Hải chiến Cape St. Vincent (1780)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Hải chiến Cape St. Vincent đã diễn ra ngoài khơi bờ biển Bồ Đào Nha vào ngày 16 tháng 1 năm 1780 trong Chiến tranh Cách mạng Mỹ. Một hạm đội Anh dưới sự chỉ huy của Đô đốc Sir George Rodney đã đánh bại một đội tàu chiến Tây Ban Nha dưới sự chỉ huy của Don Juan de Lángara. Cuộc chiến đôi khi được gọi là trận Ánh trăng, bởi vì nó là không bình thường cho các trận chiến hải quân trong kỷ nguyên tàu buồm vì diễn ra vào ban đêm. Đó cũng là chiến thắng hải quân lớn đầu tiên cho người Anh trước kẻ thù châu Âu của mình trong chiến tranh, và đã chứng tỏ giá trị của vỏ thân tàu chiến bọc bằng đồng.

Đô đốc Rodney đang hộ tống một hạm đội các tàu cung cấp cứu viện Gibraltar với một hạm đội của khoảng 20 tàu chiến chính quy khi ông gặp Lángara đội phía nam của Cape St Vincent. Khi Lángara nhìn thấy kích thước của hạm đội Anh, ông đã cố gắng để đảm bảo sự an toàn của Cadiz, nhưng các tàu bọc đồng Anh đuổi hạm đội của này. Trong một trận chiến kéo dài từ giữa buổi chiều cho đến sau nửa đêm, người Anh bắt giữ bốn tàu Tây Ban Nha, bao gồm cả soái hạm Lángara. Hai tàu khác cũng bị bắt giữ, nhưng bố trí cuối cùng của họ là không rõ ràng: một số nguồn tin Tây Ban Nha cho biết họ đã chiếm lại bởi phi hành đoàn Tây Ban Nha của họ, trong khi báo cáo của Rodney cho biết tàu đã mắc cạn và bị phá hủy.

Sau trận đánh Rodney thành công trong việc tiếp tế Gibraltar và Minorca trước khi tiếp tục đến trạm West Indies. Lángara được tạm tha vì đã cam kết, và được vua Carlos III thăng trung tướng.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Một trong những mục tiêu chủ yếu của Tây Ban Nha tham gia vào các chiến Mỹ độc lập vào năm 1779 là thu hồi Gibraltar, một khu vực đã bị mất vào tay người Anh vào năm 1704[1]. Tây Ban Nha đã lên kế hoạch để chiếm lại Gibraltar bằng cách phong tỏa và chặn nguồn tiếp tế thực phẩm các khu đồn trú của nó, trong đó bao gồm quân đội của Anh Electorate Hanover[2]. Cuộc bao vây chính thức bắt đầu vào tháng 6 năm 1779, với việc người Tây Ban Nha thiết lập một vòng phong tỏa đất xung quanh Rock of Gibraltar.[3]. Vòng phong tỏa hải quân tương ứng tương đối yếu, và người Anh phát hiện ra rằng tàu nhỏ và nhanh có thể trốn tránh vòng phong tỏa, trong khi tàu cung cấp chậm hơn và lớn hơn thường không thể trốn chạy được. Đến cuối 1779, tuy nhiên, nguồn hàng tiếp tế trong Gibraltar đã trở nê cạn kiệt nghiêm trọng, và chỉ huy của nó, Tướng George Eliott, kêu gọi London cứu trợ[4].

Một đoàn hộ tống cung cấp đã được tổ chức, và vào cuối tháng 12 năm 1779, một hạm đội lớn khởi hành từ nước Anh dưới sự chỉ huy của Đô đốc Sir George Brydges Rodney. Mặc dù các lệnh cuối cùng của Rodney là chỉ huy hạm đội Tây Ấn, ông đã hướng dẫn bí mật để tiếp tế lại cho Gibraltar và Minorca trước tiên. Ngày 04 tháng 1 năm 1780, hạm đội chia ra, với các con tàu hướng về phía tây đến West Indies. Việc chia đội này khiến Rodney chỉ huy 19 tàu chính quy còn lại đi kèm với các tàu cung cấp cho Gibraltar[5]. Ngày 08 tháng 1 năm 1780, các tàu từ các hạm đội của Rodney phát hiện một nhóm các tàu buồm.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Chartrand, pp. 12, 30
  2. ^ Chartrand, pp. 23, 30–31, 37
  3. ^ Chartrand, p. 30
  4. ^ Chartrand, p. 37
  5. ^ Syrett, pp. 234, 237

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • de Castro, Adolfo (1858). Historia de Cádiz y su Provincia (bằng tiếng Tây Ban Nha). Cádiz: Imprenta de la Revista Médica. OCLC 162549293. 
  • Sapherson, C. A. and Lenton, J. R. (1986) Navy Lists from the Age of Sail; Vol. 2: 1776-1783. Leeds: Raider Games
  • Spinney, David (1969) Rodney. London: Allen & Unwin ISBN 0049200224
  • Trew, Peter. Rodney and The Breaking of the Line Leo Cooper Ltd (2005) ISBN 9781844151431

Tọa độ: 36°49′5″B 8°33′49″T / 36,81806°B 8,56361°T / 36.81806; -8.56361