Học phi (Phi tần của Tự Đức)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Học phi Nguyễn Văn thị (chữ Hán: 學妃阮文氏), không rõ năm sinh năm mất, còn gọi là Huy Thuận Học phi (徽順學妃), là một phi tần nổi tiếng của Nguyễn Dực Tông Tự Đức và là mẹ nuôi của Nguyễn Giản Tông Kiến Phúc hoàng đế trong lịch sử Việt Nam.

Theo dã sử, người ta cho rằng bà có mối quan hệ tư thông với Nguyễn Văn Tường, một trong hai đại thần phụ chính quyền lực nhất Việt Nam lúc đó và là nguyên nhân dẫn đến cái chết đầy bí ẩn của Kiến Phúc đế.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Xuất thân[sửa | sửa mã nguồn]

Tên thật của bà là Thị Hương (氏香), lại có tên là Thị Nguyệt (氏月)[1], sinh ngày 12 tháng giêng mà không rõ năm, quê ở thôn An Đức, xã Bảo Lộc, huyện Bảo An, tỉnh Vĩnh Long. Bà là cháu nội của Hoàng Trung hầu Nguyễn Văn Trọng, làm quan dưới 3 triều Gia Long (1802 - 1820), Minh Mạng (1820 - 1840) và Thiệu Trị (1840 - 1847), là con gái của ông Nguyễn Văn Tuấn và bà Lê Thị Nữ. Dưới thời Tự Đức, cha của bà cũng là một vị quan của triều đình, và đã được ban tặng chức Nghiêm Oai tướng quân.

Theo gia phả của dòng họ Nguyễn Văn, hiện lưu giữ tại nhà ông Nguyễn Văn Song, tổ 11, khu vực 3, phường Thủy Xuân, Thành phố Huế, thì bà có ba người anh em trai là Nguyễn Văn Huy, Nguyễn Văn DiệuNguyễn Văn Giai. Trong đó anh trai Nguyễn Văn Huy làm chức Phó vệ úy và em trai là Phò mã Đô úy.

Phi tần của Tự Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tự Đức thứ 14 (1861), Nguyễn Văn Thị Hương xuất thân trong một gia đình quyền quý, danh gia vọng tộc, lại có sắc đẹp mê hồn. Sau khi được tiến cung bà đã khiến cho Tự Đức Đế, một người yêu thơ ca, hết sức mê đắm và sủng ái. Xiêu lòng trước nhan sắc của bà, nên không lâu sau khi vào cung, Tự Đức đã sắc phong cho bà giai hàm là Lượng tần (諒嬪). Căn cứ vào việc định rõ thứ bậc ở nội cung dưới thời Minh Mạng thì Lượng tần ở vào bậc thứ 4 trong hệ thống Cửu giai, gọi là Tứ giai Lượng tần (四階諒嬪).

Năm Tự Đức thứ 23 (1870), bà được tấn phong làm Nhị giai Khiêm phi (二階謙妃)[2]. Cũng trong năm này, theo lệnh Tự Đức Đế, Khiêm Phi Nguyễn Văn Thị Hương nhận con trai thứ hai của Kiên Quốc công là Nguyễn Phúc Ưng Đăng, lúc này mới lên 2 tuổi, làm con nuôi[3]. Từ khi được phong làm Khiêm phi, bà càng ngày càng được Tự Đức sủng ái vô cùng thương yêu.

Năm Tự Đức thứ 27 (1874), Hoàng đế sắc phong cho bà hàm Nhất giai Học phi (一階學妃)[4]. Khi ấy, địa vị của bà chỉ đứng sau Hoàng quý phi Vũ Thị Duyên (chức vị cao nhất trong hậu cung lúc bấy giờ).

Tấm sắc phong này hiện nay vẫn được dòng họ Nguyễn Văn lưu giữ một cách trân trọng tại phường Thủy Xuân, Thành phố Huế. Đây là một tấm sắc phong có giá trị với hình thức sang trọng, được thêu hình chim phụng trên nền lụa vàng, chữ viết bằng chữ Hán, nét chân phương. Nội dung của tấm sắc phong thể hiện tình cảm yêu thương sâu sắc của Tự Đức dành cho Học phi:

"Đoái nghĩ Khiêm phi Nguyễn Văn Thị khoan thai trinh tiết- nết hạnh khoan thai, con cái bậc huân thần, răn bảo nết na, phép khuôn nơi cung cấm, chăm lo kính cẩn, sớm được mến thương Khiêm cung gắng giữ. Một lòng kính cẩn, cần mẫn lo toan. Tốt lành một lòng giữ tiết, được trên soi xét. Ân sủng nhất giai hiển vinh, cần được thưởng khen. Nay đặc biệt phong ngươi là Học phi, để ngươi: Cẩn đội sủng ân, kính tuân phép tắc. Lo toan dạy bảo, để sửa sang lề lối nội cung tràn thấm trạch ân, giữ sủng ân trước sau chiếu cố..."[5]

Hoàng thái phi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tự Đức thứ 36 (1883), ngày 16 tháng 6 (tức ngày 19 tháng 7 dương lịch), Tự Đức băng hà. Hoàng đế đã lập di chiếu truyền ngôi lại cho Hoàng trưởng tử Ưng Chân, tức Nguyễn Cung Tông, hay thường gọi là Dục Đức. Theo di chiếu của Tự Đức Đế, sau khi Tiên đế qua đời thì bà Học phi Nguyễn Văn Thị Hương và bà Thiện phi Nguyễn Thị Cẩm lên sống ở Khiêm Lăng để lo toan việc hương khói và cúng kỵ.

Cứ ngỡ rằng cuộc đời bà cứ thế bình lặng trôi qua ở Khiêm Lăng cho đến hết đời, nhưng do đây là thời kì lịch sử đầy biến động, thế sự khó lường với sự kiện Tứ nguyệt Tam vương, với thân phận là một người tần phi, mẹ của hoàng tử, bà Học phi không thể thoát khỏi vòng xoáy của các diễn biến chính trị thời bấy giờ. Dưới sự chuyên quyền của phụ chính đại thần Nguyễn Văn TườngTôn Thất Thuyết, Tự quân (cách gọi khi ấy của đại thần đối với Dục Đức) chỉ nhận ngôi được 3 ngày thì phế, thậm chí ông còn chưa kịp làm lễ lên ngôi. Con út của Nguyễn Hiến Tổ Thiệu Trị, là Hiệp Hòa lên thay cũng chỉ được 4 tháng rồi bị bức tử mà chết.

Ngày 1 tháng 12 năm đó (1883), hoàng tử thứ ba của Tự Đức tự là Ưng Đăng vâng theo ý chỉ của Từ Dụ Hoàng thái hậu lên ngôi, lấy niên hiệuKiến Phúc. Khi ấy, Tân hoàng đế chỉ vừa tròn 15 tuổi. Cuộc đời Học phi lại một lần nữa được thăng hoa, bởi khi Kiến Phúc đế vừa lên ngôi đã cho đón bà vào cung và đưa bà lên một địa vị mới quan trọng và đầy quyền lực, đó là Hoàng thái phi.

Kiến Phúc sai bàn định điển lễ tấn tôn Hoàng thái hậu, Hoàng thái phi và làm sách vàng, con dấu vàng. Lúc này, các bậc hoàng thân vương công và đình thần cùng dâng lời tâu xin theo di chiếu tấn tôn Khiêm hoàng hậu Vũ thị - chính thất của Tự Đức - lên làm Trang Ý Hoàng thái hậu, và tôn Học phi Nguyễn Văn thị làm Hoàng thái phi. Hoàng đế liền xin ý chỉ của Từ Dụ Thái hoàng thái hậu và được chuẩn y. Các công tác liên quan đến việc sắc phong cho Học phi đã được chuẩn bị, dự định sau khi mãn tang triều đình sẽ cử hành nghi lễ.

Vì vậy, mặc dù đến tháng 3 sang năm (1885) bà mới chính thức được tấn tôn nhưng thời gian này các đình thần đã mặc nhiên xem bà là Hoàng thái phi được hưởng mọi quyền lợi và bổng lộc như một Hoàng mẫu, sinh mẫu của Hoàng đế. Trong cung, bà cùng với Trang ý Hoàng thái Hậu và Từ Dụ Thái hoàng thái hậu hợp lại gọi là Tam Cung (三宮), là những người phụ nữ có quyền lực nhất trong triều đình Nguyễn lúc bấy giờ. Theo đó, cứ vào ngày sinh nhật của bà, triều đình tổ chức một cuộc lễ mừng rất trọng thể gọi là Diên Xuân tiết, nghi lễ không khác gì một Hoàng thái hậu vậy.

Kết cục[sửa | sửa mã nguồn]

Đang ở trên địa vị tột đỉnh vinh quang hưởng hết mọi vinh hoa và sự tôn kính của Kiến Phúc, thì bà Học phi đột ngột rơi xuống vực thẳm bởi cái chết của vua Kiến Phúc vào ngày 31 tháng 7 năm sau (1884). Khi ấy, nội cung và dân chúng cho đến ngày nay vẫn lưu truyền một nghi án cho rằng: Học phi, mẹ nuôi của Kiến Phúc có tư tình với Phụ chính Đại thần Nguyễn Văn Tường, hai người đã âm mưu đầu độc Kiến Phúc khi Hoàng đế đang lâm trọng bệnh.

Đại Nam thực lục, một bộ chính sử quan trọng của triều Nguyễn, đề cập đến cái chết của Kiến Phúc như sau: “Giáp Thân, năm Kiến Phúc thứ 1 (1884), ngày mồng 10 Nhâm Ngọ, bệnh kịch, giờ ngọ hôm ấy Đế mất ở chính tẩm điện Càn Thành”[6]. Như vậy, bộ sử này hay chính sử của triều Nguyễn không đề cập chi tiết nào bất thường về cái chết của Kiến Phúc. Nhưng không hiểu xuất phát từ đâu một câu chuyện ly kỳ về vấn đề này đã được thêu dệt và truyền miệng cho đến ngày nay. Thậm chí trong gia phả của Hoàng tộc Nguyễn (Nguyễn Phúc tộc thế phả) đã đề cập rất cụ thể về vụ án này. Nguyễn Phúc tộc Thế phả viết:

"Một hôm, nhân vua bị bệnh, Tường ban đêm tự tiện vào thăm rồi ngồi nói chuyện với Học phi, vua nhìn thấy quở mắng Tường: “Thấy đừng tưởng gươm nhà Nguyễn không sắc”. Tường thấy nguy bèn đến Thái Y viện bốc một thang thuốc dâng lên. Hôm sau thì vua mất"[7].

Đây tuy chỉ là một nghi án được xếp vào hàng thâm cung bí sử không rõ thực hư thế nào, nhưng dù sử sách cố tình ém nhẹm, thì bia miệng của người đời quyết không thể bỏ qua[8]. Cho nên, chuyện có hay không mối quan hệ mờ ám giữa bà Học phi và quan Đại thần Nguyễn Văn Tường vẫn còn được bàn cãi cho đến ngày nay.

Sau khi Kiến Phúc đế mất, một người con nuôi khác của Tự Đức do Thiện phi Nguyễn Thị Cẩm nuôi dưỡng, tên là Nguyễn Phúc Biện lên ngôi lấy niên hiệu là Đồng Khánh. Ngay lập tức, triều đình lấy lý do rằng huy hiệu Hoàng thái phi của bà Nguyễn Văn Thị Hương là do quyền thần tự tấn tôn chứ không phải là di mệnh của tiên triều nên cho đình lại giáng về vị thứ Học phi như cũ, đồng thời Diên Xuân tiết và tên húy cũng cho hủy đi[9]. Từ đó về sau, không thấy sử sách đề cập gì về cuộc đời của bà nữa.

Lăng mộ[sửa | sửa mã nguồn]

Những người cháu, chắt của bà cho biết có lẽ sau khi Kiến Phúc đế mất thì khoảng 2-3 năm sau bà cũng bệnh mà chết[10], chấm dứt cuộc đời huy hoàng nhưng không ít thăng trầm của một bà phi trong cung nhà Nguyễn.

Điều may mắn đối với bà là Học phi Văn Thị Hương được thờ chung với các phi tần khác của Tự Đức ở Chí Khiêm đường (nay chuyển đến Lương Khiêm Điện, Khiêm Lăng – lăng của Tự Đức). Lăng của bà toạ lạc tại làng Dương Xuân Thượng, tỉnh Thừa Thiên – Huế (cách thành phố Huế 7 km về hướng Tây). Lăng nằm khiêm tốn trên một quả đồi nhỏ về phía Tây Bắc của lăng Tự Đức. Cấu trúc của lăng mang nhiều đặc điểm tương đồng với các lăng hoàng hậu khác ở Huế với 3 tầng sân ở phía trước, hai lớp bửu thành bao bọc, bên trong có nhà bia, tẩm, bình phong tiền, bình phong hậu. Tuy nhiên các chi tiết trang trí ở bình phong, nhà bia thể hiện sự vụng về, thiếu chỉn chu của một công trình thuộc kiến trúc cung đình. Đường nét ghép các mảnh không được sắc xảo, một khác biệt so với các lăng tẩm của các hoàng hậu khác. Đặc biệt nhà bia của khu lăng thiết trí một tấm bia bằng đá Thanh, nhưng nội dung của bia không rõ ràng và hoàn toàn khác biệt so với các bia đá thông thường thuộc quần thể di tích triều Nguyễn. Tấm bia chỉ ghi vỏn vẹn một dòng chữ Hán: 前朝學妃阮文氏谥徽順之寢 (Tiên Triều Học phi Nguyễn Văn Thị Thụy Huy Thuận Chi Tẩm - Tẩm của bà Học phi họ Nguyễn Văn Thị thụy Huy Thuận thuộc tiền triều). Ngoài ra, mặt dù đã tìm kiếm rất cẩn thận nhưng cũng không thể nào tìm thấy dòng lạc khoản nào ghi lại ngày dựng lăng, lập mộ.

Những bà vợ khác của Tự Đức Đế, mang danh phận thấp hơn bà Học phi rất nhiều (tài nhân, cung nga, cung nhân) nhưng đến khi khuất núi vẫn được chôn cất trong khu lăng mộ chung (lăng Đọa Khê hay còn gọi là Lăng 15 liếp) và được Từ Dụ Thái Hoàng Thái Hậu viết lời đề tựa trên văn bia. Vậy thì vì sao một phi tần phẩm hàm Nhất giai của Tự Đức Đế, mẹ nuôi của Kiến Phúc đế, nhưng cuối cùng đến lúc nằm xuống chỉ được một dòng chữ trên văn bia? Phải chăng đây là một bản án mà bà Học phi Nguyễn Văn Thị Hương buộc phải gánh chịu? Tất cả đều im lặng như số phận của bà sau khi vua Kiến Phúc qua đời.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ - Tục biên: Năm Tự Đức thứ 36, kị húy chữ Nguyệt; 《欽定大南會典事例續編》卷三十二 禮部十六·禁條·敬避諱字:(嗣德三十六年)奉硃批皇母諱二字(一字上從禾下從日,一字左從丿右從月)欽此。
  2. ^ PGS – TS Đỗ Bang, Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886) – Cuộc đời và lời giải, Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Huế - ĐH Huế & Hội Khoa học lịch sử, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, 2003
  3. ^ Phạm Khắc Hòe, “Từ Dục Đứcn Kiến Phúc”, Kể chuyện vua quan nhà Nguyễn, Nhà xuất bản Thuận Hóa Huế
  4. ^ Hội đồng trị sự Nguyễn Phúc tộc, Nguyễn Phúc tộc thế phả, Nhà xuất bản Thuận Hóa Huế, 1995
  5. ^ Bửu Kế, Kể chuyện triều Nguyễn, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế, 1990
  6. ^ Phan Khoang, Việt Nam Pháp thuộc sử (1884 - 1945), Khai Trí, Sài Gòn, 1961
  7. ^ Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Kinh sư, Dịch giả Tu Trai Nguyễn Tạo, Nha Văn hóa, Bộ quốc gia Gíao dục xuất bản
  8. ^ Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Đại Nam thục lục, tập 32, Bản dịch của Viện Sử học, Nhà xuất bản KHXH, Hà Nội, 1975
  9. ^ Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ Tục biên, Tập 5, 6, bản dịch của Viện Sử học, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội 2007
  10. ^ Nguyễn Bá Trác, Hoàng Việt giáp tí niên biểu, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1963