Mẫn Huệ Cung Hoà nguyên phi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Hải Lan Châu)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quan Thư cung Thần phi
关雎宫宸妃
Sùng Đức Đế Thần phi
Thông tin chung
Phối ngẫu Thanh Thái Tông
Hoàng Thái Cực
Hậu duệ Hoàng bát tử
Tên đầy đủ Bác Nhĩ Tề Cát Đặc Cáp Nhật Châu Lạp
(博爾濟吉特·哈日珠拉)
Hán danh: Hải Lan Châu (海兰珠)
Thụy hiệu Mẫn Huệ Cung Hoà Nguyên phi
(敏惠恭和元妃)
Hoàng tộc Bác Nhĩ Tề Cát Đặc
Ái Tân Giác La
Thân phụ Trại Tang
Sinh 11 tháng 11 năm 1609
Mất 8 tháng 10, 1641 (31 tuổi)
An táng Chiêu lăng (昭陵)

Mẫn Huệ Cung Hoà Nguyên phi (chữ Hán: 敏惠恭和元妃; 11 tháng 11 năm 16098 tháng 10 năm 1641), được biết đến với tên gọi Hải Lan Châu (海兰珠)[1], là phi tần rất được sủng ái của Thanh Thái Tông Hoàng Thái Cực. Bà là là cháu gái của Hiếu Đoan Văn hoàng hậu, chánh thất của Hoàng Thái Cực và là chị gái của Hiếu Trang Văn Hoàng Hậu.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên phi bổn danh Cáp Nhật Châu Lạp (哈日珠拉), Hán danh Hải Lan Châu (海兰珠), sinh ngày 11 tháng 11, năm Vạn Lịch thứ 37 (1609), thuộc dòng tộc Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị (博爾濟吉特氏), bộ tộc Khoa Nhĩ Thấm Mông Cổ. Bà là con gái của Trung thân vương Trại Tang (寨桑), một Bối lặc của bộ tộc và là hậu duệ đời thứ 18 của Cáp Tát Nhĩ (哈撒尔), em trai Thành Cát Tư Hãn.

Bà là cháu gái gọi Hiếu Đoan Văn Hoàng hậu Triết Triết bằng cô, và là chị gái của Hiếu Trang Văn hoàng hậu Bố Mộc Bố Thái, nổi tiếng với Hán danh Đại Ngọc Nhi. Nhiều thuyết cho rằng, tuy là con gái Bối lặc nhưng Hải Lan Châu không được xem là Cách cách giống như Đại Ngọc Nhi vì mẹ của Đại Ngọc Nhi là Đại phúc tấn (大福晉) của bộ tộc, còn mẹ của Hải Lan Châu chỉ là tì thiếp, thân phận thấp hèn. Do vậy, bà nhập cung trễ hơn Triết Triết và Đại Ngọc Nhi nhiều năm.

Đại Thanh Thần phi[sửa | sửa mã nguồn]

Cô của bà Triết Triết kết hôn với người kế vị của Hậu KimHoàng Thái Cực và được phong làm Đại phúc tấn. Tuy nhiên trong nhiều năm, Đại phúc tấn Triết Triết lần lượt sinh 3 người con gái, không sinh được con trai nối dõi có dòng máu Ái Tân Giác LaBác Nhĩ Tề Cát Đặc. Sau đó, Trại Tang, anh trai của Triết Triết đề cử Hoàng Thái Cực phong con gái Đại Ngọc Nhi làm Trắc Phúc tấn nhưng sau nhiều năm Đại Ngọc Nhi cũng không sinh con trai cho Hoàng Thái Cực.

Năm Thiên Thông thứ 8 (1634), Hải Lan Châu nhập cung và trở thành Trắc phúc tấn (側福晉), được Hoàng Thái Cực sủng ái hơn cả. Có thuyết kể bà nhập cung để thăm em gái Đại Ngọc Nhi thì được Hoàng Thái Cực để mắt và ân hạnh. Với Hải Lan Châu, Hoàng Thái Cực có thể nói là rêu rao chỉ sợ thiên hạ không biết mình yêu bà nhiều đến thế nào.

Năm Sùng Đức thứ nhất (1636), Hoàng Thái Cực xưng Hoàng đế, thành lập nhà Thanh. Hoàng Thái Cực phong Đại phúc tấn Triết Triết làm Hoàng hậu và lập ra Tứ phi (四妃), gồm có: Thần phi (宸妃), Quý phi (貴妃), Thục phi (淑妃) và Trang phi (莊妃). Trắc phúc tấn Đại Ngọc Nhi thành hôn trước Hải Lan Châu nhưng chỉ được phong Trang phi, vị trí thấp nhất trong Tứ phi. Còn Hải Lan Châu đến sau 9 năm lại được phong vị trí cao nhất là Quan Thư cung Thần phi (关雎宫宸妃). Hoàng Thái Cực đặt tên cho cung điện này dựa theo bài Quan Thư trong Kinh Thi: "Quan quan thư cưu, tại hà chi châu. Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu."[2]. Câu thơ này từ xưa đến nay đều chỉ đến tình cảm thâm tình của nam nhân đối với vợ của mình, cho thấy thâm ý vinh sủng đặc biệt của Hoàng Thái Cực dành cho Hải Lan Châu như thế nào.

Năm Sùng Đức thứ 2 (1637), 27 tháng 8, Thần phi sinh hạ Hoàng bát tử. Thanh Thái Tông rất mực yêu thương Hoàng bát tử, nhưng đến năm sau (1638) thì Hoàng tử bị chết yểu. Bà sinh tâm bệnh suốt nhiều năm trời do đau buồn vì mất con.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 9 năm Sùng Đức thứ 6, Thần phi lâm trọng bệnh. Hoàng Thái Cực lúc ấy đang ở chiến trường nghe tin dữ, vội vàng gác lại mọi thứ, ngày đêm chạy về Thịnh Kinh thăm Hải Lan Châu. Sử liệu Triều Tiên ghi lại, lần này trên đường về Thịnh Kinh trời giá rét, Hoàng Thái Cực cũng không màng, cấp tốc chạy làm chết mất năm con ngựa tốt. Thế nhưng trước khi Hoàng đế kịp về tới nơi thì ngày 8 tháng 10, Thần phi đã qua đời ở tuổi 32. Hoàng Thái Cực cực kỳ bi ai, không thể tự chủ, khóc đến ngất. Sáu ngày đêm cơ hồ không ăn không uống, tới sáng sớm ngày thứ bảy thì lâm vào hôn mê đến tận giữa trưa. Tang lễ Thần phi Hải Lan Châu được cử hành theo lễ Quốc tang, lại truy phong làm Mẫn Huệ Cung Hoà Nguyên phi (敏惠恭和元妃)[3]. Bà được chôn tại Chiêu lăng (昭陵) ở Thẩm Dương.

Bà là phi tần có thụy hiệu dài nhất trong suốt lịch sử nhà Thanh. Có thuyết kể rằng, Thanh Thái Tông vì thương nhớ bà, ngày đêm khóc than, không lâu sau mắc bệnh nặng và băng hà hai năm sau đó (1643).

Trong văn hóa đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim ảnh truyền hình Diễn viên
1994 Nhất đại hoàng hậu Đại Ngọc Nhi Bào Chính Phương
2002 Hiếu Trang bí sử Hà Trại Phi
2012 Sơn hà luyến - Mỹ nhân vô lệ Trương Mông
2015 Đại Ngọc Nhi truyền kỳ Hà Hoa

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trong tiếng Mãn Châu có nghĩa là "Ngọc Bích".
  2. ^ Nguyên văn: 關關雎鳩,在河之洲. 窈窕淑女,君子好逑
  3. ^ Chữ Nguyên nghĩa là "đầu tiên", có lẽ để nói rằng Hoàng Thái Cực chỉ coi Hải Lan Châu là người vợ đầu tiên.