Hươu Đài Loan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hươu sao Đài Loan
Formosan sika deer.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Artiodactyla
Họ (familia) Cervidae
Phân họ (subfamilia) Cervinae
Chi (genus) Cervus
Loài (species) C. nippon
Phân loài (subspecies) C. n. taioanus
Danh pháp ba phần
Cervus nippon taioanus

Hươu sao Đài Loan (Danh pháp khoa học: Cervus nippon taioanus) Trung văn phồn thể: 台灣梅花鹿; bính âm: Táiwān méihuālù; Bạch Thoại tự: Tâi-oân hoe-lo̍k) là một phân loài của loài hươu sao và là loài đặc hữu của đảo Đài Loan. Hươu Đài Loan, giống như hầu hết các loài động vật trên cạn và hệ thực vật của Đài Loan, đã di chuyển đến trên hòn đảo vào thời kỳ Băng hà khi mực nước biển thấp hơn đã nối liều đảo Đài Loan với lục địa châu Á.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Chiều cao của hươu Đài Loan khi đứng từ 90-120 cm tính đến vai. Con đực lớn hơn và gạc rụng. Những chiếc lớp lông mùa hè là màu nâu ánh sáng, với những đốm trắng rõ ràng, trong khi vào mùa đông lớp lông ngoài của chúng là tối hơn và các đốm mờ dần. Sự phân bố tự nhiên của chúng về Đài Loan trong các rừng từ mực nước biển lên đến khoảng 300 m cao. Chúng giống như nhiều loài hươu khác thích khu vực rừng hỗn giao, trảng, và đất trống. Trong điều kiện tự nhiên đồng bằng phù sa thấp kéo dài từ ngày nay Đài Bắc dọc theo bờ biển phía tây gần đến mũi phía nam của đảo là môi trường sống và các quần thể tự nhiên sẽ có được khá dày đặc.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Khi chiếm hòn đảo Đài Loan, người Hà Lan đã nhận ra tiềm năng của các đàn hươu sao (Cervus nippon taioanus) lớn đi lại lang thang tại vùng đồng bằng phía tây hòn đảo. Da hươu bền dai được người Nhật đánh giá cao, họ sử dụng chúng để làm áo giáp cho samurai. Các bộ phận khác của hươu được bán cho các thương nhân Trung Quốc để làm thực phẩm hay dược phẩm. Người Hà Lan trả công cho những người nguyên trú khi họ đem hươu đến và cố gắng quản lý số hươu để theo kịp với nhu cầu. Những con hươu vốn là kế sinh nhai của dân nguyên trú lại bắt đầu biến mất, buộc họ phải thay đổi cách thức kiếm sống.[1] Tuy nhiên, vẫn có các phân loài hươu sao còn tồn tại trong điều kiện nuôi nhốt và sau đó việc đưa chúng quay trở về với môi trường tự nhiên đã đạt được thành công.[2]

Quần thể hươu tại Đài Loan đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi các hoạt động của con người đối với bốn trăm năm qua. Cho đến đầu thế kỷ 17, dân số của Đài Loan là thấp và bao gồm hầu hết các dân tộc Nam Đảo, người đã sống trên hòn đảo này trong hàng ngàn năm. Trong số người nhập cư thế kỷ 17 từ Trung Quốc đại lục tăng lên đáng kể để đáp ứng với sự bất ổn chính trị ở Trung Quốc và các cơ hội kinh tế Đài Loan, trong đó từ năm 1624 cho đến năm 1684 đã được kiểm soát bởi Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC). Các VOC, điều hành từ cảng Tayouan (An Bình hiện đại ngày nay, Đài Nam) ở tây nam Đài Loan, thành lập một trạm buôn bán kinh doanh chính là xuất khẩu của da sang châu Âu.

Trong sáu thập kỷ hoạt động xuất khẩu 2-4.000.000 tấm da đã được xuất khẩu sang châu Âu. Xuất khẩu giảm khi người Hà Lan bị loại ra khỏi Đài Loan vào năm 1684, nhưng vẫn tiếp tục trong suốt thời kỳ nhà Thanh với một các trung chuyển đến Nhật Bản như thị trường xuất khẩu lớn. Việc săn bắn trong thời kỳ Hà Lan đô hộ đã làm giảm nghiêm trọng giảm dân số của chúng. Quần thể hươu tiếp tục giảm trong vài thế kỷ tiếp theo là dân số của con người mở rộng-môi trường sống tự nhiên của chúng ở vùng đồng bằng đất thấp đang dần chuyển đổi sang đất nông nghiệp, đô thị hóa và sau đó, khi dân số của con người tăng lên. Săn bắn cũng tiếp tục. Kết quả là, các quần thể hoang dã giảm đều đặn, và trong năm 1969, cá thể hoang dã nổi tiếng cuối cùng đã bị giết chết.

Tuy nhiên, con nai được dễ dàng giam giữ trong điều kiện nuôi nhốt và đã có một số quần thể nuôi nhốt C. n. taiaoanus. Năm 1984 Hội đồng Nông nghiệp Đài Loan Dự án Tái cấu trúc loài hươu này, có trụ sở tại Công viên quốc gia Kenting trên mũi phía nam của đảo tài trợ cho dự án. Hai mươi hai con nai đã được chuyển từ vườn thú Đài Bắc để phục vụ như một quần thể sáng lập. Trong 10 năm tiếp theo con nai đã được duy trì cho đến khi đưa cuối cùng của chúng vào công viên quốc gia vào năm 1994. Tổng cộng hơn 200 con hươu đã được thả ra và dân số hiện tại, bây giờ lan rộng ra khỏi biên giới công viên, được ước tính vượt quá 1.000 cá thể.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hsu, Minna J.; Agoramoorthy, Govindasamy; Desender, Konjev; Baert, Leon; Bonilla, Hector Reyes (August năm 1997). “Wildlife conservation in Taiwan”. Conservation Biology 11 (4): 834–836. doi:10.1046/j.1523-1739.1997.011004834.x. JSTOR 2387316. 
  2. ^ 台灣環境資訊協會-環境資訊中心 (30 tháng 6 năm 2010). “墾丁社頂生態遊 梅花鹿見客 | 台灣環境資訊協會-環境資訊中心”. E-info.org.tw. Truy cập 30 tháng 5 năm 2011. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]