Bước tới nội dung

Hậu cần quân sự

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ từ Tiểu đoàn Hậu cần Chiến đấu 8 và nhân viên Hải quân từ Đơn vị Quản lý Bờ biển 2 đang dỡ container ISO từ tàu đổ bộ bằng Hệ thống Thay thế Xe Hậu cần

Hậu cần quân sự là lĩnh vực lập kế hoạch và thực hiện việc cơ động, bảo đảm cung cấp và bảo dưỡng cho lực lượng vũ trang. Ở nghĩa toàn diện nhất, đó là các mặt của hoạt động quân sự liên quan đến:

  • Thiết kế, phát triển, mua sắm, lưu kho, phân phối, bảo dưỡng, sơ tán và xử lý vật tư – trang bị.
  • Vận chuyển nhân sự.
  • Mua sắm hoặc xây dựng, bảo dưỡng, vận hành và xử lý cơ sở vật chất.
  • Mua sắm hoặc cung cấp các dịch vụ.
  • Bảo đảm y tế và vệ sinh – sức khỏe.

Hậu cần là yếu tố bảo đảm cho tác chiến, chứ không phải mục tiêu tự thân. Hậu cần kém có thể dẫn đến thất bại, nhưng ngay cả hậu cần tốt nhất cũng không thể bảo đảm chiến thắng. Ngược lại, không phải lúc nào cũng cần mức hậu cần "tối ưu nhất": đủ dùng, phù hợp mục đích là có thể đáp ứng.

Nguồn gốc tên gọi

[sửa | sửa mã nguồn]

Từ "logistics" (hậu cần) bắt nguồn từ tính từ tiếng Hy Lạp logistikos nghĩa là "thành thạo trong tính toán", [1][2] và từ Latin tương ứng logisticus. Cả hai lại xuất phát từ tiếng Hy Lạp logos, chỉ các nguyên lý của tư duy và hành động.[3] Các thuật ngữ Hy Lạp logistikoslogisteuo (quản lý, cai quản) có chung gốc với logistês, dùng để chỉ vừa "bậc thầy về toán học", ít nhất ở Athens, "viên quan kiểm toán" mà các quan chức do bầu cử khác phải chịu trách nhiệm trước. Thuật ngữ "logistics" dần bị bỏ dùng và biến mất hoàn toàn sau thế kỷ X.[2]

Một gốc Latin khác, log-, khoảng năm 1380 sinh ra từ logio, với nghĩa "lưu trú, ở trọ", rồi trở thành động từ tiếng Pháp loger, ("cho ở trọ"). Khoảng năm 1670, Quốc vương Pháp Louis XIV lập chức Maréchal des logis, , một sĩ quan phụ trách hoạch định hành quân, chọn vị trí đóng quân, điều phối vận tải và tiếp tế. Thuật ngữ logistique sớm được dùng để chỉ các nhiệm vụ này.[4] Theo nghĩa đó, Antoine-Henri Jomini đã sử dụng thuật ngữ trong tác phẩm Tổng luận nghệ thuật chiến tranh (1838) (Summary of the Art of War (1838)). Trong bản dịch tiếng Anh, logistique trở thành "logistics".[5]

Định nghĩa

[sửa | sửa mã nguồn]

Thuật ngữ này dần mang nghĩa không chỉ là lập kế hoạch hoạt động mà còn bao gồm chính các hoạt động đó. Năm 1888, Charles C. Rogers mở một khóa học về hậu cần hải quân tại Naval War College. Trong cuốn Farrow's Military Encyclopedia (1895), Edward S. Farrow, giảng viên chiến thuật tại West Point, đưa ra định nghĩa sau:

Bardin cho rằng việc một số tác giả áp dụng từ này là tham vọng hơn là chính xác. Nó bắt nguồn từ tiếng Latin logista, người quản trị hoặc tổng quản của quân đội La Mã. Thuật ngữ này thực chất là một nhánh của nghệ thuật quân sự bao trùm mọi chi tiết liên quan đến cơ động và bảo đảm tiếp tế cho quân đội. Nó bao gồm hoạt động của các cục pháo binh–quân giới, quân nhu, lương thực, quân y và tài chính. Nó cũng bao gồm việc chuẩn bị và quản lý kho tàng, mở màn chiến dịch, cùng mọi mệnh lệnh hành quân và các chỉ thị khác từ tổng tư lệnh liên quan đến cơ động và bảo đảm tiếp tế cho quân đội.[6]

Thuật ngữ này được phổ biến trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Trong cuốn Logistics in World War II: Final Report of the Army Service Forces, Trung tướng LeRoy Lutes, tư lệnh Lực lượng phục vụ Quân đội, đã đưa ra một định nghĩa rộng hơn:

Từ ‘hậu cần’ đã được gán cho nhiều sắc thái nghĩa khác nhau. Một định nghĩa phổ biến là: ‘Nhánh của nghệ thuật quân sự bao hàm các chi tiết về vận chuyển, doanh trại và tiếp tế cho quân trong tác chiến.’ Trong cách dùng ở các trang sau, nghĩa của nó còn rộng hơn. Nó bao trùm mọi hoạt động quân sự không nằm trong các khái niệm ‘chiến lược’ và ‘chiến thuật’. Theo nghĩa này, hậu cần bao gồm: mua sắm, lưu kho, phân phối trang bị và vật tư; vận chuyển quân và hàng hóa bằng đường bộ, biển và không; xây dựng và bảo trì cơ sở vật chất; thông tin liên lạc bằng hữu tuyến, vô tuyến và bưu chính; chăm sóc thương bệnh binh; cùng việc tuyển ngũ, phân loại, phân bổ, phúc lợi và giải ngũ nhân sự.[7]

NATO dùng một định nghĩa hẹp hơn:

Khoa học về lập kế hoạch và thực hiện cơ động và bảo dưỡng lực lượng. Ở nghĩa toàn diện nhất, đó là các khía cạnh của hoạt động quân sự liên quan đến:

  1. thiết kế & phát triển, mua sắm, lưu kho, di chuyển, phân phối, bảo dưỡng, sơ tán và thải loại vật tư–trang bị;
  2. vận chuyển nhân sự;
  3. mua sắm, xây dựng, bảo dưỡng, vận hành và xử lý cơ sở vật chất;
  4. mua sắm hoặc cung cấp dịch vụ; và
  5. bảo đảm y tế & vệ sinh.[8]

Từ những năm 1960, "logistics" bắt đầu được dùng trong kinh doanh,[3] wvới nghĩa phân phối vật chất và quản trị chuỗi cung ứng, hẹp hơn rất nhiều so với nghĩa quân sự.[9] Hậu cần là yếu tố bảo đảm cho tác chiến, không phải mục tiêu tự thân.[10] Hậu cần kém có thể dẫn tới thất bại, nhưng hậu cần tốt nhất cũng không bảo đảm chiến thắng. Ngược lại, không phải lúc nào cũng cần mức hậu cần "tối ưu nhất": đủ dùng, phù hợp mục đích là có thể đáp ứng.[11]

Các nguyên tắc

[sửa | sửa mã nguồn]
Các kiện hàng tiếp tế đang được thả dù xuống một doanh trại vùng sâu vùng xa tại Afghanistan. Vận tải hàng không là một phần quan trọng trong công tác hậu cần của NATO tại Afghanistan.

Sử gia James A. Huston đã đề xuất mười sáu nguyên tắc của hậu cần quân sự:[12][13]

  1. Tính tương quan: Chiến lược, chiến thuật và hậu cần là những phương diện không thể tách rời và phụ thuộc lẫn nhau của nghệ thuật và khoa học quân sự.
  2. Vật chất đi trước : Việc huy động khí tài, vật chất phải đi trước việc huy động nhân sự, và việc triển khai các đơn vị hậu cần phải đi trước các đơn vị chiến đấu.
  3. Động lực hướng lên Động lực của dòng tiếp tế phải xuất phát từ tuyến sau; các chỉ huy đơn vị chiến đấu cần được giải phóng khỏi các chi tiết hậu cần vụn vặt nhưng vẫn giữ quyền kiểm soát nguồn lực hậu cần của mình.
  4. Tính cơ động: Hậu cần phải tạo điều kiện cho việc di chuyển nhanh chóng của cả đơn vị chiến đấu và đơn vị hậu cần để hỗ trợ các chiến dịch.
  5. Tính phân tán: Việc đa dạng hóa các nguồn cung và tuyến vận tải (lines of communications) giúp giảm thiểu sự can thiệp của kẻ thù và tình trạng tắc nghẽn hạ tầng giao thông.
  6. Tính kinh tế: Nguồn lực hậu cần là hữu hạn, vì vậy chúng phải được triển khai sao cho tối ưu hóa hiệu quả sử dụng.
  7. Tính khả thi: Khả năng hậu cần luôn chịu sự chi phối bởi các ràng buộc khách quan từ bên ngoài.
  8. Tính linh hoạt: Các kế hoạch và ưu tiên chiến lược/chiến dịch luôn thay đổi, do đó công tác hỗ trợ hậu cần phải thích ứng kịp thời theo những thay đổi đó.
  9. Tính tương đối: Hậu cần luôn gắn liền với các yếu tố tương đối về thời gian và không gian.
  10. Tính liên tục: Không nên thực hiện những thay đổi mang tính nền tảng chỉ để đối phó với một tình huống khẩn cấp nhất thời.
  11. Tính kịp thời: Các nhiệm vụ hậu cần phải được hoàn thành đúng lúc để tận dụng tối đa các cơ hội chiến lược.
  12. Trách nhiệm: Phải có cá nhân hoặc đơn vị chịu trách nhiệm về hiệu quả và kết quả của hoạt động hậu cần.
  13. Thống nhất chỉ huy: Hậu cần là một chức năng của chỉ huy; một cơ quan thẩm quyền duy nhất phải chịu trách nhiệm điều phối hậu cần.
  14. Thông tin: Thông tin chính xác và kịp thời là điều kiện tiên quyết để lập kế hoạch và hỗ trợ hậu cần hiệu quả.
  15. Chất lượng: Công tác hậu cần được tạo thuận lợi nhờ việc áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng nghiêm ngặt.
  16. Tính đơn giản: Những giải pháp đơn giản thường mang lại hiệu quả cao hơn và dễ quản lý hơn.

Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ đã rút gọn số lượng nguyên tắc xuống còn bảy:[14]

  1. Tính đáp ứng (Responsiveness): Cung cấp sự hỗ trợ cần thiết đúng lúc và đúng nơi.
  2. Tính đơn giản: Thúc đẩy sự thống nhất và hiệu quả trong lập kế hoạch và thực thi, đồng thời giảm thiểu "màn sương chiến tranh" và những "ma sát" nảy sinh trong chiến đấu.
  3. Tính linh hoạt: Khả năng ứng biến và thích nghi với các tình huống và yêu cầu thay đổi.
  4. Tính kinh tế: Sử dụng lượng nguồn lực tối thiểu cần thiết để đạt được mục tiêu.
  5. Khả năng đạt được: Điểm mà tại đó các nguồn cung, hỗ trợ và khả năng phân phối đủ để bắt đầu chiến dịch với mức độ rủi ro có thể chấp nhận được.
  6. Tính bền vững: Khả năng duy trì mức độ và thời hạn hỗ trợ hậu cần cần thiết để hoàn thành mục tiêu.
  7. Khả năng bảo toàn: Năng lực để tồn tại và vượt qua những tác động bất lợi từ phía đối phương hoặc môi trường.

Các phương thức tiếp tế

[sửa | sửa mã nguồn]

Có ba phương thức cơ bản để tiếp tế cho một quân đội trên chiến trường, chúng có thể được áp dụng riêng lẻ hoặc kết hợp với nhau.[15]

Thu thập nhu yếu phẩm tại chỗ

[sửa | sửa mã nguồn]
Một binh sĩ đang mua dưa tươi từ thương lái địa phương tại quận Shah Wali Kot, Afghanistan

Nhu cầu cơ bản nhất của một quân đội là thức ăn và nước uống.[16] Thu lượm bao gồm việc thu gom thực phẩm cho người và cỏ khô cho vật nuôi ngay tại địa bàn hoạt động. Khả năng thu thập này thường phụ thuộc vào mùa vụ, với nguồn cung dồi dào hơn vào mùa thu hoạch tại các vùng nông nghiệp.[17] Phương thức này cũng phụ thuộc chặt chẽ vào địa lý, ví dụ như trong các chiến dịch sa mạc, thực phẩm, nước uống hoặc cỏ khô hầu như không có sẵn tại địa phương.[18]

Vơ vét cũng là một cách để có được nhu yếu phẩm trên chiến trường. Quân đội có thể tịch thu vật tư từ phía đối phương hoặc từ dân cư vùng chiếm đóng.[19] Một giải pháp thay thế là thu mua, theo đó quân đội dùng tiền mặt để mua nhu yếu phẩm tại chỗ.[20] Tiền mặt cũng có thể được huy động tại chỗ thông qua hệ thống thuế địa phương dưới áp lực quân sự.[21] Nhược điểm lớn nhất của việc sử dụng nguồn lực địa phương là chúng có thể bị cạn kiệt nếu quân đội đóng quân một chỗ quá lâu, buộc lực lượng đó phải liên tục di chuyển.[22]

Việc tận dụng rộng rãi tài nguyên tại chỗ đã dẫn đến sự ra đời của "phản hậu cần", theo đó đối phương sẽ thực hiện chính sách triệt hạ đồng ruộng, di dời hoặc tiêu hủy mọi nguồn lực để ngăn chặn quân đội đối diện tiếp cận.[17] Ngoài ra, việc thu mua trước cũng có thể được sử dụng như một hình thức chiến tranh kinh tế.[23] Một lực lượng bao vây có thể cố gắng bỏ đói quân đồn trú bằng cách phá hoại khu vực xung quanh thay vì thực hiện các cuộc tấn công trực diện tốn kém, nhưng nếu chính lực lượng bao vây đó cũng phụ thuộc vào nguồn cung tại chỗ thì họ có thể bị đánh bại nếu tài nguyên xung quanh cạn kiệt trước.[24]

Mang theo nhu yếu phẩm cùng quân đội

[sửa | sửa mã nguồn]

Phương pháp thứ hai là mang theo tất cả những gì cần thiết bằng tàu thuyền, vật nuôi thồ hàng, xe kéo hoặc do chính binh sĩ mang trên lưng.[25] Từ thời cổ đại, binh lính đã tự mang theo khẩu phần ăn và trang thiết bị cá nhân như vũ khí, giáp trụ, dụng cụ nấu ăn và túi ngủ.[26] Gia súc có thể được lùa đi cùng quân đội để lấy thịt.[17] Hệ thống đường sá giúp xe bánh lốp di chuyển dễ dàng hơn, trong khi vận tải đường sông hoặc đường biển cho phép vận chuyển khối lượng nhu yếu phẩm lớn.[26] Điều này giúp quân đội có được mức độ tự chủ nhất định; cho đến trước khi các loại vũ khí bắn nhanh phát triển vào thế kỷ 19, hầu hết lượng đạn dược mà một binh sĩ cần cho toàn bộ chiến dịch có thể được mang theo bên mình hoặc trong các xe quân nhu đi kèm. Tuy nhiên, phương pháp này tạo ra một đoàn hậu cần đồ sộ, có thể làm chậm tốc độ hành quân.[25]

Vận chuyển từ tuyến sau

[sửa | sửa mã nguồn]
Tàu USS Mustin đang nhận tiếp tế trên biển

Việc thu thập tại chỗ và tự mang theo vật tư vẫn là những phương thức tiếp tế chính cho đến thế kỷ 19,[25] tuy nhiên ngay từ thế kỷ 17, các đạo quân lớn hơn thời kỳ đó đã bắt đầu phụ thuộc nhiều vào lương thực được tập trung tại các kho chứa và chuyển ra tiền tuyến.[27] Bắt đầu từ Cách mạng Công nghiệp, những tiến bộ mới về công nghệ, kỹ thuật và quản trị đã cho phép vận chuyển vật tư với tốc độ và khoảng cách chưa từng có.[28]

Đồng thời, nhu cầu về đạn dược tăng cao cùng với trọng lượng ngày càng lớn của các loại đạn pháo và bom đã khiến quân đội khó có thể tự mang theo hết nhu cầu của mình; họ sớm trở nên phụ thuộc vào việc bổ sung đạn dược thường xuyên từ các tổng kho. Quá trình cơ giới hóa, với việc xe cơ giới thay thế sức kéo động vật, đã tạo ra nhu cầu về nhiên liệu và phụ tùng thay thế — những thứ không thể tìm thấy tại địa phương. Điều này dẫn đến một "cuộc cách mạng hậu cần" bắt đầu vào thế kỷ 20, giúp cải thiện đáng kể năng lực của các quân đội hiện đại nhưng cũng khiến họ phụ thuộc hoàn toàn vào phương thức tiếp tế này.[28]

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]
Tái hiện một khu cắm trại của Quân đội La Mã

Lịch sử của hậu cần quân sự bắt nguồn từ thời kỳ Đồ đá mới.[29] Các nhu cầu cơ bản nhất của một đội quân là thực phẩm và nước uống.[16] Các đội quân thời kỳ đầu được trang bị vũ khí dùng cho săn bắn như giáo, dao, rìu và cung tên,[29] và hiếm khi vượt quá 20.000 người do những khó khăn thực tế trong việc cung ứng cho một lượng lớn binh sĩ.[30] Các đội quân quy mô lớn bắt đầu xuất hiện vào Thời đại đồ sắt.[31] Các loài động vật như ngựa, bò, lạc đà và voi được sử dụng làm vật thồ để vận chuyển nhu yếu phẩm.[32][33] Thực phẩm, nước uống và thức ăn cho gia súc thường có thể tìm thấy hoặc mua ngay tại hiện trường tác chiến.[34]

Đế chế La Mã đã xây dựng mạng lưới đường bộ, cầukênh đào, nhưng việc vận chuyển một tấn ngũ cốc từ Ai Cập đến Rome bằng đường biển vẫn rẻ hơn nhiều so với việc vận chuyển bằng đường bộ trên quãng đường 80 kilômét (50 mi).[35][36] Sau khi Đế chế Tây La Mã sụp đổ vào thế kỷ thứ V, đã có một sự chuyển dịch từ quân đội tổ chức tập trung sang sự kết hợp của các lực lượng quân sự cấu thành từ các đội quân địa phương.[37] Chế độ phong kiến là một hệ thống hậu cần quân sự phân tán, nơi các đại gia tộc tự huy động nguồn lực về nhân lực và thiết bị của riêng mình.[38][39]

Khi hoạt động trong lãnh thổ kẻ thù, quân đội buộc phải cướp bóc vùng nông thôn địa phương để lấy nhu yếu phẩm, điều này cho phép chiến tranh được tiến hành bằng chi phí của chính kẻ thù. Tuy nhiên, với sự gia tăng quy mô quân đội từ cuối thế kỷ XVI trở đi, việc dựa vào cướp phá trở nên khó khăn. Các quyết định về việc quân đội có thể di chuyển hoặc chiến đấu ở đâu và khi nào bắt đầu không còn dựa trên các mục tiêu chiến lược, mà dựa trên việc liệu khu vực đó có khả năng đáp ứng nhu cầu của binh sĩ hay không. Đặc biệt, các cuộc bao vây bị ảnh hưởng nặng nề bởi điều này, đối với cả quân đội đang cố gắng vây hãm một thị trấn và quân cứu viện. Trừ khi một chỉ huy có thể sắp xếp hình thức tiếp tế thường xuyên, một pháo đài hoặc thị trấn với vùng nông thôn bị tàn phá có thể trở nên bất khả xâm phạm trước bất kỳ hoạt động quân sự nào.[40]

Napoléon đã đưa hậu cần trở thành một phần quan trọng trong chiến lược của mình.[41] Ông phân tán các quân đoàn của mình dọc theo một mặt trận rộng lớn để tối đa hóa khu vực có thể thu gom nhu yếu phẩm. Mỗi ngày, các nhóm thu lượm sẽ mang nhu yếu phẩm về. Điều này khác với các hoạt động "sống dựa vào đất" (living off the land) trước đây ở quy mô lực lượng tham gia và vì động lực chính là mong muốn của hoàng đế về tính cơ động.[42] Theo quy luật, đạn dược không thể kiếm được tại địa phương, nhưng vẫn có thể mang theo đủ đạn dược cho toàn bộ một chiến dịch.[43]

Sự di chuyển các phương tiện Nga bằng đường sắt

Thế kỷ XIX chứng kiến những phát triển công nghệ tạo điều kiện cho những cải tiến to lớn trong việc lưu trữ, xử lý và vận chuyển nhu yếu phẩm, giúp việc hỗ trợ một đội quân từ phía sau trở nên dễ dàng hơn. Đồ hộp đã đơn giản hóa việc lưu trữ và phân phối thực phẩm, đồng thời giảm lãng phí và tỷ lệ mắc các bệnh liên quan đến thực phẩm. Công nghệ điện lạnh cho phép thịt đông lạnh và nông sản tươi sống được lưu trữ và vận chuyển.[44] Tàu hơi nước giúp vận tải đường thủy nhanh hơn và đáng tin cậy hơn.[45] đã khắc phục được nhiều hạn chế của xe thồ dùng sức kéo động vật, nhưng chúng bị giới hạn bởi đường ray, và do đó không thể hỗ trợ một đội quân đang tiến công trừ khi cuộc tiến quân đó dọc theo các tuyến đường sắt hiện có.[46] Đồng thời, sự xuất hiện của Chiến tranh công nghiệp dưới hình thức súng trường lên đạn bằng khóa nòng, súng máypháo bắn nhanh đã khiến mức tiêu thụ đạn dược tăng vọt trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất.[47][48]

Trong thế kỷ XX, sự xuất hiện của các phương tiện cơ giới chạy bằng động cơ đốt trong đã cung cấp một lựa chọn thay thế cho vận tải bằng động vật để di chuyển nhu yếu phẩm lên phía trước từ các đầu mối đường sắt, mặc dù nhiều đội quân vẫn sử dụng động vật trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.[49][50] Sự phát triển của vận tải hàng không đã cung cấp một phương thức thay thế cho cả vận tải đường bộ và đường biển, nhưng với trọng tải hạn chế và chi phí cao. Một đợt cầu hàng không qua dãy "The Hump" đã giúp tiếp tế cho nỗ lực chiến tranh của Trung Quốc trong Chiến tranh Trung-Nhật,[51] và sau chiến tranh, chiến dịch Cầu hàng không Berlin năm 1948 đã thành công trong việc tiếp tế cho một nửa thành phố.[47] Với sự phát triển sau đó của các máy bay phản lực lớn, máy bay trở thành phương thức ưu tiên để di chuyển nhân sự trên quãng đường dài, mặc dù việc vận chuyển hàng hóa bằng đường biển và đường bộ vẫn kinh tế hơn. Ở các khu vực tiền phương, trực thăng rất phù hợp để di chuyển quân đội và nhu yếu phẩm, đặc biệt là trên những địa hình hiểm trở.[47]

Các mô hình

[sửa | sửa mã nguồn]

Các cấp độ

[sửa | sửa mã nguồn]
Nạp đạn pháo tại trận địa

Tương tự như ba cấp độ của chiến tranh, hậu cần cũng có thể được chia thành ba cấp độ tương ứng. Mặc dù công nghệ thông tin và liên lạc hiện đại đã phần nào làm mờ đi ranh giới giữa chúng,[52] nhưng hệ thống phân cấp ba cấp độ này vẫn bám rễ sâu trong cấu trúc tổ chức của các lực lượng quân sự.[53]

  • Hậu cần chiến lược bao gồm các hoạt động hậu cần được tiến hành ở cấp độ quốc gia và quốc tế. Nó bao gồm việc xác định các yêu cầu, sắp xếp sản xuất và phân phối trang thiết bị, vật tư cho các lực lượng tác chiến.[54]
  • Hậu cần chiến dịch bao gồm các hoạt động hậu cần trong phạm vi một chiến trường. Nó bao gồm việc tiếp nhận, lưu kho và phân phối nhu yếu phẩm và nhân lực, cứu chữa thương binh, bảo trì và sửa chữa thiết bị, cũng như vận hành hệ thống giao thông nội bộ chiến trường.[54] Cấp độ tác chiến của chiến tranh có thể được định nghĩa bằng mức độ độc lập về hậu cần của một đơn vị.[55] Vì lý do này, hậu cần thường được thảo luận nhiều nhất ở cấp độ chiến dịch.[56][57]
  • Hậu cần chiến thuật bao gồm các hoạt động hậu cần của các đơn vị trực tiếp tham gia chiến đấu.[54]

Khác với hậu cần trong kinh doanh, mục tiêu của hậu cần quân sự không phải là hiệu quả về chi phí của chuỗi cung ứng, mà là tối đa hóa hiệu quả chiến đấu bền vững.[58] Ở cấp độ chiến thuật, tính hiệu quả là ưu tiên hàng đầu, trong khi ở cấp độ chiến lược, năng suất là mối quan tâm chiếm ưu thế.[59]

Mô phỏng việc tiếp nhiên liệu cho xe tăng M1A2 Abrams từ máy bay vận tải C-130J Super Hercules

Hậu cần chiến dịch có thể được chia nhỏ thành bốn giai đoạn:

  • Triển khai chiến lược: Di chuyển lực lượng từ căn cứ quê nhà đến chiến trường tác chiến.[60]
  • Tiếp nhận: Đổ quân, tập kết quân đội và bốc dỡ, lưu kho, vận chuyển hàng hóa, nhu yếu phẩm tại cảng đổ bộ.[61]
  • Duy trì : Đáp ứng nhu cầu của binh sĩ và định hình cục diện chiến dịch.[62]
  • Thu hồi/Rút lui: Tái triển khai quân đội, thiết bị và xử lý các vật tư dư thừa.[63]

Một khái niệm liên quan là "Tầm vươn chiến dịch", được định nghĩa là:

khoảng cách mà sức mạnh quân sự có thể được sử dụng một cách quyết định. Nó giống như một sợi dây buộc. Tầm vươn chiến dịch thay đổi tùy theo tình hình. Sức mạnh chiến đấu, khả năng duy trì, và địa lý xung quanh cũng như khoảng cách ngăn cách giữa lực lượng phe ta và phe địch đều ảnh hưởng đến nó. Lực lượng quân đội mở rộng tầm vươn chiến dịch bằng cách bố trí các đơn vị, lực lượng dự bị, căn cứ và hỗ trợ về phía trước; bằng cách tăng tầm bắn của các hệ thống vũ khí; thông qua kỷ luật cung ứng; và bằng cách cải thiện các tuyến giao thông liên lạc.[64]

Các công cụ phân tích

[sửa | sửa mã nguồn]
Đoàn xe tiếp tế tại Afghanistan

Sự phát triển của máy tính đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng các công cụ phân tích. Phân tích quyết định đa tiêu chí (MCDA) là một nhánh của nghiên cứu vận hành nhằm đánh giá rõ ràng nhiều tiêu chí xung đột nhau trong quá trình ra quyết định.[65] Việc lựa chọn vị trí kho bãi tiếp tế có thể bao gồm nhiều cân nhắc và ràng buộc, chẳng hạn như khả năng tiếp cận đường bộ, đường sắt và đường biển, cũng như thời gian di chuyển đến các điểm giao hàng mong muốn. Đôi khi số lượng các phương án thay thế là nhỏ và có thể xem xét riêng lẻ, nhưng chúng cũng có thể quá lớn để thực hiện điều đó. Việc xem xét các ràng buộc giúp đơn giản hóa quá trình ra quyết định. Những ràng buộc này có thể là kinh tế (như chi phí), nhưng cũng có thể là những yếu tố khó định lượng hơn như chính trị, chiến lược hoặc các cân nhắc về tác chiến.[66][67] Văn phòng Quản lý và Ngân sách Hoa Kỳ cùng Bộ Quốc phòng gọi phương pháp này là Phân tích các phương án thay thế (AoA) và bắt buộc áp dụng trong mua sắm quân sự.[68][69]

Lập kế hoạch hậu cần đòi hỏi phải dự báo mức tiêu thụ và hao hụt trong tương lai.[67] Có hai loại tiêu hao: tiêu hao vật chất và tiêu hao nhân lực. Loại đầu tiên liên quan đến tổn thất thiết bị thông qua chiến đấu, tai nạn và hư hỏng thông thường trong quá trình sử dụng.[70] Lý thuyết về độ tin cậy có thể được sử dụng để dự báo thời gian trung bình giữa các lần hỏng hóc] (MTBF) của thiết bị và phụ tùng.[71][72] Điều này có thể được dùng để phát triển các hệ số thay thế, làm cơ sở cho mức sản xuất và dự trữ. Trong trường hợp các mặt hàng như lương thực và xà phòng, nơi nhu cầu có thể dự đoán cao, việc sử dụng các hệ số tiêu thụ sẽ thuận tiện hơn.[73] Việc dự báo thương vong trong chiến đấu khó khăn hơn, vì kinh nghiệm trong quá khứ có thể không phải là chỉ dẫn đáng tin cậy cho những tổn thất trong tương lai, nhưng vẫn cần thiết cho việc lập kế hoạch của các dịch vụ y tế.[72] Các mô hình toán học về chiến đấu đã được phát triển cho mục đích này.[74] Các quy luật Lanchester là các phương trình vi phân mô tả sự phụ thuộc của sức mạnh hai đội quân vào thời gian.[75]

Các mô hình toán học cũng tồn tại để điều phối lịch trình của các đoàn xe, đảm bảo phương tiện và hàng hóa đến đúng giờ. Các mô hình định tuyến xe có thể được sử dụng để lựa chọn các lộ trình giao hàng kịp thời với mức độ rủi ro thấp nhất trước các hành động của kẻ thù mà không làm quá tải năng lực của mạng lưới giao thông. Các mô hình lập lịch trình có thể được sử dụng để phối hợp các đoàn xe đi chung lộ trình. Ngoài ra, còn có các mô hình quản lý kho bãi dùng để lập lịch trình và số lượng đơn hàng, cũng như mức dự trữ, tính đến các yếu tố như khả năng lưu trữ, tỷ lệ nhu cầu và thời gian chờ giao hàng.[76][77][78]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. Mangan & Lalwani 2016, tr. 8.
  2. 1 2 Rouquet 2025, tr. 105–106.
  3. 1 2 Tepic, Tanackov & Stojić 2011, tr. 379.
  4. Rider 1970, tr. 25.
  5. Rider 1970, tr. 26.
  6. Farrow 1895, tr. 230.
  7. Lutes 1993, tr. vii.
  8. NATO 2013, tr. 2-L-5.
  9. Mangan & Lalwani 2016, tr. 9–13.
  10. Tuttle 2005, tr. 3–4.
  11. Black 2021, tr. 165.
  12. Huston 1989, tr. 386-388.
  13. Huston 1966, tr. 655-668.
  14. O'Donohue 2019, tr. I-8–I-9.
  15. Kress 2002, tr. 9.
  16. 1 2 Kress 2002, tr. 10.
  17. 1 2 3 Black 2021, tr. 2.
  18. Lynn 1993, tr. 32.
  19. Black 2021, tr. 12-13, 78.
  20. Black 2021, tr. 6, 74.
  21. Lynn 1993, tr. 143-146.
  22. Lynn 1993, tr. 139-140.
  23. Black 2021, tr. 117.
  24. Lynn 1993, tr. 35.
  25. 1 2 3 Kress 2002, tr. 9-10.
  26. 1 2 Black 2021, tr. 4-5.
  27. Lynn 1993, tr. 140-143.
  28. 1 2 Kress 2002, tr. 10-11.
  29. 1 2 Dyer 1985, tr. 12.
  30. Dyer 1985, tr. 26.
  31. Thompson 1991, tr. 11.
  32. Engels 1980, tr. 14–16.
  33. Bachrach & Bachrach 2017, tr. 170–171.
  34. Black 2021, tr. 9–10.
  35. Roth 1999, tr. 221.
  36. Black 2021, tr. 4–5.
  37. Bachrach & Bachrach 2017, tr. 181–182.
  38. Black 2021, tr. 8.
  39. Bachrach & Bachrach 2017, tr. 182–184.
  40. Creveld 1997, tr. 5–10.
  41. Schneid 2005, tr. 106.
  42. Lynn 1993, tr. 18–19.
  43. Creveld 1997, tr. 56–57.
  44. Macksey 1989, tr. 33-34.
  45. Đường sắt.
  46. Lynn 1993, tr. 183–184.
  47. 1 2 3 Lynn 1993, tr. 185.
  48. Creveld 1997, tr. 109–111.
  49. Lynn 1993, tr. 184.
  50. Black 2021, tr. 124.
  51. Huston 1966, tr. 431–432.
  52. Ferris & Keithly 1997, tr. 38-49.
  53. Kress 2002, tr. 17.
  54. 1 2 3 National Research Council 1999, tr. 22.
  55. Rodgers 2020, tr. 13.
  56. Black 2021, tr. 182.
  57. Demarest, Colin (ngày 14 tháng 8 năm 2023). "To Nail Logistics, US Army Works on Info-Sharing at Talisman Sabre". Defense News. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2026.
  58. Eccles 1959, tr. 22.
  59. Kress 2016, tr. 24.
  60. Killbane 2025, tr. 58.
  61. Killbane 2025, tr. 68.
  62. Killbane 2025, tr. 72.
  63. Killbane 2025, tr. 82.
  64. Heintzelman 2003, tr. 2.
  65. Koksalan, Wallenius & Zionts 2011, tr. 12-13.
  66. Zionts 1979, tr. 95-96.
  67. 1 2 Kress 2002, tr. 27.
  68. Ast & Ullman 2011, tr. 24.
  69. Ullman, David C. (tháng 9 năm 2011). "Analysis of Alternatives (AoA) Based Decisions". Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2026.
  70. Dupuy và đồng nghiệp 1986, tr. 5.
  71. Barlow & Proschan 1996, tr. 1-5.
  72. 1 2 Kress 2002, tr. 28.
  73. Risch 1953, tr. 215-216.
  74. Bracken, Kress & Rosent 1996, tr. 17.
  75. Dupuy và đồng nghiệp 1986, tr. 3.
  76. Kasilingam 1998, tr. 1-5.
  77. Irnich, Toth & Vigo 2014, tr. 1-3.
  78. Kress 2002, tr. 29-30.

Thư mục

[sửa | sửa mã nguồn]