Hư Không Tạng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Ākāśagarbha
Kokuzo Bosatsu (Akasagarbha) - Google Art Project.jpg
Phạnआकाशगर्भ
Ākāśagarbha
गगनगञ्ज
Gaganagañja
Trung(Traditional)
虛空藏菩薩
(Simplified)
虚空藏菩萨
(Pinyin: Xūkōngzàng Púsà)
Nhật虚空蔵菩薩こくうぞうぼさつ
(romaji: Kokūzō Bosatsu)
Hàn허공장보살
(RR: Heogongjang Bosal)
Tháiพระอากาศครรภโพธิสัตว์
Tây Tạngནམ་མཁའི་སྙིང་པོ་
Wylie:nam mkha'i snying po
THL: Namkhé Nyingpo
ViệtHư Không Tạng Bồ Tát
Thông tin
Tôn kính bởiMahāyāna, Vajrayāna
Portal-puzzle.svg Chủ đề Phật giáo

Hư Không Tạng Bồ Tát (Ākāśa-garbha, hay Gagana-gañja):

Ākāśa-garbha dịch âm là A Ca Xả Nghiệt Bà. Gagana-gañja dịch âm là Nga Nga Nẵng Ngạn Bà. Tức đầy đủ hai kho tàng Phước Trí không có hạn lượng ngang bằng với hư không; ý là rộng lớn vô biên. Lại xưng là Hư Không Tạng Bồ Tát.

Hư Không Tạng Bồ Tát ở đời quá khứ, lúc Đức Phổ Quang Minh Vương Như Lai ra đời, là con của Công Đức Trang Nghiêm Chuyển Luân Thánh Vương, tên là Sư Tử Tiến, cùng với các vương tử của hàng Sư Tử…. từ bỏ Vương vị của đời, xuất gia tu đạo.

Sau này vì độ hóa Tâm kiêu mạn của đức vua Công Đức Trang Nghiêm, hiện vô lượng Thần Biến: Ở trong hư không tuôn mưa mọi loại vật màu nhiệm là các hương, hoa, hương bột, hương xoa bôi, lọng lụa màu, phướng, phan,làm các loại nhạc Trời, Mỹ Thiện (Yến tiệc), thức ăn uống, An Lạc, quần áo, các loại trân bảo đều từ trong không trung rực rỡ rơi xuống. Mưa báu như vậy, tràn đầy ba ngàn Đại Thiên Thế giới, chúng sinh được điều chưa từng có, đều rất vui mừng.

Bấy giờ, từ Địa Thần, Chư Thiên, bên trên đến Trời A Ca Nhị Tra (Akaniṣṭha: Sắc Cứu Cánh) đều vui mừng hớn hở, xướng lên như vầy: "Đại Bồ Tát này xứng đáng được tên là Hư Không Tạng. Sở dĩ như thế là do từ trong hư không tuôn mưa vô lượng trân bảo tràn đầy tất cả".

Lúc này Đức Thế Tôn liền Ấn Khả lời nói đó, đặt tên là Hư Không Tạng.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]