Bước tới nội dung

Học thuyết quân sự

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Học thuyết quân sự là cách diễn đạt về việc lực lượng vũ trang đóng góp như thế nào cho các chiến lược, chiến dịch lớn, các trận đánh và các cuộc giao chiến. Một học thuyết quân sự nêu rõ nên dùng những phương tiện quân sự nào, tổ chức lực lượng ra sao, triển khai lực lượng ở đâu và các phương thức hiệp đồng giữa các binh chủng như thế nào.[1] “Học thuyết liên quân” (joint doctrine) là các học thuyết được nhiều lực lượng đa quốc gia hoặc các quân chủng trong cùng một quân đội chia sẻ và điều chỉnh cho thống nhất.[2]

Có ba nhóm lớn của học thuyết quân sự: (1) Học thuyết tiến công nhằm trừng phạt/đánh trả đối phương; (2) Học thuyết phòng ngự nhằm ngăn chặn/triệt tiêu khả năng của đối phương; (3) Học thuyết răn đe nhằm làm đối phương mất ý chí hoặc khả năng sử dụng vũ lực. Các học thuyết khác nhau tạo ra hệ quả khác nhau đối với chính trị quốc tế; ví dụ, học thuyết tiến công thường dẫn tới chạy đua vũ trang và xung đột.[1]

Định nghĩa học thuyết

[sửa | sửa mã nguồn]

Định nghĩa học thuyết quân sự của NATO, được nhiều nước thành viên dùng:[3]

Năm 1998, Lục quân Canada nêu:[4]

Năm 1948, một nghiên cứu của Không quân Hoa Kỳ định nghĩa chức năng của học thuyết quân sự là: “Những khái niệm, nguyên tắc, chính sách, chiến thuật, kỹ thuật, thông lệ và thủ tục thiết yếu để tổ chức, huấn luyện, trang bị và sử dụng các đơn vị tác chiến và bảo đảm một cách hiệu quả.”[5]

Một bài luận của Lục quân Hoa Kỳ năm 2016 cũng định nghĩa học thuyết quân sự “bao gồm tactics, techniques, and procedures (TTPs)” tức chiến thuật, kỹ thuật và thủ tục.[6]

Năm 2005, Gary Sheffield (Khoa Nghiên cứu Quốc phòng, King’s College London/JSCSC) trích định nghĩa năm 1923 của J. F. C. Fuller:[7]

Năm 1965, Từ điển các thuật ngữ quân sự cơ bản của Liên Xô định nghĩa học thuyết quân sự là: “Hệ thống quan điểm được nhà nước chính thức chấp nhận, có cơ sở khoa học, về bản chất của các cuộc chiến tranh hiện đại và việc sử dụng lực lượng vũ trang trong đó… Học thuyết quân sự có hai mặt: chính trị–xã hội và kỹ thuật–quân sự.”[8] Mặt chính trị–xã hội “bao quát mọi vấn đề về phương pháp luận, nền tảng kinh tế và xã hội, mục tiêu chính trị của chiến tranh. Đây là mặt có tính quyết định và ổn định hơn.” Mặt kỹ thuật–quân sự phải phù hợp với mục tiêu chính trị; nó gồm xây dựng cơ cấu lực lượng, trang bị kỹ thuật cho quân đội, huấn luyện, và xác định các hình thức, phương tiện tiến hành tác chiến và chiến tranh nói chung.[9]

Quan hệ giữa học thuyết và chiến lược

[sửa | sửa mã nguồn]

Học thuyết quân sự là một thành phần chủ chốt của đại chiến lược.[1]

Định nghĩa của NATO về “chiến lược” là: “Trình bày cách thức sức mạnh quân sự cần được phát triển và vận dụng để đạt các mục tiêu quốc gia hoặc của một nhóm quốc gia.”[10] Định nghĩa chính thức của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ: “Chiến lược là một ý tưởng thận trọng hoặc tập hợp các ý tưởng về việc sử dụng các công cụ sức mạnh quốc gia theo cách đồng bộ và tích hợp để đạt mục tiêu quốc gia hay đa quốc gia.”[11]

Chiến lược quân sự cung cấp cơ sở lý giải cho các hoạt động quân sự. Thống chế Alan Brooke (Tổng tham mưu trưởng Lục quân Đế quốc, đồng Chủ tịch Ủy ban Tham mưu trưởng Liên hợp Anh–Mỹ trong phần lớn Thế chiến II) mô tả nghệ thuật của chiến lược quân sự như sau: “rút ra từ mục tiêu [chính sách] một chuỗi mục tiêu quân sự cần đạt; đánh giá các mục tiêu này theo những yêu cầu quân sự mà chúng tạo ra và các điều kiện tiên quyết có thể cần để đạt từng mục tiêu; đo lường nguồn lực hiện có và tiềm năng so với các yêu cầu đó; và từ quá trình này vạch ra một mô hình ưu tiên mạch lạc cùng một lộ trình hành động hợp lý.”[12]

Ngược lại, học thuyết nhằm cung cấp khung khái niệm chung cho một quân chủng, trả lời các câu hỏi:

  • ta tự nhìn nhận mình là ai
  • sứ mệnh của ta là gì
  • cách thực hiện sứ mệnh
  • cách chúng ta đã thực hiện trong lịch sử?
  • và các câu hỏi khác.[13]


Tương tự, học thuyết không phải là tác chiến chiến dịch hay chiến thuật; nó là khung khái niệm gắn kết cả ba cấp độ chiến tranh.

Học thuyết phản ánh đánh giá chuyên môn của sĩ quan quân sự (và ở mức độ nhỏ hơn nhưng quan trọng, của lãnh đạo dân sự) về những gì có thể và cần thiết về mặt quân sự.[14]

Các yếu tố cần cân nhắc gồm có:

  • công nghệ quân sự
  • địa lý quốc gia
  • năng lực của đối phương
  • năng lực của chính tổ chức mình.[15]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. 1 2 3 Posen, Barry (1984). The Sources of Military Doctrine: France, Britain, and Germany Between the World Wars (bằng tiếng Anh). Cornell University Press. tr. 13–24. ISBN 978-0-8014-1633-0.
  2. "Allied Joint Doctrine" (PDF). Allied Joint Publication (AJP)-01(D) (bằng tiếng English). Brussels: NATO. tháng 12 năm 2010. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2022.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  3. NSA 2013, tr. 83.
  4. Canada Department of National Defence. The Conduct of Land Operations B-GL-300-001/FP-000, 1998: iv–v.
  5. To Analyze the USAF Publications System for Producing Manuals (Staff study) (bằng tiếng English). Air University, Evaluation Division. ngày 13 tháng 7 năm 1948.{{Chú thích báo cáo}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
    Futrell, Robert Frank (tháng 12 năm 1989). Ideas, Concepts, Doctrine: Basic Thinking in the United States Air Force, 1907–1960 (bằng tiếng English). Maxwell AFB, Alabama: Air University Press.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  6. Spencer, John (ngày 21 tháng 3 năm 2016). "What is Army Doctrine?". Modern War Institute. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2022.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  7. Sheffield, Gary (tháng 5 năm 2005). "Doctrine & Command in the British Army: A Historical Overview". Army Doctrine Publication: Land Operations (bằng tiếng English). Directorate General Doctrine & Development (DGD&D), British Army. tr. 165.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  8. Moscow: Voenizdat, 1965, quoted in Odom, 1988
  9. A. Beleyev, "The Military-Theoretical Heritage of M. V. Frunze", Krasnaya Zvezda (Red Star), November 4, 1984, quoted in Odom, 1988
  10. NSA 2013, tr. 136.
  11. Command Strategy 2016 (PDF). U.S. Southern Command (Báo cáo) (bằng tiếng English). United States Southern Command. 2016. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2008.{{Chú thích báo cáo}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  12. British Defence Doctrine, Edition 3, 2008
  13. Grint; Jackson (2010). "Toward "Socially Constructive" Social Constructions of Leadership". Management Communication Quarterly (bằng tiếng English). 24 (2).{{Chú thích tập san học thuật}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  14. Long, Austin (2016). The Soul of Armies: Counterinsurgency Doctrine and Military Culture in the US and UK. Ithaca: NY: Cornell University Press. tr. 20. ISBN 9780801453793.
  15. Posen, Barry R. (1984). The Sources of Military Doctrine: France, Britain, and Germany Between the World Wars (bằng tiếng English). Ithaca, NY: Cornell University Press. tr. 13. ISBN 0-8014-9427-3.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)