Hùng Vương thứ I

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hùng Vương thứ I
Vua Việt Nam (chi tiết...)
Hùng Vương
trị vì ? - ?
Tiền vị Lạc Long Quân
Kế vị Hùng Vương thứ II
Thông tin chung
Thụy hiệu Hùng Lân Vương [1]
Thân phụ Lạc Long Quân
Thân mẫu Âu Cơ

Hùng Vương thứ I hay còn gọi là Hùng Lân Vương là một vị vua truyền thuyết trong Lịch sử Việt Nam, ông là người có công thành lập nước Văn Lang.

Thế thứ[sửa | sửa mã nguồn]

Hùng Vương thứ I là con trưởng, trong 100 người con của Lạc Long Quân.

Trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Theo sử cũ thì Hùng Vương đã chia nước Văn Lang làm 15 bộ:

  1. Văn Lang(Vĩnh Phúc, Phú Thọ)
  2. Châu Diên(Sơn Tây)
  3. Phúc Lộc(Sơn Tây)
  4. Tân Hưng(Tuyên Quang)
  5. Vũ Định(Thái Nguyên, Cao Bằng)
  6. Vũ Ninh(Bắc Ninh)
  7. Lục Hải(Lạng Sơn)
  8. Ninh Hải(Tuyên Quang)
  9. Dương Tuyến(Hải Dương)
  10. Giao Chỉ(Hà Nội,Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình)
  11. Cửu Chân(Thanh Hoá)
  12. Hoài Hoan(Nghệ An)
  13. Cửu Đức(Hà Tĩnh)
  14. Việt Thường(Quảng Bình, Quảng Trị)
  15. Bình Văn(?)

Văn hoá[sửa | sửa mã nguồn]

Vào đời Hùng Vương thứ nhất, dân làm nghề đánh cá, hay bị thuồng luồng làm hại, vua bắt dân lấy chàm vẽ mình để thú dữ tưởng là đồng loại, không làm hại được nữa[2].

Sử cũ cũng chép thuyền của ta ở đằng mũi hay vẽ hai con mắt, để thuỷ quái ở sông, biển trông thấy mà sợ.

Thời ấy, người dân lấy vỏ cây làm quần áo, bện cỏ làm chiếu, lấy nước nhựa cây làm rượu, lấy bột cây quang lang[3] làm cơm, lấy cầm thú ngư trùng làm mắm, lấy rễ gừng làm muối.Cày bằng đao, cắt bằng lửa, làm cơm nếp bằng ống tre, gác cây làm nhà sàn, cắt tóc ngắn để đi vào rừng cho tiện, khi có người chết thì lấy cối chày không ra mà giã để báo tin cho hàng xóm, trai gái cưới nhau chưa dùng trầu cau mà lấy phong muối làm đầu,v.v...

Các phong tục tập quán của người Lạc Việt tiếp tục tồn tại cho đến đời Hùng Vương thứ XVIII.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Không rõ Hùng Vương thứ I mất năm nào.Sau khi ông mất, Hùng Vương thứ II lên kế vị.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguyễn Khắc Thuần, Thế thứ các triều vua Việt Nam. Nhà xuất bản Giáo dục, 2008, trang 14-15.
  2. ^ Tục xăm mình này đến đời vua Trần Anh Tông mới bỏ.
  3. ^ Tức cây đao, thân to như cây cọ, thân cây có bột ăn được.