Họ Mèo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Họ Mèo[1]
Thời điểm hóa thạch: 25–0Ma
Hậu Oligocen - gần đây
Tiger-zoologie.de0001 22.JPG
Hổ (Panthera tigris)
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Đại bộ (magnordo) Epitheria
Liên bộ (superordo) Laurasiatheria
Bộ (ordo) Carnivora
Phân bộ (subordo) Feliformia
Họ (familia) Felidae
G. Fischer de Waldheim, 1817
Phân họ

Mọi loại thú "giống mèo" là thành viên của họ Mèo (Felidae). Các thú giống mèo đều là động vật ăn thịt, một trong chín họ của bộ Ăn thịt (Carnivora). Những họ hàng gần khác của mèo nằm trong các họ khác, trong nhánh của chúng, thuộc cây tiến hóa của động vật ăn thịt: cầy hương, linh cẩu hay cầy măng gút. Những con mèo đầu tiên đã tách ra từ thời kỳ thuộc thế Eocen, khoảng 40 triệu năm trước. Con vật thông thường nhất là mèo nhà, đã gắn với cuộc sống của con người khoảng từ 7.000 đến 4.000 năm trước. Họ hàng hoang dã của chúng vẫn còn sinh sống ở châu PhiTây Á, mặc dù sự phá hủy môi trường sống đã thu nhỏ khu vực sinh sống của chúng.

Các thành viên khác của họ Mèo bao gồm các loài mèo khổng lồ như sư tử, hổ, báo hoa mai, báo đốm Mỹbáo gêpa (mặc dù chúng có kích thước lớn, nhưng vẫn là hậu duệ của những loài mèo nhỏ đã tồn tại trước đây), và các loài mèo hoang khác như linh miêu, báo sư tử (puma) hay linh miêu đuôi cộc.

Tiến hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện có 42 loài mèo đã được nhận dạng (nếu xem loài mèo Iriomote là phân loài thì còn 41) trên Trái đất đều có cùng tổ tiên.[1] Các loài mèo có nguồn gốc ở châu Á và sau đó lan rộng đến các lục địa khác qua đường cầu đất. Thí nghiệm về ADN ty thểADN hạt nhân hé lộ rằng các loài mèo tổ tiên đã tiến hóa thành 8 dòng chính phân tán qua ít nhất 10 lần di cư (theo cả 2 hướng) từ lục địa sang lục địa qua cầu đất Beringeo đất Panama, với chi Panthera là cổ nhất và chi Felis là trẻ nhất. Có khoảng 60% các loài mèo hiện đại được ước tính đã phát triển trong một triệu năm qua.[3]

Các quan hệ họ hàng gần nhất của họ Mèo được cho là cầu Linsang.[4] Cùng với Viverridae, Linh cẩu, Họ Cầy lỏn, và cầu Madagascar, chúng tạo thành cận bộ Feliformia.[5]

Hầu hết các loài mèo có cùng một dị dạng di truyền ngăn chúng niếm vị ngọt.[6]

Hầu hết các loài mèo có một số đơn bội là 18 hoặc 19. Các loài mèo Tân thế giới (phân bố ở Trung và Nam Mỹ) có số đơn bội là 18, có thể do sự kết hợp của hai nhiễm sắc thể nhỏ hơn thành một nhiễm sắc thể lớn hơn.[7] Trước phát hiện này, các nhà sinh vật học đã không thể thiết lập cây phân nhánh họ Mèo từ các hóa thạch do các hóa thạch của các loài mèo khác nhau tất cả đều trông giống nhau chỉ khác nhau về kích thước.

Mèo nhà có thể có đuôi dài hoặc ngắn. Có lúc các nhà sinh vật học phải xem liệu đuôi ngắn cũng có thể được tìm thấy ở nhóm linh cẩu có đặc điểm của tổ tiên hoặc có nguồn gốc tiến hóa. Nếu không xem xét hóa thạch, các nhà nghiên cứu đã có thể nhận dạng các trạng thái đặc điểm được tìm thấy trong các nhóm của chúng. Do tất cả động vật trong nhóm cùng cấp họ mèo là Viverridae có đuôi dài, nên các nhà khoa học có thể suy ra rằng trạng thái nhận dạng này đại diện cho tính trạng tổ tiên của chúng.[5]

Đặc điểm chung của họ mèo[sửa | sửa mã nguồn]

Các loài động vật họ mèo ngoài đặc điểm chung là thú ăn thịt ra, chúng có một số đặc điểm phân biệt với các loài thú ăn thịt khác, thể hiện ở răng, móng vuốt và khả năng săn đêm thông qua đặc điểm của mắt.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyền thống, người ta chia họ Felidae thành 5 phân họ, dựa theo các đặc trưng kiểu hình. Các phân họ này bao gồm 3 phân họ còn sinh tồn là Felinae, Pantherinae, Acinonychinae (báo săn), và 2 phân họ tuyệt chủng là Machairodontinae, Proailurinae[2].

Phân loại di truyền học[sửa | sửa mã nguồn]

Nghiên cứu di truyền học đã cung cấp cơ sở cho sự phân loại chính xác hơn đối với các thành viên còn sinh tồn của họ mèo dựa trên cơ sở gộp nhóm kiểu gen[1][8][9]. Cụ thể 8 dòng dõi di truyền đã được nhận dạng:[10]

Bốn dòng dõi sau (5, 6, 7, 8) có quan hệ họ hàng gần với nhau hơn so với bất kỳ mối quan hệ nào của chúng đối với bốn dòng dõi đầu tiên (1, 2, 3, 4), và vì thế chúng tạo thành một nhánh trong phạm vi phân họ Felinae của họ Felidae.

Các loài còn sinh tồn[sửa | sửa mã nguồn]

Hóa thạch mèo[sửa | sửa mã nguồn]

Những loài thú giống mèo cổ nhất (Aelurogale, Eofelis) được tách ra từ thời kỳ Eocene. Được biết đến như là Proailurus, chúng đã sống trong kỷ OligoceneMiocene. Trong kỷ Miocene nó tiến hóa thành Pseudaelurus. Pseudaelurus được coi là tổ tiên chung gần nhất của cả ba phân họ trên đây cũng như của các phân họ khác, như Machairodontinae. Nhóm này, được biết đến như là mèo răng kiếm, đã tuyệt chủng trong đầu kỷ Pleistocene. Nó bao gồm các chi Smilodon, Machairodus, DinofelisHomotherium.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Trong văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Felidae cũng là tiêu đề của tiểu thuyết của Akif Pirinçci trong đó con mèo có tên là Francis điều tra kẻ giết một số mèo trong một thành phố lớn. Hiện tại có 5 tập của Felidae: Felidae, Felidae II (còn gọi là Felidae trên đường), Cave Canem, Das DuellSalve Roma, trong đó có hai tập đầu đã dịch sang tiếng Anh. Tập đầu Felidae đã được chuyển thể thành phim hoạt hình của Đức năm 1994, do Michael Schaack đạo diễn. Có bản lồng tiếng Anh, tuy nhiên vì nội dung người lớn của nó, nên đã không được nhập khẩu cho khán giả Bắc Mỹ, do họ có thể nhầm nó là phim cho trẻ em.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Wozencraft, W. C. (2005). “Order Carnivora”. Trong Wilson, D. E.; Reeder, D. M. Mammal Species of the World . Nhà in Đại học Johns Hopkins. tr. 532–548. ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 
  2. ^ a ă Malcolm C. McKenna, Susan K. Bell: Classification of Mammals: Above the Species Level. Nhà in Đại học Columbia, New York 1997, 631 Seiten, ISBN 0-231-11013-8
  3. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Johnson06
  4. ^ Eizirik E.; Murphy W. J.; Koepfli K. P.; Johnson W. E.; Dragoo J. W.; O'Brien S. J. (2010). “Pattern and timing of the diversification of the mammalian order Carnivora inferred from multiple nuclear gene sequences”. Molecular Phylogenetics and Evolution 56 (1): 49–63. doi:10.1016/j.ympev.2010.01.033. PMID 20138220. 
  5. ^ a ă Gaubert, P.; Veron, G. (2003). “Exhaustive sample set among Viverridae reveals the sister-group of felids: the linsangs as a case of extreme morphological convergence within Feliformia”. Proceedings of the Royal Society B 270 (1532): 2523–30. doi:10.1098/rspb.2003.2521. PMC 1691530. PMID 14667345. 
  6. ^ Li, X.; Li, W.; Wang, H.; Cao, J.; Maehashi, K.; Huang, L.; Bachmanov, A. A.; Reed, D. R.; Legrand-Defretin, V.; Beauchamp, G. K. & J. G. Brand (2005). “Pseudogenization of a Sweet-Receptor Gene Accounts for Cats' Indifference toward Sugar”. Public Library of Science 1 (1): 27–35. doi:10.1371/journal.pgen.0010003. PMC 1183522. PMID 16103917. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2008. 
  7. ^ Vella, C.; Shelton, L. M.; McGonagle, J. J. & Stanglein, T. W. (2002). Robinson's Genetics for Cat Breeders and Veterinarians (ấn bản 4). Oxford: Butterworh-Heinemann Ltd. ISBN 0-7506-4069-3. 
  8. ^ Johnson WE, Eizirik E, Pecon-Slattery J và đồng nghiệp (tháng 1 năm 2006). “The late Miocene radiation of modern Felidae: a genetic assessment”. Science 311 (5757): 73–7. doi:10.1126/science.1122277. PMID 16400146. 
  9. ^ O'Brien SJ, Johnson WE (2005). “Big cat genomics”. Annu Rev Genomics Hum Genet 6 (1): 407–29. doi:10.1146/annurev.genom.6.080604.162151. PMID 16124868. 
  10. ^ “Phylogenetic reconstruction of the Felidae using 16S rRNA and NADH”. Truy cập 14 tháng 4 năm 2015. 

Tham khảo chung[sửa | sửa mã nguồn]

  • Shoemaker, Alan (1996). “1996 Taxonomic and Legal Status of the Felidae”. Felid Taxonomic Advisory Group of the American Zoo and Aquarium Association. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2009. 
  • Turner A. (1997). The big cats and their fossil relatives. Nhà in Đại học Columbia. ISBN 0-231-10229-1. 
  • Kirby G. (1984). “Cat family”. Trong Macdonald D. The Encyclopedia of Mammals. Facts on File. ISBN 0-87196-871-1. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]