia với tổng dân số hơn 1.5 tỷ người (20% dân số thế giới). Quốc gia đã hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới gần đây nhất là ở Nepal. Hai quốc gia nữa là LiechtensteinThái Lan sẽ bắt đầu thực hiện hôn nhân cùng giới vào cuối năm 2024 hoặc năm 2025.

Quyền nhận con nuôi không nhất thiết đã được cho phép, mặc dù hầu hết các quốc gia có hôn nhân đồng tính đều cho phép những cặp vợ chồng đó cùng nhận con nuôi. Ngược lại, 35 quốc gia (tính đến năm 2023) có định nghĩa về hôn nhân trong hiến pháp của họ ngăn cản hôn nhân giữa các cặp cùng giới, hầu hết được ban hành trong những thập kỷ gần đây như một biện pháp phòng ngừa. Một số quốc gia khác đã quy định luật Hồi giáo theo hiến pháp, thường được hiểu là cấm kết hôn giữa các cặp đồng tính. Trong sáu vấn đề trước đây và hầu hết sau này, bản thân đồng tính luyến ái được hình sự hóa. Được công nhận hợp pháp ở phần lớn các nền dân chủ phát triển trên thế giới; các trường hợp ngoại lệ đáng chú ý là Hàn Quốc, Nhật Bản, Cộng hòa SécÝ. Trong khi không được công nhận ở bất kỳ chính thể Hồi giáo nào trên thế giới, mặc dù những bước đầu tiên đang được thực hiện ở Kosovo. Một số quốc gia như NgaTrung Quốc hạn chế ủng hộ hôn nhân cùng giới.[1][2]

Có những ghi chép về hôn nhân giữa những người đàn ông có từ thời thế kỷ thứ nhất.[3] Cặp đôi cùng giới đầu tiên kết hôn hợp pháp trong thời hiện đại là Michael McConnell và Jack Baker vào năm 1971 tại Hoa Kỳ.[4] Luật đầu tiên quy định về bình đẳng hôn nhân giữa các cặp cùng giới và khác giới đã được thông qua ở lục địa Hà Lan vào năm 2000 và có hiệu lực vào ngày 1 tháng 4 năm 2001.[5] Việc áp dụng luật hôn nhân một cách bình đẳng đối với các cặp cùng giới và khác giới đã thay đổi theo thẩm quyền, và đã xuất hiện thông qua sự thay đổi luật hôn nhân, các phán quyết của tòa án dựa trên các bảo đảm hiến pháp về bình đẳng, thừa nhận rằng hôn nhân các cặp cùng giới được luật hôn nhân hiện hành cho phép,[6] bằng cách bỏ phiếu phổ thông trực tiếp, thông qua trưng cầu dân ýsáng kiến.

Các nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng sự ổn định về tài chính, tâm lý và thể chất của những người đồng tính được nâng cao nhờ hôn nhân và con cái của phụ huynh cùng giới được hưởng lợi từ việc được nuôi dưỡng bởi các cặp cùng giới mà hôn nhân được pháp luật công nhận và được hỗ trợ bởi các tổ chức xã hội.[7] Đồng thời, không gây tổn hại gì đến hôn nhân khác giới.[8] Nghiên cứu khoa học xã hội chỉ ra rằng việc không cho người đồng tính hưởng quyền được kết hôn gây kỳ thị và khiến mọi người phân biệt đối xử chống lại họ, đồng thời nghiên cứu cũng bác bỏ quan điểm cho rằng việc nền văn minh hoặc trật tự xã hội ổn định phụ thuộc vào việc giới hạn kết hôn chỉ dành cho người dị tính.[9][10] Hôn nhân cùng giới có thể cung cấp cho những người trong mối quan hệ cùng giới các dịch vụ liên quan của chính phủ và đưa ra các yêu cầu về tài chính đối với họ tương đương với yêu cầu của những người trong hôn nhân khác giới, đồng thời mang lại cho họ sự bảo vệ pháp lý như quyền thừa kế và quyền thăm bệnh.[11] Sự phản đối dựa trên những tuyên bố như đồng tính luyến ái là không tự nhiên và bất bình thường, rằng việc công nhận các cặp cùng giới sẽ thúc đẩy đồng tính luyến ái trong xã hội và rằng trẻ em sẽ tốt hơn khi được nuôi dưỡng bởi các cặp vợ chồng khác giới. Theo các tổ chức y tế lớn, những tuyên bố này đã bị bác bỏ bởi các nghiên cứu khoa học, đồng tính luyến ái là một biến thể tự nhiên và bình thường trong tính dục con người, xu hướng tính dục không phải là sự lựa chọn và con cái của các cặp cùng giới cũng giống như con của các cặp khác giới.[12]

Thuật ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Thuật ngữ thay thế[sửa | sửa mã nguồn]

Hai người đàn ông kết hôn, bao quanh bởi tiệc cưới, ở New Orleans, Hoa Kỳ vào ngày 11 tháng 11 năm 2017

Một số tổ chức ủng hộ việc hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới—chẳng hạn như Tổ chức Hôn nhân Bình đẳng Hoa Kỳ (thành lập năm 1998), Tổ chức Tự do Kết hôn (thành lập năm 2003), Tổ chức Người Canada vì Hôn nhân Bình đẳngHôn nhân cho toàn Nhật Bản - từ lâu đã sử dụng các thuật ngữ bình đẳng trong hôn nhân và hôn nhân bình đẳng để báo hiệu rằng mục tiêu của họ là hôn nhân cùng giới được công nhận bình đẳng với hôn nhân khác giới.[13][14][15][16][17][18][19] Hãng thông tấn Associated Press khuyến nghị sử dụng cụm từ hôn nhân cùng giới thay cho hôn nhân dành cho đồng tính nam và đồng tính nữ.[20] Khi quyết định giữa thuật ngữ hôn nhân cùng giớihôn nhân đồng tính, có thể lưu ý rằng không phải tất cả mọi người trong hôn nhân cùng giới đều là đồng tính - ví dụ, một số người là song tính - và do đó sử dụng thuật ngữ hôn nhân đồng tính được coi là sự tẩy xóa của những người như vậy.[21][22]

Việc sử dụng thuật ngữ hôn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà nhân loại học đã phải cố gắng xác định một định nghĩa về hôn nhân kết tinh được những điểm chung của cấu trúc xã hội giữa các nền văn hóa trên thế giới.[23][24] Nhiều định nghĩa được đề xuất đã bị chỉ trích vì không thừa nhận sự tồn tại của hôn nhân cùng giới ở một số nền văn hóa, bao gồm của hơn 30 dân tộc châu Phi, chẳng hạn như KikuyuNuer.[24][25][26]

Với việc một số quốc gia sửa đổi luật hôn nhân của họ để công nhận các cặp đồng tính trong thế kỷ 21, tất cả các từ điển tiếng Anh lớn đã sửa đổi định nghĩa của họ về từ kết hôn để loại bỏ các chi tiết đặc tả giới tính hoặc bổ sung bằng các định nghĩa phụ, bao gồm ngôn ngữ trung tính về giới hoặc thể hiện rõ ràng sự công nhận hôn nhân cùng giới.[27][28] Từ điển tiếng Anh Oxford đã công nhận hôn nhân cùng giới từ năm 2000.[29]

Những người phản đối hôn nhân cùng giới, những người muốn hôn nhân bị giới hạn trong việc kết đôi nam nữ, chẳng hạn như Giáo hội các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giêsu Kytô, Giáo hội Công giáo, và Công ước Baptist Phương Nam, sử dụng thuật ngữ hôn nhân truyền thống để chỉ là hôn nhân khác giới.[30][31]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời cổ đại[sửa | sửa mã nguồn]

Một ý kiến liên quan đến hôn nhân đồng tính xuất hiện trong Sifra, được viết vào thế kỷ thứ 3 CN. Sách Lêvi cấm quan hệ đồng tính luyến ái, và người Hebrew được cảnh báo là không được "làm theo những việc làm của xứ Ai Cập hay những việc làm của xứ Canaan" (Lê-vi Ký 18:22, 20:13). Sifra giải thích rõ những "hành vi" không rõ ràng này là gì và chúng bao gồm hôn nhân cùng giới: "Một người đàn ông kết hôn với một người đàn ông và phụ nữ kết hôn với phụ nữ, một người đàn ông kết hôn với một người phụ nữ và con gái của cô ấy, và một người phụ nữ kết hôn với hai người đàn ông."[32]

Một số học giả cho rằng trong thời kỳ đầu của Đế quốc La Mã, một số cặp đôi nam đã tổ chức đám cưới truyền thống trước sự hiện diện của bạn bè. Những đám cưới giữa hai người nam thường được ghi nhận bởi những nguồn tin chế nhạo họ; cảm xúc của các bên thì không được ghi lại.[33] Nhiều nguồn tin cổ cho biết rằng hoàng đế Nero đã tổ chức hai đám cưới công khai với những người đàn ông, một đám cưới với vai trò cô dâu (với một nô lệ Pythagoras được thả tự do), và một đám cưới với vai trò chú rể (với Sporus); có lẽ có cả một đám cưới thứ ba với việc ông đóng vai trò cô dâu.[34] Vào đầu thế kỷ thứ 3 Công nguyên, có báo cáo ghi nhận rằng hoàng đế Elagabalus đã tổ chức đám cưới với vai trò là cô dâu cùng người bạn đời nam của mình. Những người đàn ông khác ở vương triều của ông cũng có chồng, hoặc nói rằng họ có chồng phỏng theo hoàng đế của họ.[35] Luật La Mã không công nhận hôn nhân giữa nam giới, nhưng một trong những lý do được biểu đạt trong thơ trào phúng của Juvenal là việc tổ chức hôn lễ sẽ dẫn đến kỳ vọng rằng những cuộc hôn nhân như vậy sẽ được đăng ký chính thức.[36] Khi đế quốc đang được Kitô giáo hóa vào thế kỷ thứ 4, các quy định pháp luật chống lại hôn nhân giữa nam giới bắt đầu xuất hiện.[36]

Hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Một cặp đôi mới cưới ở Minnesota ngay sau khi hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới ở Hoa Kỳ

Cặp đôi cùng giới đầu tiên kết hôn hợp pháp trong thời hiện đại là Michael McConnell và Jack Baker vào năm 1971, tại Quận Hennepin, Minnesota.[37] Các nhà sử học khác nhau theo dõi sự khởi đầu của các phong trào hiện đại ủng hộ hôn nhân cùng giới ở khắp các nơi từ khoảng những năm 1970 đến những năm 1990. Trong những năm 1980 ở Hoa Kỳ, đại dịch AIDS đã khiến người ta ngày càng chú ý đến khía cạnh pháp lý của các mối quan hệ cùng giới.[38][39] Andrew Sullivan đưa ra trường hợp đầu tiên về hôn nhân cùng giới trên một tạp chí lớn của Mỹ vào năm 1989,[40] được đăng trên tờ The New Republic.[41]

Năm 1989, Đan Mạch trở thành quốc gia đầu tiên công nhận mối quan hệ hợp pháp cho các cặp cùng giới, hợp thức hóa quan hệ kết đôi có đăng ký, mang lại cho những người có quan hệ cùng giới "hầu hết các quyền của những người kết hôn khác giới, nhưng không có quyền nhận con nuôi hoặc giành quyền con nuôi chung đối với đứa con".[42] Năm 2001, Hà Lan trở thành quốc gia đầu tiên chính thức hóa hôn nhân cùng giới theo luật.[5] Kể từ đó, hôn nhân cùng giới cũng đã được pháp luật công nhận ở 34 quốc gia khác, bao gồm hầu hết các nước ở châu MỹTây Âu. Tuy nhiên, sự hợp pháp hóa diễn ra cũng không đồng đều — Nam Phi là quốc gia duy nhất ở châu Phi áp dụng; Đài Loan, NepalThái Lan là ba quốc gia duy nhất ở châu Á.[43]

Dòng thời gian[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng tóm tắt dưới đây liệt kê theo thứ tự thời gian các quốc gia có chủ quyền (các quốc gia thành viên Liên Hợp QuốcĐài Loan) đã hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới. Tính đến năm 2024, 37 quốc gia đã hợp pháp hóa.

Ngày là khi hôn nhân giữa các cặp cùng giới bắt đầu được chứng nhận chính thức hoặc khi luật địa phương được thông qua nếu hôn nhân đã hợp pháp dưới quyền cơ quan quyền lực cao hơn.

2001 Hà Lan Hà Lan (1 tháng 4)
2002
2003
2004
2005
2006 Cộng hòa Nam Phi Nam Phi (30 tháng 11)
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
2015
2016
2017
2018
2019
2020
2021
2022
2023
2024
2025

Hôn nhân cùng giới trên khắp thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Hôn nhân cùng giới được cho phép và công nhận hợp pháp tại 37 quốc gia sau: Andorra, Argentina, Áo, Bồ Đào Nha, Bỉ, Brasil, Canada, Chile, Colombia, Costa Rica, Cuba, Đan Mạch,[a] Đài Loan, Đức, Ecuador,[b] Estonia, Hà Lan,[c] Hoa Kỳ,[d] Hy Lạp, Iceland, Ireland, Luxembourg, Malta, México,[e] Na Uy, Nam Phi, Nepal,[f] New Zealand,[g] Pháp,[h] Phần Lan, Slovenia, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Vương quốc Anh,[i] Úc,[j]Uruguay. Hôn nhân cùng giới được thực hiện từ xa hoặc ở nước ngoài được Israel công nhận với đầy đủ các quyền hôn nhân.[47]

  Các cặp đôi đồng tính có thể kết hôn (chấm tròn: trường hợp cá nhân)
  Kết hợp dân sự hay quan hệ gia đình
  Pháp luật hoặc phán quyết ràng buộc của tòa án trong nước thiết lập hôn nhân cùng giới, nhưng hôn nhân chưa được cho phép
  Hôn nhân cùng giới được công nhận với đầy đủ các quyền khi được thực hiện ở một số khu vực pháp lý khác
  Sống chung hoặc giám hộ hợp pháp không đăng ký
  Chứng nhận địa phương mà không có hiệu lực pháp lý
  Sư công nhận hôn nhân được giới hạn ở một số khu vực pháp lý khác (quyền cư trú cho vợ/chồng)
  Quốc gia phải tuân theo phán quyết của tòa án quốc tế về việc công nhận hôn nhân cùng giới
  Hôn nhân cùng giới không được công nhận

Hôn nhân cùng giới đang được xem xét bởi các chính phủ hoặc tòa án ở Aruba,[48] Curaçao, Nhật Bản,[49] Quốc gia Navajo[50]Venezuela.[51]

Kết hợp dân sự đang được xem xét ở những quốc gia, bao gồm Ba Lan,[52] Kosovo,[53] Litva, Peru,[54] Philippines[55]Ukraina.[56][57]

Vào ngày 12 tháng 3 năm 2015, Nghị viện châu Âu đã thông qua một nghị quyết không ràng buộc khuyến khích các thể chế và thành viên trong châu Âu tuyên bố "[suy nghĩ] về việc công nhận hôn nhân đồng tính hoặc kết hợp dân sự đồng tính như một vấn đề chính trị, xã hội, con người và quyền công dân".[58][59][60] Năm 2018, Tòa án Nhân quyền liên Mỹ ra phán quyết rằng tất cả các nước ký hiệp ước phải cho phép hôn nhân cùng giới.

Để đáp lại sự lan rộng có tính quốc tế của hôn nhân cùng giới, nhiều quốc gia ban hành lệnh cấm dựa trên hiến pháp mang tính phòng ngừa, gần đây nhất là Nga vào năm 2020 và Tuvalu vào năm 2023. Ở những quốc gia khác, những hạn chế và giới hạn như vậy được thực hiện thông qua luật pháp. Ngay cả trước khi hôn nhân cùng giới lần đầu tiên được luật hóa, một số quốc gia đã có hiến pháp quy định rằng hôn nhân là giữa nam và nữ.

  Hôn nhân cùng giới bị cấm bởi hiến pháp thế tục
  Hôn nhân cùng giới bị cấm theo luật hoặc đạo đức Hồi giáo được hiến pháp ủy quyền
  Hôn nhân cùng giới bị cấm đối với người theo đạo Hồi giáo
  Không có lệnh cấm hiến pháp

Phán quyết của tòa án quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tòa án Nhân Quyền châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2010, Tòa án Nhân quyền châu Âu (ECHR) đã ra phán quyết trong vụ Schalk and Kopf v Austria, một vụ án liên quan đến một cặp đồng tính người Áo bị từ chối quyền được kết hôn.[61] Bằng một cuộc bỏ phiếu với số phiếu 4 hơn 3, tòa án cho thấy rằng nhân quyền của họ không bị vi phạm.[62] Tòa án cũng tuyên bố rằng kết hợp cùng giới không được bảo vệ dưới điều luật 12 của ECHR ("Quyền để kết hôn"), trong đó bảo vệ duy nhất quyền kết hôn của các cặp khác giới không phân biệt giới tính của các bên là do bẩm sinh hay do chuyển đổi giới tính), nhưng được bảo vệ dưới điều luật 8 của ECHR ("Quyền được tôn trọng đời sống riêng tư và gia đình") và điều luật 14 ("Cấm phân biệt đối xử").[63]

Điều 12 của Công ước châu Âu về Nhân quyền cho rằng: "Nam và nữ trong độ tuổi kết hôn có quyền kết hôn và thành lập gia đình, theo luật quốc gia quản lý việc thực hiện quyền này",[64] không hạn chế việc kết hôn đối với những người có quan hệ khác giới. Tuy nhiên, ECHR tuyên bố trong Schalk and Kopf v Austria rằng điều khoản này nhằm giới hạn hôn nhân trong các mối quan hệ khác giới, vì nó sử dụng thuật ngữ "nam và nữ" thay vì "tất cả mọi người".[61] Tuy nhiên, tòa án đã chấp nhận và đang xem xét các trường hợp liên quan đến việc công nhận hôn nhân cùng giới, ví dụ: vụ Andersen v. Poland.[65] Vào năm 2021, tòa án ra phán quyết trong vụ Fedotova and Others v. Russia—sau đó các phán quyết liên quan đến các quốc gia thành viên khác—rằng các quốc gia phải cung cấp một số hình thức công nhận pháp lý cho các cặp cùng giới, mặc dù không nhất thiết phải kết hôn.[66]

Liên minh châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 5 tháng 6 năm 2018, Tòa án Công lý châu Âu đã ra phán quyết, trong một trường hợp từ Romania, rằng, trong các điều kiện cụ thể của cặp đôi được đề cập, các cặp đồng tính đã kết hôn có quyền cư trú giống như các cặp vợ chồng khác ở một quốc gia EU, thậm chí nếu quốc gia đó không cho phép hoặc không công nhận hôn nhân cùng giới.[67][68] Tuy nhiên, phán quyết đã không được thực hiện ở Romania và vào ngày 14 tháng 9 năm 2021, Nghị viện châu Âu đã thông qua một nghị quyết kêu gọi Ủy ban châu Âu đảm bảo rằng phán quyết được tôn trọng trên toàn Liên minh Châu Âu.[69][70]

Tòa án Nhân quyền liên Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Alexandra Chávez và Michelle Avilés, cặp đôi đồng tính đầu tiên kết hôn ở Ecuador

Vào ngày 8 tháng 1 năm 2018, Tòa án Nhân quyền liên Mỹ (IACHR) đã ra phán quyết rằng Công ước châu Mỹ về Nhân quyền bắt buộc và yêu cầu hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới. Phán quyết mang tính bước ngoặt hoàn toàn ràng buộc đối với Costa Rica và đặt ra tiền lệ ràng buộc ở các nước ký kết khác. Tòa khuyến nghị các chính phủ ban hành các sắc lệnh tạm thời hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới cho đến khi có luật mới. Phán quyết áp dụng cho Barbados, Bolivia, Cộng hòa Dominica, El Salvador, Guatemala, Haiti, Honduras, Nicaragua, Panama, Paraguay, PeruSuriname. Tòa án nói rằng các chính phủ "phải công nhận và đảm bảo tất cả các quyền có được từ mối quan hệ gia đình giữa những người cùng giới". Họ cũng nói rằng một quy định pháp lý riêng biệt được thiết lập (chẳng hạn như kết hợp dân sự) là không thể chấp nhận và phân biệt đối xử thay vì hôn nhân cùng giới.[71] Phán quyết này đã trực tiếp dẫn đến việc hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới ở Costa RicaEcuador.[cần dẫn nguồn]

Các hình thức công nhận khác[sửa | sửa mã nguồn]

Kết hợp dân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều người ủng hộ, chẳng hạn như những người biểu tình vào tháng 11 năm 2008 này tại một cuộc biểu tình ở Thành phố New York chống lại Dự luật 8 California, bác bỏ khái niệm về các kết hợp dân sự, cho rằng chúng kém hơn sự công nhận của pháp luật đối với hôn nhân cùng giới.[72]

Kết hợp dân sự, quan hệ bạn đời dân sự, quan hệ bạn đời trong nước, quan hệ bạn đời đã đăng ký, quan hệ bạn đời chưa đăng ký và tình trạng chung sống chưa đăng ký mang lại những lợi ích pháp lý khác nhau của hôn nhân. Kể từ 18 tháng 6, 2024, các quốc gia có hình thức công nhận hợp pháp khác ngoài hôn nhân ở cấp quốc gia là: Bolivia, Croatia, Síp, Cộng hòa Séc, Hungary, Israel (đăng ký kết hôn nước ngoài và kết hôn theo luật chung trong nước), Ý, Latvia, Liechtenstein, Monaco, MontenegroSan Marino.[73][74] Ba LanSlovakia cung cấp nhiều quyền hạn chế hơn. Ở cấp địa phương, quốc gia Aruba cấu thành của Hà Lan cho phép các cặp cùng giới tiếp cận kết hợp dân sự hoặc quan hệ bạn đời, nhưng hạn chế kết hôn đối với các cặp khác giới. Ngoài ra, nhiều thành phố thuộc CampuchiaNhật Bản trao cho các cặp đôi cùng giới một số quyền hạn ở các mức độ khác nhau, bao gồm quyền được thăm nom tại bệnh viện, và các quyền khác.

Thêm nữa, 18 quốc gia đã hợp pháp hóa kết hôn cùng giới vẫn có các hình thức công nhận pháp lý khác dành cho các cặp đôi cùng giới; các hình thức công nhận này cũng đồng thời dành cho các cặp đôi dị tính: Argentina, Úc, Áo, Bỉ, Brasil, Chile, Colombia, Ecuador, Pháp, Hy Lạp, Luxembourg, Malta, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Nam Phi, Tây Ban Nha, Vương quốc AnhUruguay.[75][76][77][78]

Một số bang ở Hoa Kỳ (Arizona,[k] California, Colorado, Hawaii, Illinois, New Jersey, NevadaOregon) và Canada.[79][80]

Hôn nhân cùng giới không tình dục[sửa | sửa mã nguồn]

Kenya[sửa | sửa mã nguồn]

Hôn nhân cùng giới nữ diễn ra tại dân tộc Gikuyu, Nandi, Kamba, Kipsigis, và cả các cộng đồng láng giềng. Khoảng 5-10% phụ nữ kết hôn cùng giới. Tuy nhiên, đây không phải mối quan hệ đồng tình, mà thực chất là cách giúp cho những gia đình không có con trai có thể giữ lại sản nghiệp trong gia đình.[81]

Nigeria[sửa | sửa mã nguồn]

Ở dân tộc Igbo và có thể ở những dân tộc khác tại miền nam Nigeria, tồn tại một số cuộc hôn nhân giữa phụ nữ được xem là phù hợp. Ví dụ, khi một người phụ nữ góa chồng không có con, cá nhân đó có thể lấy vợ để tiếp nối sản nghiệp và dòng dõi gia đình.[82]

Các nghiên cứu[sửa | sửa mã nguồn]

Hiệp hội Nhân chủng học Hoa Kỳ phát biểu vào ngày 26 tháng 2 năm 2004:

Các kết quả từ nghiên cứu nhân chủng học trong hơn một thế kỷ qua về các hộ dân cư, mối quan hệ họ hàng, gia đình từ các nền văn hóa qua các mốc thời gian không hề củng cố luận điểm cho rằng nền văn minh lẫn trật tự xã hội mang tính sống còn đều phụ thuộc vào hôn nhân—được quy định chỉ dành cho các cặp đôi dị tính. Trái lại, nghiên cứu về nhân chủng học minh chứng cho kết luận rằng tập hợp gồm nhiều dạng gia đình, bao gồm cả những gia đình được xây dựng từ các mối quan hệ cùng giới, có thể góp phần kiến thiết nên một xã hội bền vững và nhân văn.[10]

Các phát hiện từ nghiên cứu trong giai đoạn 1998 đến 2015 của Đại học Virginia, Đại học bang Michigan, Đại học bang Michigan, Đại học Amsterdam, Viện Tâm thần học bang New York, Đại học Stanford, University of California-San Francisco, Đại học California tại Los Angeles, Đại học Tutfts, Trung tâm Y tế Thành phố Boston, Ủy ban Chăm sóc Tâm lý xã hội Trẻ em và Sức khỏe Gia đình, và các cá nhân/tổ chức nghiên cứu độc lập cũng ủng hộ quan điểm trên.[83][mơ hồ]

Sức khỏe[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến năm 2006, dữ liệu của các nghiên cứu về tâm lý học và các ngành khoa học xã hội hiện thời khi so sánh hôn nhân cùng giới và với hôn nhân khác giới đã chỉ ra rằng không có sự khác biệt giữa các mối quan hệ cùng giới và khác giới về các khía cạnh tâm lý thiết yếu; vì vậy, xu hướng tính dục của một bậc phụ huynh không liên quan đến khả năng tạo dựng một môi trường gia đình lành mạnh và phù hợp cho việc nuôi dưỡng; và hôn nhân cùng giới cũng dành tặng các phúc lợi lớn lao về tâm lý, xã hội, và sức khỏe. Các cặp phụ huynh cùng giới, cùng sự nghiệp và con cái của họ, có thể nhận hưởng được lợi ích theo nhiều cách khác nhau từ việc gia đình họ được công nhận hợp pháp, và thể hiện sự công nhận hợp pháp thông qua hôn nhân trao tặng các cá nhân nhiều phúc lợi hơn là hình thức kết hợp dân sự hay chung sống thành gia đình.[84][85] Các nghiên cứu ở Hoa Kỳ cho thấy mối tương quan giữa việc hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới với tỷ lệ nhiễm HIV,[86][87] rối loạn tâm thần,[88][89]tỷ lệ tự tử trong cộng đồng LGBT thấp hơn.[90][91]

Các vấn đề liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Khi một số ít xã hội đã công nhận sự kết hợp cùng giới là hôn nhân hợp pháp, ghi chép về lịch sử và nhân chủng học đã tiết lộ một loạt nhiều phản ứng về sự kết hợp cùng giới—tán dương, hoàn toàn chấp nhận và hòa hợp, nhân nhượng và cảm thông, thờ ơ, ngăn cấm và kỳ thị, và cả hành hạ cũng như tiêu di.[cần dẫn nguồn] Những người phản đối hôn nhân cùng giới cho rằng hôn nhân cùng giới có lợi cho các cặp đôi cùng giới và cả con cái của họ,[92] nhưng đồng thời hôn nhân cùng giới hạ thấp quyền được nuôi dưỡng bởi bố mẹ sinh học của trẻ.[93] Một số người ủng hộ hôn nhân cùng giới có quan điểm rằng chính phủ không nên can thiệp và kiểm soát các mối quan hệ cá nhân,[94] một số cá nhân khác tin hôn nhân cùng giới sẽ đem lại lợi ích về xã hội cho các cặp đôi cùng giới.[95] Tranh biện về hôn nhân cùng giới bao gồm các thảo luận từ quan điểm cá nhân cũng như các tranh cãi dựa trên quy tắc của đa số, tín ngưỡng, tranh luận về kinh tế, lo ngại về sức khỏe, và nhiều vấn đề khács.[cần dẫn nguồn]

Nuôi dạy con[sửa | sửa mã nguồn]

Cặp đôi đồng tính nam và con của họ

Các ấn bản khoa học đã chỉ ra rằng hôn nhân giúp nâng cao các giá trị về mặt tài chính, tâm lý, và thể chất của phụ huynh, và trẻ em nhận hưởng lợi ích từ việc được nuôi dưỡng bởi hai vị phụ huynh trong cuộc hôn nhân được công nhận hợp pháp (sự kết hợp khác giới lẫn cùng giới). Vì vậy, các hiệp hội khoa học chuyên sâu đã đấu tranh để hôn nhân cùng giới được công nhận hợp pháp do điều này sẽ có lợi cho con của các cặp phụ huynh hoặc người giám hộ cùng giới.[96][97][98][99][100]

Nhìn chung, nghiên cứu khoa học nhất quán với luận điểm rằng các bậc phụ huynh đồng tính cũng phù hợp và có khả năng như các phụ huynh dị tính, và con của họ cũng có sức khỏe tâm lý tốt, cũng như đủ năng lực để hành xử và xử lý các vấn đề một cách hợp lý, tương tự với trẻ em được nuôi dưỡng bởi phụ huynh dị tính.[96][100][101][102] Theo các bài phê bình về các ấn bản khoa học, không tồn tại các bằng chứng chống lại quan điểm trên.[84][103][104][105]

So với các cặp đôi dị tính, các cặp cùng giới có nhu cầu nhận con nuôi hoặc công nghệ hỗ trợ sinh sản để trở thành cha mẹ cao hơn. Các cặp đồng tính nữ thường sử dụng phương pháp thụ tinh nhân tạo để mang thai và phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm đối ứng (nghĩa là một phụ nữ cung cấp trứng và người kia mang thai) đang trở nên phổ biến hơn vào những năm 2020, mặc dù nhiều cặp vợ chồng không đủ khả năng chi trả. Mang thai hộ là một lựa chọn dành cho các cặp đồng tính nam giàu có hơn, nhưng chi phí rất cao. Các cặp cùng giới khác nhận con nuôi hoặc nuôi dạy những đứa trẻ từ các mối quan hệ khác giới trước đó.[106][107]

Nhận con nuôi[sửa | sửa mã nguồn]

Tình trạng hợp pháp của việc nhận con nuôi của các cặp đồng tính trên khắp thế giới:
  Cho phép nhận con nuôi chung
  Cho phép nhận con nuôi của cha mẹ thứ hai (con riêng)
  Không có luật nào cho phép các cặp cùng giới nhận con nuôi và không có hôn nhân cùng giới
  Có hôn nhân cùng giới nhưng các cặp cùng giới chưa được cho phép nhận con nuôi

Tất cả các quốc gia cho phép hôn nhân cùng giới sẽ đồng thời cho phép các cặp đôi cùng giới được nhận con nuôi chung ngoại trừ Nepal, Ecuador và một phần ba bang ở México, mặc dù những hạn chế như vậy đã bị phán quyết là vi hiến ở México. Ngoài ra, tuy Bolivia, Croatia, Israel và Liechtenstein không công nhận hôn nhân cùng giới nhưng vẫn cho phép các cặp đôi cùng giới không thể kết hôn được cùng nhận con nuôi chung. Một số quốc gia bổ sung không công nhận hôn nhân đồng tính cho phép các cặp vợ chồng trong kết hợp dân sự nhận con nuôi riêng bao gồm San Marino và Ý (tùy từng trường hợp).

Người chuyển giới và người liên giới tính[sửa | sửa mã nguồn]

Tình trạng pháp lý của hôn nhân cùng giới có thể có ý nghĩa đối với hôn nhân của các cặp vợ chồng trong đó một hoặc cả hai bên là người chuyển giới, tùy thuộc vào cách xác định giới tính trong phạm vi quyền hạn. Các cá nhân chuyển giới và liên giới tính có thể bị cấm kết hôn với bạn đời "khác" hoặc được phép kết hôn với bạn đời "cùng" giới tính tùy vào sự khác biệt pháp lý.[cần dẫn nguồn] Trong bất kỳ phạm vi quyền hạn pháp lý nào mà hôn nhân được xác nhận mà không có sự phân biệt về yêu cầu nam nữ, thì những phức tạp này không xảy ra. Ngoài ra, một số phạm vi quyền hạn pháp lý công nhận sự thay đổi giới hợp pháp và chính thức, điều này sẽ cho phép một người chuyển giới nam hoặc nữ kết hôn hợp pháp theo bản dạng giới phù hợp.[108]

Tình trạng pháp lý của hôn nhân cùng giới có thể có ý nghĩa đối với hôn nhân của các cặp vợ chồng trong đó một hoặc cả hai bên là người chuyển giới, tùy thuộc vào cách xác định giới tính trong phạm vi quyền hạn. Các cá nhân chuyển giới và liên giới tính có thể bị cấm kết hôn với bạn đời "khác" hoặc được phép kết hôn với bạn đời "cùng" giới tính tùy vào sự khác biệt pháp lý.[cần dẫn nguồn] Trong bất kỳ phạm vi quyền hạn pháp lý nào mà hôn nhân được xác nhận mà không có sự phân biệt về yêu cầu nam nữ, thì những phức tạp này không xảy ra. Ngoài ra, một số phạm vi quyền hạn pháp lý công nhận sự thay đổi giới hợp pháp và chính thức, điều này sẽ cho phép một người chuyển giới nam hoặc nữ kết hôn hợp pháp theo bản dạng giới phù hợp.[108]

Ly hôn[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Hoa Kỳ trước vụ kiện của Obergefell v. Hodges, các cặp đôi cùng giới chỉ có thể ly hôn ở các khu vực pháp lý công nhận hôn nhân cùng giới, với một số ngoại lệ.[109]

Tư pháp và lập pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Có những lập trường khác nhau về cách thức mà hôn nhân cùng giới đã được đưa vào phạm vị quyền hạn dân chủ. Quan điểm "quy tắc số đông" cho rằng hôn nhân cùng giới là hợp lệ, hoặc không có hiệu lực và bất hợp pháp, dựa trên việc nó đã được đa số cử tri hoặc đại diện được bầu chấp nhận hay chưa.[110]

Ngược lại, quan điểm về quyền công dân cho rằng thể chế này có thể được tạo ra một cách hợp lệ thông qua phán quyết của một cơ quan tư pháp công bằng xem xét kỹ lưỡng việc điều tra và nhận thấy rằng quyền kết hôn không phân biệt giới tính của những người tham gia được đảm bảo theo luật dân quyền của các cơ quan tài phán.[111]

Dư luận[sửa | sửa mã nguồn]

Dư luận về hôn nhân cùng giới. Phần có lợi:[112]

Nhiều cuộc thăm dò và nghiên cứu về vấn đề này đã được tiến hành. Xu hướng ủng hộ hôn nhân cùng giới ngày càng tăng và xuất hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới, phần lớn là do sự khác biệt giữa các thế hệ trong việc nuôi dưỡng. Cuộc thăm dò được tiến hành ở các nền dân chủ phát triển trong thế kỷ này cho thấy đa số người dân ủng hộ hôn nhân cùng giới. Sự ủng hộ hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới đã tăng lên ở mọi lứa tuổi, hệ tư tưởng chính trị, tôn giáo, giới tính, chủng tộc và ở nhiều khu vực của các quốc gia phát triển khác nhau trên thế giới.[113][114][115][116][117][Cần cập nhật]

Các cuộc thăm dò và nghiên cứu chi tiết khác nhau về hôn nhân cùng giới được thực hiện ở một số quốc gia cho thấy rằng sự ủng hộ đối với hôn nhân cùng giới tăng lên đáng kể khi có trình độ học vấn cao hơn và cũng mạnh hơn đáng kể ở các thế hệ trẻ, với xu hướng rõ ràng là sự ủng hộ liên tục gia tăng.[118][119][120][121][122][Cần cập nhật]

Thăm dò ý kiến ​​về hôn nhân cùng giới theo quốc gia
  Hôn nhân cùng giới được thực hiện trên toàn quốc
  Hôn nhân cùng giới được thực hiện ở một số vùng của quốc gia
  Kết hợp dân sự hoặc quan hệ bạn đời đã đăng ký trên toàn quốc
  Hoạt động tình dục cùng giới là bất hợp pháp
Quốc gia Hãng thăm dò ý kiến Năm Ủng hộ[l] Phản đối[l] Chưa biết[m] Biên độ
lỗi
Nguồn
Andorra Andorra Institut d'Estudis Andorrans 2013 &000000000000007000000070%
(&000000000000007900000079%)
&000000000000001900000019%
(&000000000000002100000021%)
&000000000000001100000011% [123]
Antigua và Barbuda Antigua và Barbuda AmericasBarometer 2017 &000000000000001200000012% [124]
Argentina Argentina Ipsos 2023 &000000000000007000000070%
(&000000000000008100000081%)
&000000000000001600000016% [&00000000000000080000008% ủng hộ một số quyền]
(&000000000000001900000019%)
&000000000000001400000014% không chắc ±3.5% [125]
Pew Research Center 2023 &000000000000006700000067%
(&000000000000007200000072%)
&000000000000002600000026%
&000000000000002800000028%
&00000000000000070000007% ±3.6% [126]
Armenia Armenia Pew Research Center 2015 &00000000000000030000003%
(&00000000000000030000003%)
&000000000000009600000096%
(&000000000000009700000097%)
&00000000000000010000001% ±3% [127]
[128]
Aruba Aruba 2021 &000000000000004600000046%
[129]
Úc Úc Ipsos 2023 &000000000000006300000063%
(&000000000000007000000070%)
&000000000000002700000027% [&000000000000001600000016% ủng hộ một số quyền]
(&000000000000003000000030%)
&000000000000001000000010% không chắc ±3.5% [125]
Pew Research Center 2023 &000000000000007500000075%
(&000000000000007700000077%)
&000000000000002300000023% &00000000000000020000002% ±3.6% [126]
Áo Áo Eurobarometer 2019 &000000000000006600000066%
(&000000000000006900000069%)
&000000000000003000000030%
(&000000000000003100000031%)
&00000000000000040000004% [130]
Bahamas Bahamas AmericasBarometer 2015 &000000000000001100000011% [131]
Belarus Belarus Pew Research Center 2015 &000000000000001600000016%
(&000000000000001600000016%)
&000000000000008100000081%
(&000000000000008400000084%)
&00000000000000030000003% ±4% [127]
[128]
Bỉ Bỉ Ipsos 2023 &000000000000007200000072%
(&000000000000008100000081%)
&000000000000001700000017% [&00000000000000090000009% ủng hộ một số quyền]
(&000000000000001900000019%)
&000000000000001000000010% không chắc ±3.5% [125]
Belize Belize AmericasBarometer 2014 &00000000000000080000008% [131]
Bolivia Bolivia AmericasBarometer 2017 &000000000000003500000035% &000000000000006500000065% ±1.0% [124]
Bosna và Hercegovina Bosnia và Herzegovina Pew Research Center 2015–2016 &000000000000001300000013%
(&000000000000001400000014%)
&000000000000008400000084%
(&000000000000008700000087%)
&00000000000000040000004% ±4% [127]
[128]
Brasil Brasil Ipsos 2023 &000000000000005100000051%
(&000000000000006400000064%)
&000000000000002900000029% [&000000000000001500000015% ủng hộ một số quyền]
(&000000000000003600000036%)
&000000000000002000000020% không chắc ±3.5% [n] [125]
Pew Research Center 2023 &000000000000005200000052%
(&000000000000005700000057%)
&000000000000004000000040%
(&000000000000004300000043%)
&00000000000000080000008% ±3.6% [126]
Bulgaria Bulgaria Eurobarometer 2019 &000000000000001600000016%
(&000000000000001800000018%)
&000000000000007400000074%
(&000000000000008200000082%)
&000000000000001000000010% [130]
Campuchia Campuchia Pew Resarch Center 2023 &000000000000005700000057%
(&000000000000005800000058%)
&000000000000004200000042% &00000000000000010000001% [126]
Canada Canada Ipsos 2023 &000000000000006900000069%
(&000000000000008000000080%)
&000000000000001700000017% [&00000000000000070000007% ủng hộ một số quyền]
(&000000000000002000000020%)
&000000000000001500000015% không chắc ±3.5% [125]
Pew Research Center 2023 &000000000000007900000079%
(&000000000000008400000084%)
&000000000000001500000015%
(&000000000000001600000016%)
&00000000000000060000006% ±3.6% [126]
Chile Chile Ipsos 2023 &000000000000006500000065%
(&000000000000007300000073%)
&000000000000002400000024% [&000000000000001800000018% ủng hộ một số quyền]
(&000000000000002700000027%)
&000000000000001200000012% ±3.5% [125]
Trung Quốc Trung Quốc Ipsos 2021 &000000000000004300000043%
(&000000000000005200000052%)
&000000000000003900000039% [&000000000000002000000020% ủng hộ một số quyền]
(&000000000000004800000048%)
&000000000000001800000018% không chắc ±3.5% [n] [132]
Colombia Colombia Ipsos 2023 &000000000000004900000049%
(&000000000000006000000060%)
&000000000000003300000033% [&000000000000002100000021% ủng hộ một số quyền]
(&000000000000004000000040%)
&000000000000001800000018% [125]
Costa Rica Costa Rica CIEP 2018 &000000000000003500000035% &000000000000006400000064% &00000000000000010000001% [133]
Croatia Croatia Eurobarometer 2019 &000000000000003900000039%
(&000000000000004100000041%)
&000000000000005500000055%
(&000000000000005900000059%)
&00000000000000060000006% [130]
Cuba Cuba Apretaste 2019 &000000000000006300000063% &000000000000003700000037% [134]
Cộng hòa Síp Síp Eurobarometer 2019 &000000000000003600000036%
(&000000000000003800000038%)
&000000000000006000000060%
(&000000000000006200000062%)
&00000000000000040000004% [130]
Cộng hòa Séc Cộng hòa Séc Median agency 2019 &000000000000006700000067% [135]
Đan Mạch Đan Mạch Eurobarometer 2019 &000000000000008900000089%
(&000000000000009200000092%)
&00000000000000080000008%
(&00000000000000080000008%)
&00000000000000030000003% [130]
Dominica Dominica AmericasBarometer 2017 &000000000000001000000010% &000000000000009000000090% ±1.1% [124]
Cộng hòa Dominica Cộng hòa Dominica CDN 37 2018 &000000000000004500000045% &000000000000005500000055% - [136]
Ecuador Ecuador AmericasBarometer 2019 &000000000000002300000023%
(&000000000000003100000031%)
&000000000000005100000051%
(&000000000000006900000069%)
&000000000000002600000026% [137]
El Salvador El Salvador Universidad Francisco Gavidia 2021 &000000000000008250000082,5% [138]
Estonia Estonia HumanrightsEE 2023 &000000000000005300000053%
(&000000000000005800000058%)
&000000000000003900000039%
(&000000000000004200000042%)
&00000000000000080000008% [139]
Phần Lan Phần Lan Eurobarometer 2019 &000000000000007600000076%
(&000000000000007800000078%)
&000000000000002100000021%
(&000000000000002200000022%)
&00000000000000030000003% [130]
Pháp Pháp Ipsos 2023 &000000000000006600000066%
(&000000000000007300000073%)
&000000000000002500000025% [&000000000000001500000015% ủng hộ một số quyền]
(&000000000000002700000027%)
&00000000000000090000009% không chắc ±3.5% [125]
Pew Research Center 2023 &000000000000008200000082%
(&000000000000008500000085%)
&000000000000001400000014%
(&000000000000001500000015%)
&00000000000000040000004% ±3.6% [126]
Gruzia Gruzia Women's Initiatives Supporting Group 2021 &000000000000001000000010%
(&000000000000001200000012%)
&000000000000007500000075%
(&000000000000008800000088%)
&000000000000001500000015% [140]
Đức Đức Ipsos 2023 &000000000000006200000062%
(&000000000000007100000071%)
&000000000000002500000025% [&000000000000001200000012% ủng hộ một số quyền]
(&000000000000002900000029%)
&000000000000001400000014% không chắc ±3.5% [125]
Pew Research Center 2023 &000000000000008000000080%
(&000000000000008200000082%)
&000000000000001800000018% &00000000000000020000002% ±3.6% [126]
Hy Lạp Hy Lạp Pew Research Center 2023 &000000000000004800000048%
(&000000000000004900000049%)
&000000000000004900000049%
(&000000000000005100000051%)
&00000000000000030000003% ±3.6% [126]
Grenada Grenada AmericasBarometer 2017 &000000000000001200000012% &000000000000008800000088% ±1.4%c [124]
Guatemala Guatemala AmericasBarometer 2017 &000000000000002300000023% &000000000000007700000077% ±1.1% [124]
Guyana Guyana AmericasBarometer 2017 &000000000000002100000021% &000000000000007900000079% ±1.3% [131]
Haiti Haiti AmericasBarometer 2017 &00000000000000050000005% &000000000000009500000095% ±0.3% [124]
Honduras Honduras CID Gallup 2018 &000000000000001700000017%
(&000000000000001800000018%)
&000000000000007500000075%
(&000000000000008200000082%)
&00000000000000080000008% [141]
Hồng Kông Hồng Kông Pew Resarch Center 2023 &000000000000005800000058%
(&000000000000005900000059%)
&000000000000004000000040%
(&000000000000004100000041%)
&00000000000000020000002% [126]
Hungary Hungary Ipsos 2023 &000000000000004700000047%
(&000000000000005700000057%)
&000000000000003600000036% [&000000000000002000000020% ủng hộ một số quyền]
(&000000000000004300000043%)
&000000000000001800000018% không chắc ±3.5% [125]
Pew Research Center 2023 &000000000000003100000031%
(&000000000000003300000033%)
&000000000000006400000064%
(&000000000000006700000067%)
&00000000000000050000005% ±3.6% [126]
Iceland Iceland Gallup 2006 &000000000000008900000089% &000000000000001100000011% [142]
Ấn Độ Ấn Độ Pew Research Center 2023 &000000000000005300000053%
(&000000000000005500000055%)
&000000000000004300000043%
(&000000000000004500000045%)
&00000000000000040000004% ±3.6% [126]
Indonesia Indonesia Pew Research Center 2023 &00000000000000050000005% &000000000000009200000092%
(&000000000000009500000095%)
&00000000000000030000003% ±3.6% [126]
Cộng hòa Ireland Ireland Ipsos 2023 &000000000000006400000064%
(&000000000000007200000072%)
&000000000000002500000025% [&000000000000001300000013% ủng hộ một số quyền]
(&000000000000002800000028%)
&000000000000001100000011% [125]
Israel Israel Pew Research Center 2023 &000000000000003600000036%
(&000000000000003900000039%)
&000000000000005600000056%
(&000000000000006100000061%)
&00000000000000080000008% ±3.6% [126]
Ý Ý Ipsos 2023 &000000000000006100000061%
(&000000000000006700000067%)
&000000000000003000000030% [&000000000000002100000021% ủng hộ một số quyền]
(&000000000000003300000033%)
&00000000000000090000009% không chắc ±3.5% [125]
Pew Research Center 2023 &000000000000007300000073%
(&000000000000007500000075%)
&000000000000002500000025% &00000000000000020000002% ±3.6% [126]
Jamaica Jamaica AmericasBarometer 2017 &000000000000001600000016% &000000000000008400000084% ±1.0% [124]
Nhật Bản Nhật Bản Kyodo News 2023 &000000000000006400000064%
(72%)
&000000000000002500000025%
(28%)
&000000000000001100000011% [143]
Asahi Shimbun 2023 &000000000000007200000072%
(&000000000000008000000080%)
&000000000000001800000018%
(&000000000000002000000020%)
&000000000000001000000010% [144]
Ipsos 2023 &000000000000003800000038%
(&000000000000004900000049%)
&000000000000004000000040% [&000000000000003100000031% ủng hộ một số quyền]
(&000000000000005100000051%)
&000000000000002200000022% không chắc ±3.5% [125]
Pew Research Center 2023 &000000000000006800000068%
(&000000000000007200000072%)
&000000000000002600000026%
(&000000000000002800000028%)
&00000000000000060000006% ±2.75% [126]
Kazakhstan Kazakhstan Pew Research Center 2016 &00000000000000070000007%
(&00000000000000070000007%)
&000000000000008900000089%
(&000000000000009300000093%)
&00000000000000040000004% [127]
[128]
Kenya Kenya Pew Research Center 2023 &00000000000000090000009% &000000000000009000000090%
(&000000000000009100000091%)
&00000000000000010000001% ±3.6% [126]
Latvia Latvia Eurobarometer 2019 &000000000000002400000024%
(&000000000000002600000026%)
&000000000000007000000070%
(&000000000000007400000074%)
&00000000000000060000006% [130]
Liechtenstein Liechtenstein Liechtenstein Institut 2021 &000000000000007200000072% &000000000000002800000028% &00000000000000000000000% [145]
Litva Litva Eurobarometer 2019 &000000000000003000000030%
(&000000000000003200000032%)
&000000000000006300000063%
(&000000000000006800000068%)
&00000000000000070000007% [130]
Luxembourg Luxembourg Eurobarometer 2019 &000000000000008500000085%
(&000000000000009000000090%)
&00000000000000090000009%
(&000000000000001000000010%)
&00000000000000060000006% [130]

Malaysia Malaysia

Pew Resarch Center 2023 &000000000000001700000017% &000000000000008200000082%
(&000000000000008300000083%)
&00000000000000010000001% [126]
Malta Malta Eurobarometer 2019 &000000000000006700000067%
(&000000000000007300000073%)
&000000000000002500000025%
(&000000000000002700000027%)
&00000000000000080000008% [130]
México México Ipsos 2023 &000000000000005800000058%
(&000000000000006700000067%)
&000000000000002800000028% [&000000000000001700000017% ủng hộ một số quyền]
(&000000000000003300000033%)
&000000000000001400000014% không chắc ±4.8% [n] [125]
Pew Research Center 2023 &000000000000006300000063%
(&000000000000006600000066%)
&000000000000003200000032%
(&000000000000003400000034%)
&00000000000000050000005% ±3.6% [126]
Moldova Moldova Pew Research Center 2015 &00000000000000050000005%
(&00000000000000050000005%)
&000000000000009200000092%
(&000000000000009500000095%)
&00000000000000030000003% ±4% [127]
[128]
Mozambique Mozambique (3 thành phố) Lambda 2017 &000000000000002800000028%
(&000000000000003200000032%)
&000000000000006000000060%
(&000000000000006800000068%)
&000000000000001200000012% [146]
Hà Lan Hà Lan Ipsos 2023 &000000000000008000000080%
(&000000000000008500000085%)
&000000000000001400000014% [&00000000000000060000006% ủng hộ một số quyền]
(&000000000000001500000015%)
&00000000000000070000007% không chắc ±3.5% [125]
Pew Research Center 2023 &000000000000008900000089%
(&000000000000009000000090%)
&000000000000001000000010% &00000000000000010000001% ±3.6% [126]
New Zealand New Zealand Ipsos 2023 &000000000000007000000070%
(&000000000000007800000078%)
&000000000000002000000020% [&000000000000001100000011% ủng hộ một số quyền]
(&000000000000002200000022%)
&00000000000000090000009% ±3.5% [125]
Nicaragua Nicaragua AmericasBarometer 2017 &000000000000002500000025% &000000000000007500000075% ±1.0% [124]
Nigeria Nigeria Pew Research Center 2023 &00000000000000020000002% &000000000000009700000097%
(&000000000000009800000098%)
&00000000000000010000001% ±3.6% [126]
Na Uy Na Uy Pew Research Center 2017 &000000000000007200000072%
(&000000000000007900000079%)
&000000000000001900000019%
(&000000000000002100000021%)
&00000000000000090000009% [127]
[128]
Panama Panama AmericasBarometer 2017 &000000000000002200000022% &000000000000007800000078% ±1.1% [124]
Paraguay Paraguay AmericasBarometer 2017 &000000000000002600000026% &000000000000007400000074% ±0.9% [124]
Peru Peru Ipsos 2023 &000000000000004100000041%
(&000000000000005100000051%)
&000000000000004000000040% [&000000000000002400000024% ủng hộ một số quyền]
(&000000000000004900000049%)
&000000000000001900000019% ±3.5% [n] [125]
Philippines Philippines SWS 2018 &000000000000002200000022%
(&000000000000002600000026%)
&000000000000006100000061%
(&000000000000007300000073%)
&000000000000001600000016% [147]
Ba Lan Ba Lan Ipsos 2023 &000000000000003200000032%
(&000000000000003600000036%)
&000000000000005700000057% [&000000000000003500000035% ủng hộ một số quyền]
(&000000000000006400000064%)
&000000000000001100000011% ±3.5% [125]
Pew Research Center 2023 &000000000000004100000041%
(&000000000000004300000043%)
&000000000000005400000054%
(&000000000000005700000057%)
&00000000000000050000005% ±3.6% [126]
Bồ Đào Nha Bồ Đào Nha Ipsos 2023 &000000000000008000000080%
(&000000000000008400000084%)
&000000000000001500000015% [&000000000000001100000011% ủng hộ một số quyền]
(&000000000000001600000016%)
&00000000000000050000005% [125]
România Romania Ipsos 2023 &000000000000002500000025%
(&000000000000003000000030%)
&000000000000005900000059% [&000000000000002600000026% ủng hộ một số quyền]
(&000000000000007000000070%)
&000000000000001700000017% ±3.5% [125]
Nga Nga Ipsos 2021 &000000000000001700000017%
(&000000000000002100000021%)
&000000000000006400000064% [&000000000000001200000012% ủng hộ một số quyền]
(&000000000000007900000079%)
&000000000000002000000020% không chắc ±4.8% [n] [132]
FOM 2019 &00000000000000070000007%
(&00000000000000080000008%)
&000000000000008500000085%
(&000000000000009200000092%)
&00000000000000080000008% ±3.6% [148]
Saint Kitts và Nevis Saint Kitts và Nevis AmericasBarometer 2017 &00000000000000090000009% &000000000000009100000091% ±1.0% [124]
Saint Lucia Saint Lucia AmericasBarometer 2017 &000000000000001100000011% &000000000000008900000089% ±0.9% [124]
Saint Vincent và Grenadines Saint Vincent và Grenadines AmericasBarometer 2017 &00000000000000040000004% &000000000000009600000096% ±0.6% [124]
Serbia Serbia Civil Rights Defender 2020 &000000000000002600000026% ±3.33% [149]
Singapore Singapore Ipsos 2023 &000000000000003200000032%
(&000000000000003900000039%)
&000000000000005000000050% [&000000000000002300000023% ủng hộ một số quyền]
(&000000000000006100000061%)
&000000000000001900000019% ±3.5% [125]
Pew Resarch Center 2023 &000000000000004500000045%
(&000000000000004700000047%)
&000000000000005100000051%
(&000000000000005300000053%)
&00000000000000040000004% [126]
Slovakia Slovakia Ipsos 2022 &000000000000003200000032%
(&000000000000003600000036%)
&000000000000005600000056%
(&000000000000006400000064%)
&000000000000001300000013% [150]
Slovenia Slovenia Eurobarometer 2019 &000000000000006200000062%
(&000000000000006400000064%)
&000000000000003500000035%
(&000000000000003600000036%)
&00000000000000030000003% [130]
Cộng hòa Nam Phi Nam Phi Ipsos 2023 &000000000000005700000057%
(&000000000000006600000066%)
&000000000000002900000029% [&000000000000001000000010% ủng hộ một số quyền]
(&000000000000003400000034%)
&000000000000001400000014% ±3.5% [n] [125]
Pew Research Center 2023 &000000000000003800000038%
(&000000000000003900000039%)
&000000000000005900000059%
(&000000000000006100000061%)
&00000000000000030000003% ±3.6% [126]
Hàn Quốc Hàn Quốc Ipsos 2023 &000000000000003500000035%
(&000000000000004500000045%)
&000000000000004200000042% [&000000000000001800000018% ủng hộ một số quyền]
(&000000000000005500000055%)
&000000000000002300000023% không chắc ±3.5% [125]
Pew Resarch Center 2023 &000000000000004100000041%
(&000000000000004200000042%)
&000000000000005600000056%
(&000000000000005800000058%)
&00000000000000030000003% [126]
Tây Ban Nha Tây Ban Nha Ipsos 2023 &000000000000007800000078%
(&000000000000008200000082%)
&000000000000001700000017% [&000000000000001200000012% ủng hộ một số quyền]
(&000000000000001800000018%)
&00000000000000050000005% không chắc ±3.5% [125]
Pew Research Center 2023 &000000000000008700000087%
(&000000000000009000000090%)
&000000000000001000000010% &00000000000000030000003% ±3.6% [126]
Sri Lanka Sri Lanka Pew Resarch Center 2023 &000000000000002300000023%
(&000000000000002500000025%)
&000000000000006900000069%
(&000000000000007500000075%)
&00000000000000080000008% [126]
Suriname Suriname AmericasBarometer 2014 &000000000000001800000018% [131]
Thụy Điển Thụy Điển Ipsos 2023 &000000000000007500000075%
(&000000000000008200000082%)
&000000000000001600000016% [&00000000000000070000007% ủng hộ một số quyền]
(&000000000000001800000018%)
&00000000000000090000009% không chắc ±3.5% [125]
Pew Research Center 2023 &000000000000009200000092%
(&000000000000009400000094%)
&00000000000000060000006% &00000000000000020000002% ±3.6% [126]
Thụy Sĩ Thụy Sĩ Ipsos 2023 &000000000000005400000054%
(&000000000000006100000061%)
&000000000000003400000034% [&000000000000001600000016% ủng hộ một số quyền]
(&000000000000003900000039%)
&000000000000001300000013% không chắc ±3.5% [125]
Đài Loan Đài Loan CNA 2023 &000000000000006300000063% &000000000000003700000037% [151]
Pew Resarch Center 2023 &000000000000004500000045%
(&000000000000005100000051%)
&000000000000004300000043%
(&000000000000004900000049%)
&000000000000001200000012% [126]
Thái Lan Thái Lan Ipsos 2023 &000000000000005500000055%
(&000000000000006500000065%)
&000000000000002900000029% [&000000000000001800000018% ủng hộ một số quyền]
(&000000000000003500000035%)
&000000000000001600000016% không chắc ±3.5% [125]
Pew Resarch Center 2023 &000000000000006000000060%
(&000000000000006500000065%)
&000000000000003200000032%
(&000000000000003500000035%)
&00000000000000080000008% [126]
Trinidad và Tobago Trinidad và Tobago AmericasBarometer 2014 &000000000000001600000016% [131]
Thổ Nhĩ Kỳ Thổ Nhĩ Kỳ Ipsos 2023 &000000000000002000000020%
(&000000000000002800000028%)
&000000000000005200000052% [&000000000000002200000022% ủng hộ một số quyền]
(&000000000000007200000072%)
&000000000000002800000028% không chắc ±3.5% [n] [125]
Ukraina Ukraina Rating 2023 &000000000000003700000037%
(&000000000000004700000047%)
&000000000000004200000042%
(&000000000000005300000053%)
&000000000000002200000022% ±1.5% [152]
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Vương quốc Anh YouGov 2023 &000000000000007700000077%
(&000000000000008400000084%)
&000000000000001500000015%
(&000000000000001600000016%)
&00000000000000080000008% [153]
Ipsos 2023 &000000000000006400000064%
(&000000000000007000000070%)
&000000000000002700000027% [&000000000000001400000014% ủng hộ một số quyền]
(&000000000000003000000030%)
&00000000000000090000009% không chắc ±3.5% [125]
Pew Research Center 2023 &000000000000007400000074%
(&000000000000007700000077%)
&000000000000002200000022%
(&000000000000002300000023%)
&00000000000000040000004% ±3.6% [126]
Hoa Kỳ Hoa Kỳ Ipsos 2023 &000000000000005400000054%
(&000000000000006400000064%)
&000000000000003100000031% [&000000000000001400000014% ủng hộ một số quyền]
(&000000000000003600000036%)
&000000000000001500000015% không chắc ±3.5% [125]
Pew Research Center 2023 &000000000000006300000063%
(&000000000000006500000065%)
&000000000000003400000034%
(&000000000000003500000035%)
&00000000000000030000003% ±3.6% [126]
Uruguay Uruguay Equipos Consultores 2019 &000000000000005900000059%
(&000000000000006800000068%)
&000000000000002800000028%
(&000000000000003200000032%)
&000000000000001300000013% [154]
Venezuela Venezuela Equilibrium Cende 2023 &000000000000005500000055%
(&000000000000006300000063%)
&000000000000003200000032%
(&000000000000003700000037%)
&000000000000001300000013% [155]
Việt Nam Việt Nam Pew Resarch Center 2023 &000000000000006500000065%
(&000000000000006800000068%)
&000000000000003000000030%
(&000000000000003200000032%)
&00000000000000050000005% [126]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hôn nhân cùng giới được thực hiện và được pháp luật thừa nhận ở Đan Mạch, Quần đảo FaroeGreenland, cùng tạo nên Vương quốc Đan Mạch.
  2. ^ Hôn nhân cùng giới được thực hiện và công nhận trên khắp Ecuador, nhưng những cặp vợ chồng như vậy không được coi là kết hôn cho mục đích nhận con nuôi và không được nhận con nuôi.
  3. ^ Hôn nhân cùng giới được thực hiện và được pháp luật công nhận ở Hà Lan, bao gồm các thành phố tự trị của Bonaire, Sint Eustatius và Saba. Hôn nhân cùng giới ít được thừa nhận ở Aruba, Curaçao và Sint Maarten, những đảo tạo nên Vương quốc Hà Lan.
  4. ^ Hôn nhân cùng giới được thực hiện và được pháp luật công nhận ở tất cả năm mươi tiểu bang của Hoa Kỳ và ở Đặc khu Columbia, ở tất cả các lãnh thổ hải ngoại ngoại trừ Samoa thuộc Mỹ, và ở tất cả các quốc gia bộ lạc không có luật hôn nhân riêng, cũng như ở hầu hết các dân tộc như vậy. Vùng ngoại lệ lớn nhất trong số hàng chục hoặc còn gọi là ngoại lệ trong số các khu bảo tồn liên bang là NavajoGila River, và lớn nhất trong số các khu vực có chủ quyền chung của Bộ lạc Oklahoma là CreekCitizen Potawatomi. Các chính thể này cấm hôn nhân cùng giới và không công nhận hôn nhân từ các khu vực pháp lý khác, mặc dù các thành viên vẫn có thể kết hôn theo luật tiểu bang và được hưởng tất cả các quyền hôn nhân theo luật tiểu bang và liên bang.
  5. ^ Hôn nhân cùng giới có sẵn ở tất cả các khu vực pháp lý, mặc dù quá trình này không phải ở đâu cũng đơn giản như đối với hôn nhân khác giới và không phải lúc nào cũng bao gồm quyền nhận con nuôi.
  6. ^ Nepal đang chờ quyết định cuối cùng của tòa án tối cao, nhưng trong khi đó tất cả chính quyền địa phương được hướng dẫn cấp giấy chứng nhận kết hôn cho các cặp cùng giới.[46]
  7. ^ Hôn nhân cùng giới được thực hiện và được luật pháp công nhận ở New Zealand, nhưng không hợp pháp ở các vùng thuộc quyền sở hữu của Tokelau, cũng như ở Quần đảo CookNiue, các vùng cùng tạo nên Vương quốc New Zealand.
  8. ^ Hôn nhân cùng giới được thực hiện và được pháp luật công nhận ở thủ đô nước Pháp cũng như ở tất cả các khu vực hải ngoại và thuộc địa của Pháp, tuân theo một quy tắc pháp lý duy nhất.
  9. ^ Hôn nhân cùng giới được thực hiện và được pháp luật công nhận ở tất cả các vùng của Vương quốc Anh và trong vùng hải ngoại không thuộc Caribbean, nhưng không được hợp phát tại vùng sở hữu Caribbean của quốc gia này, cụ thể là Anguilla, Bermuda, Quần đảo Virgin thuộc Anh, Quần đảo Cayman, MontserratQuần đảo Turks và Caicos.
  10. ^ Hôn nhân cùng giới được thực hiện và được pháp luật công nhận tại chính nước Úc cũng như trong các vùng phụ thuộc của Đảo Norfolk, Đảo ChristmasQuần đảo Cocos, tuân theo luật pháp của Úc.
  11. ^ Hợp pháp ở các thành phố tự trị của Bisbee, Clarkdale, Cottonwood, Jerome, Sedona và Tucson.
  12. ^ a b Bởi vì một số cuộc thăm dò không báo cáo 'không', những cuộc thăm dò được liệt kê với tỷ lệ phần trăm có/không đơn giản trong ngoặc đơn, vì vậy số liệu của chúng có thể được so sánh.
  13. ^ Bao gồm: Trung lập; Không biết; Không có câu trả lời; Khác; Từ chối.
  14. ^ a b c d e f g [+ more urban/educated than representative]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ VERPOEST, LIEN (2017). “The End of Rhetorics: LGBT policies in Russia and the European Union”. Studia Diplomatica. 68 (4): 3–20. ISSN 0770-2965. JSTOR 26531664.
  2. ^ Huang, Wen (4 tháng 1 năm 2001). “Gayness as a Western disease”. Bay Area Reporter. 31 (1). Center for Bibliographical Studies and Research. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2020.
  3. ^ Williams, CA., Roman Homosexuality: Second Edition, Oxford University Press, 2009, p. 280, p. 284.
  4. ^ William N. Eskridg Jr. and Christopher R. Riano, "Marriage Equality: From Outlaws to In-Laws", Yale University Press (2020), Chapter 24.
  5. ^ a b Winter, Caroline (4 tháng 12 năm 2014). “In 14 years, same-sex marriage has spread round the world”. Bloomberg. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2022.
  6. ^ “Same-sex Oklahoma couple marries legally under tribal law”. KOCO. 26 tháng 9 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2013.
  7. ^ Multiple sources:
  8. ^ Molly Ball, 2024 May 13, Wall Street Journal, How 20 Years of Same-Sex Marriage Changed America
  9. ^ “Brief of Amici Curiae American Anthropological Association et al., supporting plaintiffs-appellees and urging affirmance – Appeal from United States District Court for the Northern District of California Civil Case No. 09-CV-2292 VRW (Honorable Vaughn R. Walker)” (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 26 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2010.
  10. ^ a b American Anthropological Association (2004). “Statement on Marriage and the Family”. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2015.
  11. ^ Handbook of Gay, Lesbian, Bisexual, and Transgender Administration and Policy — Page 13, Wallace Swan – 2004
  12. ^ Multiple sources:
  13. ^ “Marriage Equality”. Garden State Equality. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2012.
  14. ^ “Marriage 101”. Freedom to Marry. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2012.
  15. ^ Pratt, Patricia (29 tháng 5 năm 2012). “Albany area real estate and the Marriage Equality Act”. Albany Examiner. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2012. On July 24, 2011 the Marriage Equality Act became a law in New York State forever changing the state's legal view of what a married couple is.
  16. ^ “Vote on Illinois marriage equality bill coming in January: sponsors”. Chicago Phoenix. 13 tháng 12 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2012.
  17. ^ “Commission endorses marriage and adoption equality”. Human Right Commission New Zealand. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2012.
  18. ^ Mulholland, Helene (27 tháng 9 năm 2012). “Ed Miliband calls for gay marriage equality”. The Guardian. London, UK. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2012.
  19. ^ Ring, Trudy (20 tháng 12 năm 2012). “Newt Gingrich: Marriage Equality Inevitable, OK”. The Advocate. Los Angeles. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2012. He [Newt Gingrich] noted to HuffPo that he not only has a lesbian half-sister, LGBT rights activist Candace Gingrich, but has gay friends who've gotten married in Iowa, where their unions are legal. Public opinion has shifted in favor of marriage equality, he said, and the Republican Party could end up on the wrong side of history if it continues to go against the tide.
  20. ^ @apstylebook. “The term same-sex marriage is preferred over gay marriage. In places where it's legal, same-sex marriage is no different than other marriages, so the term should be used only when germane and needed to distinguish from marriages between heterosexual couples. #APStyleChat” (Tweet) – qua Twitter.
  21. ^ Inc, Gallup (24 tháng 2, 2021). “One in 10 LGBT Americans Married to Same-Sex Spouse”. Gallup.com.
  22. ^ Yin, Karen (8 tháng 3, 2016). “When Bisexual People Marry”. Conscious Style Guide.
  23. ^ Fedorak, Shirley A. (2008). Anthropology matters!. [Toronto], Ont.: University of Toronto Press. tr. Ch. 11, p. 174. ISBN 978-1442601086.
  24. ^ a b Gough, Kathleen E. (Jan–Jun 1959). “The Nayars and the Definition of Marriage”. The Journal of the Royal Anthropological Institute of Great Britain and Ireland. 89 (1): 23–34. doi:10.2307/2844434. JSTOR 2844434.
  25. ^ Murray, Stephen O.; Roscoe, Will (2001). Boy-wives and female husbands : studies of African homosexualities (ấn bản 1). New York: St. Martin's. ISBN 978-0312238292. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2020.
  26. ^ Njambi, Wairimu; O'Brien, William (Spring 2001). “Revisiting "Woman-Woman Marriage": Notes on Gikuyu Women”. NWSA Journal. 12 (1): 1–23. doi:10.1353/nwsa.2000.0015. S2CID 144520611. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2012.
  27. ^ “Dictionaries take lead in redefining modern marriage”. The Washington Times. 24 tháng 5 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012.
  28. ^ “Webster Makes It Official: Definition of Marriage Has Changed”. American Bar Association. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2012.
  29. ^ Redman, Daniel (7 tháng 4 năm 2009). “Noah Webster Gives His Blessing: Dictionaries recognize same-sex marriage—who knew?”. Slate. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2012.
  30. ^ “The Divine Institution of Marriage”. The Church of Jesus Christ of Latter-day Saints. 13 tháng 8 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2012.
  31. ^ “Marriage Protection Sunday: Churches encouraged to address 'gay marriage'. Baptist Press. 19 tháng 5 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2011.
  32. ^ Rabbi Joel Roth. Homosexuality Lưu trữ 24 tháng 8 2017 tại Wayback Machine rabbinicalassembly.org 1992.
  33. ^ Martial 1.24 and 12.42; Juvenal 2.117–42. Williams, Roman Homosexuality, pp. 28, 280; Karen K. Hersh, The Roman Wedding: Ritual and Meaning in Antiquity (Cambridge University Press, 2010), p. 36; Caroline Vout, Power and Eroticism in Imperial Rome (Cambridge University Press, 2007), pp. 151ff.
  34. ^ Suetonius, Tacitus, Dio Cassius, and Aurelius Victor are the sources cited by Williams, Roman Homosexuality, p. 279.
  35. ^ Williams, Roman Homosexuality, pp. 278–279, citing Dio Cassius and Aelius Lampridius.
  36. ^ a b Williams, Roman Homosexuality, p. 280.
  37. ^ William N. Eskridg Jr. and Christopher R. Riano, "Marriage Equality: From Outlaws to In-Laws", Yale University Press (2020), Chapter 24
  38. ^ “How Same-Sex Marriage Came to Be”. Harvard Magazine. March–April 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2015.
  39. ^ “The secret history of same-sex marriage”. The Guardian. 23 tháng 1 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2015.
  40. ^ Hari, Johann (Spring 2009). “Andrew Sullivan: Thinking. Out. Loud”. Intelligent Life. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2013.
  41. ^ Sullivan, Andrew (9 tháng 11 năm 2012). “Here Comes the Groom”. Slate. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2013.
  42. ^ Rule, Sheila (2 tháng 10 năm 1989). “Rights for Gay Couples in Denmark”. New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2013.
  43. ^ “The Dutch went first in 2001; who has same-sex marriage now?”. Associated Press. 28 tháng 4 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2021.
  44. ^ “Archived copy” (PDF). www.congresozac.gob.mx. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 1 năm 2022.Quản lý CS1: bản lưu trữ là tiêu đề (liên kết)
  45. ^ “Archived copy”. www.congresozac.gob.mx. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 1 năm 2022.Quản lý CS1: bản lưu trữ là tiêu đề (liên kết)
  46. ^ “In landmark move, Nepal's govt circular allows same-sex marriage”. 27 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2024.
  47. ^ “Information for couples marrying outside the Rabbinate” (PDF). Rackman Center. 2018. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2023.
  48. ^ "Aruba, Curaçao ordered to extend marriage rights to same-sex couples". Los Angeles Blade. 7 December 2022.
  49. ^ NEWS, KYODO. “Japan opposition party submits bill for same-sex marriage”. Kyodo News+.
  50. ^ “Delegates sponsor bill to legalize same-sex marriage on Navajo Nation”. Daily-times.com. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2022.
  51. ^ “Diputada plantea iniciativa para el matrimonio civil igualitario en la Asamblea Nacional”. El Acarigueño (bằng tiếng Tây Ban Nha). 24 tháng 2 năm 2022. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2022.
  52. ^ Tilles, Daniel (18 tháng 12 năm 2023). “New Polish ruling coalition outlines plans to introduce same-sex unions”. Notes From Poland (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2024.
  53. ^ “Kosovo promises to introduce same-sex unions in May – Euractiv”.
  54. ^ “Presentan proyecto de ley sobre el matrimonio igualitario entre personas del mismo sexo”. El Comercio. elcomercio.pe. 23 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2022.
  55. ^ News, HANA BORDEY, GMA (11 tháng 8 năm 2022). “Padilla wants same-sex unions institutionalized”. GMA News Online.
  56. ^ Anna Kholodnova (2 tháng 8 năm 2022). “Zelensky responded to the petition on the legalization of same-sex marriages in Ukraine”. Бабель.
  57. ^ “Padilla wants same-sex unions institutionalized”. 11 tháng 8 năm 2022.
  58. ^ “UKIP and Tories abstain on EU motion to recognise same-sex marriage”. PinkNews. 13 tháng 3 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2015.
  59. ^ “Texts adopted - Thursday, 12 March 2015 - Annual report on human rights and democracy in the world 2013 and the EU policy on the matter - P8_TA-PROV(2015)0076”. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2015.
  60. ^ “Annual report on human rights and democracy in the world 2013 and the EU policy on the matter”. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2015.
  61. ^ a b “HUDOC - European Court of Human Rights”. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2015.
  62. ^ Buyse, Antoine (24 tháng 6 năm 2010). “Strasbourg court rules that states are not obliged to allow gay marriage”. The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2013.
  63. ^ Avram, Marieta (2016). Drept civil Familia [Civil law Family] (bằng tiếng Romania). Bucharest: Editura Hamangiu. ISBN 978-606-27-0609-8.
  64. ^ “European Convention on Human Rights” (PDF). ECHR.coe.int. European Court of Human Rights. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2015.
  65. ^ “HUDOC - European Court of Human Rights”. ECHR (bằng tiếng English). ECHR. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2022.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  66. ^ Palazzo, Nausica (tháng 4 năm 2023). “Fedotova and Others v. Russia : Dawn of a new era for European LGBTQ families?”. Maastricht Journal of European and Comparative Law. 30 (2): 216–228. doi:10.1177/1023263X231195455.
  67. ^ “EU court backs residency rights for gay couple in Romania – AP”. Associated Press. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2018.
  68. ^ “Same-sex spouses have EU residence rights, top court rules – BBC”. BBC News. 5 tháng 6 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2018.
  69. ^ “Texts adopted - LGBTIQ rights in the EU - Tuesday, 14 September 2021”. www.europarl.europa.eu (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2021.
  70. ^ “MEPs condemn failure to respect rights of same-sex partners in EU”. The Guardian (bằng tiếng Anh). 14 tháng 9 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2021.
  71. ^ "Major Advance for Marriage Equality and Gender Identity Rights in Latin America". San Francisco Bay Times, 2018 January 29”. Sfbaytimes.com. 25 tháng 1 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2018.
  72. ^ Towle, Andy (13 tháng 11 năm 2008). “NYC Protest and Civil Rights March Opposing Proposition 8”. Towleroad. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2012.
  73. ^ Williams, Steve. “Which Countries Have Legalized Gay Marriage?”. Care2.com (news.bbc.co.uk as source). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2012.
  74. ^ “Loi du 9 juillet 2004 relative aux effets légaux de certains partenariats. - Legilux”. Eli.legilux.public.lu. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2017.
  75. ^ “Loi n° 99-944 du 15 novembre 1999 relative au pacte civil de solidarité”. Legifrance.gouv.fr (bằng tiếng Pháp). 12 tháng 3 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2017.
  76. ^ “WETTEN, DECRETEN, ORDONNANTIES EN VERORDENINGEN LOIS, DECRETS, ORDONNANCES ET REGLEMENTS” (PDF). Ejustice.jkust.fgov.be. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2017.
  77. ^ “Civil Partnership Act 2004”. Legislation.gov.uk. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2017.
  78. ^ “Same-Sex Marriage, Civil Unions and Domestic Partnerships”. National Conference of State Legislatures. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2012.
  79. ^ Ramstack, Tom (11 tháng 1 năm 2010). “Congress Considers Outcome of D.C. Gay Marriage Legislation”. AHN. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 6 năm 2010.
  80. ^ Gender and Language in Sub-Saharan Africa, 2013:35
  81. ^ Igwe, Leo (19 tháng 6 năm 2009). “Tradition of same gender marriage in Igboland”. Nigerian Tribune. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2010.
  82. ^ “Same-sex marriage and children's well-being: Research roundup”. Journalist's Resource. 26 tháng 6 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2015.
  83. ^ a b Pawelski, J.G.; Perrin, E.C.; Foy, J.M.; Allen, C.E.; Crawford, J.E.; Del Monte, M.; Kaufman, M.; Klein, J.D.; Smith, K.; Springer, S.; Tanner, J.L.; Vickers, D.L. (2006). “The Effects of Marriage, Civil Union, and Domestic Partnership Laws on the Health and Well-being of Children”. Pediatrics. 118 (1): 349–64. doi:10.1542/peds.2006-1279. PMID 16818585.
  84. ^ Herek, Gregory M. "Legal recognition of same-sex relationships in the United States: A social science perspective." American Psychologist, Vol 61(6), September 2006, pp. 607–21.
  85. ^ Elaine Justice. “Study Links Gay Marriage Bans to Rise in HIV infections”. Emory University. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2010.
  86. ^ Peng, Handie. “The Effect of Same-Sex Marriage Laws on Public Health and Welfare”. Userwww.service.emory.edu. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2012.
  87. ^ Hasin, Deborah. “Lesbian, gay, bisexual individuals risk psychiatric disorders from discriminatory policies”. Columbia University Mailman School of Public Health. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2012.
  88. ^ Mustanski, Brian (22 tháng 3 năm 2010). “New study suggests bans on gay marriage hurt mental health of LGB people”. Psychology Today. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2010.
  89. ^ Raifman, Julia; Moscoe, Ellen; Austin, S. Bryn; McConnell, Margaret (2017). “Difference-in-Differences Analysis of the Association Between State Same-Sex Marriage Policies and Adolescent Suicide Attempts”. JAMA Pediatrics. 171 (4): 350–356. doi:10.1001/jamapediatrics.2016.4529. PMC 5848493. PMID 28241285.
  90. ^ “Same-Sex Marriage Legalization Linked to Reduction in Suicide Attempts Among High School Students”. Johns Hopkins University. 20 tháng 2 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2018.
  91. ^ Laurie, Timothy (3 tháng 6 năm 2015), Bigotry or biology: the hard choice for an opponent of marriage equality, The Drum, lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2015, truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015
  92. ^ Blankenhorn, David (19 tháng 9 năm 2008). “Protecting marriage to protect children”. Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2009.
  93. ^ “See discussion of prenuptial and postmarital agreements at Findlaw”. Family.findlaw.com. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2010.
  94. ^ Dale Carpenter is a prominent spokesman for this view. For a better understanding of this view, see Carpenter's writings at “Independent Gay Forum - Staff > Dale Carpenter”. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2006.
  95. ^ a b Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên cpa20062
  96. ^ “Brief of the American Psychological Association, The California Psychological Association, the American Psychiatric Association, and the American Association for Marriage and Family Therapy as amici curiae in support of plaintiff-appellees – Appeal from United States District Court for the Northern District of California Civil Case No. 09-CV-2292 VRW (Honorable Vaughn R. Walker)” (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2010.
  97. ^ Pawelski JG, Perrin EC, Foy JM, và đồng nghiệp (tháng 7 năm 2006). “The effects of marriage, civil union, and domestic partnership laws on the health and well-being of children”. Pediatrics. 118 (1): 349–64. doi:10.1542/peds.2006-1279. PMID 16818585.
  98. ^ Lamb, Ph.D., Michael. “Expert Affidavit for U.S. District Court (D. Mass. 2009)” (PDF). Gay & Lesbian Advocates & Defenders. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2012.
  99. ^ a b “Pediatricians: Gay Marriage Good for Kids' Health”. news.discovery.com. 22 tháng 3 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2013.
  100. ^ “Elizabeth Short, Damien W. Riggs, Amaryll Perlesz, Rhonda Brown, Graeme Kane: Lesbian, Gay, Bisexual and Transgender (LGBT) Parented Families – A Literature Review prepared for The Australian Psychological Society” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2010.
  101. ^ “Brief of the American Psychological Association, The California Psychological Association, The American Psychiatric Association, and The American Association of Marriage and Family Therapy as Amici Curiae in Support of Plaintiff-Appellees” (PDF). United States Court of Appeals for the Ninth Circuit. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2012.
  102. ^ Herek, GM (tháng 9 năm 2006). “Legal recognition of same-sex relationships in the United States: a social science perspective” (PDF). The American Psychologist. 61 (6): 607–21. doi:10.1037/0003-066X.61.6.607. PMID 16953748. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2010.
  103. ^ Biblarz, Timothy J.; Stacey, Judith (tháng 2 năm 2010). “How Does the Gender of Parents Matter?” (PDF). Journal of Marriage and Family. 72 (1): 3–22. CiteSeerX 10.1.1.593.4963. doi:10.1111/j.1741-3737.2009.00678.x. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 12 tháng 5 năm 2013.
  104. ^ “Brief presented to the Legislative House of Commons Committee on Bill C38 by the Canadian Psychological Association – 2 June 2005” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2018.
  105. ^ Goldberg, Abbie E. (tháng 2 năm 2023). “LGBTQ-parent families: Diversity, intersectionality, and social context”. Current Opinion in Psychology. 49: 101517. doi:10.1016/j.copsyc.2022.101517.
  106. ^ Leal, Daniela; Gato, Jorge; Coimbra, Susana; Freitas, Daniela; Tasker, Fiona (tháng 12 năm 2021). “Social Support in the Transition to Parenthood Among Lesbian, Gay, and Bisexual Persons: A Systematic Review”. Sexuality Research and Social Policy. 18 (4): 1165–1179. doi:10.1007/s13178-020-00517-y.
  107. ^ a b Bockting, Walter, Autumn Benner, and Eli Coleman. "Gay and Bisexual Identity Development Among Female-to-Male Transsexuals in North America: Emergence of a Transgender Sexuality." Archives of Sexual Behavior 38.5 (October 2009): 688–701. Academic Search Premier. EBSCO. 29 September 2009
  108. ^ Matthew S. Coleman, Esq. (16 tháng 9 năm 2015). “Obergefell v. Hodges”. Einhorn Harris. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2015.
  109. ^ Leff, Lisa (4 tháng 12 năm 2008). “Poll: Calif. gay marriage ban driven by religion”. USA Today. Associated Press. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2008.Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết) archived here.
  110. ^ Mirchandani, Rajesh (12 tháng 11 năm 2008). “Divisions persist over gay marriage ban”. BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2008.
  111. ^ For old polling data, figures have been adjusted upward @1%/year.
  112. ^ Newport, Frank (20 tháng 5 năm 2011). “For First Time, Majority of Americans Favor Legal Gay Marriage”. Gallup. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012.
  113. ^ “Public Opinion: Nationally”. australianmarriageequality.com. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012.
  114. ^ “Gay Life in Estonia”. globalgayz.com. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012.
  115. ^ Jowit, Juliette (12 tháng 6 năm 2012). “Gay marriage gets ministerial approval”. The Guardian. London. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012.
  116. ^ “Most Irish people support gay marriage, poll says”. PinkNews. 24 tháng 2 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012.
  117. ^ “Survey – Generations at Odds: The Millennial Generation and the Future of Gay and Lesbian Rights”. Public Religion Research Institute. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012.
  118. ^ “Pew Forum: Part 2: Gay Marriage”. Pew Research Center. 18 tháng 11 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012.
  119. ^ Poirier, Justine. “Same-Sex Marriage: Let's Make a Change”. Montréalités Justice. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012.
  120. ^ “Data Points: Support for Legal Same-Sex Marriage”. The Chronicle of Higher Education. 16 tháng 3 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012.
  121. ^ “Support for Same‐Sex Marriage in Latin America” (PDF). Vanderbilt University. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 11 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012.
  122. ^ “Un 70% d'andorrans aprova el matrimoni homosexual”. Diari d'Andorra (bằng tiếng Catalan). 7 tháng 7 năm 2013.
  123. ^ a b c d e f g h i j k l m “Cultura polítical de la democracia en la República Dominicana y en las Américas, 2016/17” (PDF). Vanderbilt University (bằng tiếng Tây Ban Nha). 13 tháng 11 năm 2017. tr. 132.
  124. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u v w x y z aa ab ac ad Bản mẫu:Cite presentation
  125. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u v w x y z aa ab ac ad ae af “How people in 24 countries view same-sex marriage”. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2023.
  126. ^ a b c d e f “Religious Belief and National Belonging in Central and Eastern Europe” (PDF). Pew. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2017.
  127. ^ a b c d e f “Religious belief and national belonging in Central and Eastern Europe - Appendix A: Methodology”. Pew Research Center. 10 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2017.
  128. ^ “Bevolking Aruba pro geregistreerd partnerschap zelfde geslacht”. Antiliaans Dagblad (bằng tiếng Hà Lan). 26 tháng 2 năm 2021.
  129. ^ a b c d e f g h i j k “Eurobarometer on Discrimination 2019: The social acceptance of LGBTI people in the EU” (PDF). TNS. European Commission. tr. 2. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2019. The question was whether same-sex marriage should be allowed throughout Europe.
  130. ^ a b c d e “Barómetro de las Américas: Actualidad – 2 de junio de 2015” (PDF). Vanderbilt University. 2 tháng 7 năm 2015.
  131. ^ a b Bản mẫu:Cite presentation
  132. ^ https://www.ciep.ucr.ac.cr/images/INFORMESUOP/EncuestaEnero/Informe-encuesta-ENERO-2018.pdf [liên kết hỏng]
  133. ^ “Encuesta: Un 63,1% de los cubanos quiere matrimonio igualitario en la Isla”. Diario de Cuba (bằng tiếng Tây Ban Nha). 18 tháng 7 năm 2019.
  134. ^ “67% of Czechs support same-sex marriage, says new poll”. 23 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2020.
  135. ^ Guzman, Samuel (5 tháng 2 năm 2018). “Encuesta de CDN sobre matrimonio homosexual en RD recibe más de 300 mil votos - CDN - El Canal de Noticias de los Dominicanos” [CDN survey on homosexual marriage in DR receives more than 300 thousand votes] (bằng tiếng Tây Ban Nha).
  136. ^ America's Barometer Topical Brief #034, Disapproval of Hôn nhân cùng giới ở Ecuador: A Clash of Generations?, 23 July 2019. Counting ratings 1–3 as 'disapprove', 8–10 as 'approve', and 4–7 as neither.
  137. ^ https://www.swissinfo.ch/spa/el-salvador-elecciones_partido-de-bukele-se--consolida--en-preferencias-electorales-en-el-salvador/46307812
  138. ^ “Avaliku arvamuse uuring LGBT teemadel (2023)” (PDF). Eesti Inimõiguste Keskus. tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2023.
  139. ^ “წინარწმენიდან თანასწორობამდე (From Prejudice to Equality), part 2” (PDF). WISG. 2022.
  140. ^ “Más del 70% de los hondureños rechaza el matrimonio homosexual”. Diario La Prensa (bằng tiếng Tây Ban Nha). 17 tháng 5 năm 2018.
  141. ^ “Litlar breytingar á viðhorfi til giftinga samkynhneigðra” (PDF) (bằng tiếng Iceland). Gallup. tháng 9 năm 2006.
  142. ^ Staff (13 tháng 2 năm 2023). “64% favor recognizing Hôn nhân cùng giới ở Japan: Kyodo poll”. Kyodo News. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2023.
  143. ^ Isoda, Kazuaki (21 tháng 2 năm 2023). “Survey: 72% of voters in favor of legalizing gay marriages”. The Asahi Shimbun (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2023.
  144. ^ Vogt, Desiree (tháng 3 năm 2021). “Rückhalt für gleichgeschlechtliche Paare”. Liechtensteiner Vaterland (bằng tiếng Đức).
  145. ^ “Most Mozambicans against homosexual violence, study finds”. MambaOnline - Gay South Africa online. 4 tháng 6 năm 2018., (full report)
  146. ^ “First Quarter 2018 Social Weather Survey: 61% of Pinoys oppose, and 22% support, a law that will allow the civil union of two men or two women”. 29 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2019.
  147. ^ “Отношение к сексменьшинствам” (bằng tiếng Nga). ФОМ. tháng 6 năm 2019.
  148. ^ https://crd.org/wp-content/uploads/2021/04/ENGLESKA-VERZIJA-1.pdf
  149. ^ https://dennikn.sk/3079308/za-registrovane-partnerstva-je-viac-ludi-nez-proti-nim-prieskum-ipsosu
  150. ^ Strong, Matthew (19 tháng 5 năm 2023). “Support for gay marriage surges in Taiwan 4 years after legalization”. Taiwan News. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2023.
  151. ^ “Соціологічне дослідження до Дня Незалежності: УЯВЛЕННЯ ПРО ПАТРІОТИЗМ ТА МАЙБУТНЄ УКРАЇНИ (16-20 серпня 2023) Назад до списку”. 24 tháng 8 năm 2023.
  152. ^ Simons, Ned (4 tháng 2 năm 2023). “It's Ten Years Since MPs Voted For Gay Marriage, But Is There A 'Backlash'?”. The Huffington Post (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2023.
  153. ^ “Opinión sobre el matrimonio igualitario” [Opinion on equal marriage]. Equipos Consultores. 30 tháng 8 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 10 năm 2019.
  154. ^ Crónica Uno, Encuesta refleja que mayoría de venezolanos apoya igualdad de derechos para la población LGBTIQ, 2 March, 2023

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]