Hồ Nguyên Trừng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Hồ Nguyên Trừng
胡元澄
Hoàng tử Việt Nam (chi tiết...)
Tả tướng quốc Đại Ngu
Tại vị 1400 - 1407
Thời vua Hồ Quý Ly
Hồ Hán Thương
Thông tin chung
Tên đầy đủ Tự: Mạnh Nguyên (孟源)
Hiệu: Nam Ông (南翁)
Tước hiệu Vệ vương (衞王)
Vệ quốc đại vương (衛國大王)
Thân phụ Hồ Quý Ly
Thân mẫu Nguyễn thị (?)
Sinh 1374
Đại Việt
Mất 1446
Đế quốc Minh
An táng Nam An Hà, Bắc Kinh, Trung Quốc

Hồ Nguyên Trừng (chữ Hán: 胡元澄, 1374 - 1446), biểu tự Mạnh Nguyên (孟源), hiệu Nam Ông (南翁), sau đổi tên thành Lê Trừng[1] là một nhà chính trị, quân sự, tôn thất hoàng gia Đại Ngu, con trưởng của vua Hồ Quý Ly và là anh vua Hồ Hán Thương. Ông nổi bật là một nhà kỹ thuật quân sự, công trình sư lỗi lạc.

Cuối thời Trần, Hồ Quý Ly làm phụ chính thái sư, nắm mọi việc trong triều, Nguyên Trừng nhận chức Tư đồ. Sau khi nhà Hồ thành lập, ông nhận chức Tả tướng quốc, cùng chú là Hữu tướng quốc Hồ Quý Tỳ đứng hàng tể tướng. Năm 1407-1407, đế quốc Minh xâm lược Đại Ngu, vua Hồ Hán Thương sai Tả tướng quốc Trừng cầm quân chống lại. Đại Việt Sử ký Toàn thư, bộ quốc sử Đại Việt thời kể Hồ Nguyên Trừng đã trực tiếp chỉ huy nhiều trận đánh như Lãnh Kinh (1406), trận phòng thủ sông Cái, cùng các trận phản công sông Lô và cửa Hàm Tử (1407). Trừ trận Lãnh Kinh là thắng lợi khó nhọc của quân Đại Ngu, các trận đánh do Hồ Nguyên Trừng chỉ huy đều thất bại. Tháng 5 âm lịch năm 1407, Hồ Nguyên Trừng bị bắt về Trung Quốc cùng với thượng hoàng Hồ Quý Ly, vua Hồ Hán Thương, hữu tướng quốc Hồ Quý Tỳ. Về sau, ông được nhà Minh sung vào Công bộ làm quan, được nhà Minh gọi là Hỏa khí chi thần (火器之神)[2]. Ngoài ra ông còn là nhà văn Việt Namthế kỷ 15, với tác phẩm tự kể Nam Ông mộng lục.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hồ Nguyên Trừng, trước để họ Lê, người huyện Vĩnh Phúc, lộ Thanh Hoa (nay thuộc tỉnh Thanh Hóa)[3]. Ông là con trai cả của Lê Quý Ly, và là anh của Lê Hán Thương cùng Lê Thánh Ngâu. Mẹ ông có thể là một người thiếp, vì vợ cả của Quý Ly là Huy Ninh công chúa Trần thị chỉ sinh một nam một nữ, đó là Hán Thương và Thánh Ngâu. Trong tập Nam Ông mộng lục, ông có nói ngoại tổ phụ tên Nguyễn Thánh Huấn (阮聖訓), vốn là một người rất hay thơ đời Trần, nên mẹ của ông có lẽ là Nguyễn phu nhân. Tuy nhiên, câu viết trong bài là "Trừng thái phụ chi ngoại tổ viết: Nguyễn Công"[4], có lẽ chưa chắc ngoại tổ phụ của Trừng họ Nguyễn, mà là ngoại tổ của ông nội Trừng mới là họ Nguyễn. Còn tồn nghi vấn.

Từ thời vua Trần Nghệ Tông (giữa ngôi 1370-72, thượng hoàng 1372-94), Lê Quý Ly là em họ bên ngoại của nhà vua, nên được cất nhắc làm quan. Lê Quý Ly thăng tiến rất nhanh, đến năm 1387 được bổ làm Đồng bình chương sự, tức tể tướng. Được sự tin tưởng và chống lưng của thượng hoàng Trần Nghệ Tông, Lê Quý Ly nắm quyền lực gần như tuyệt đối; các tôn thất và quan lại trung thành với triều Trần đã nhiều lần làm chính biến nhằm lật đổ Lê Quý Ly, nhưng đều thất bại và nhiều người bị giết, trong đó có vua Trần Phế Đế.

Sau khi giết Trần Phế Đế năm 1388, thượng hoàng Nghệ Tông lập con út là Chiêu Định vương Ngung lên ngôi, tức vua Trần Thuận Tông. Lê Quý Ly tiếp tục nắm quyền quyết định trong triều. Tháng 11 âm lịch năm 1394, triều đình bỏ cơ quan Đăng văn kiểm pháp viện, đặt Thượng lâm tự, bổ Lê Nguyên Trừng làm Phán tự sự. Tháng 12 âm lịch năm này, thượng hoàng chết. Lê Quý Ly ép Thuận Tông phong làm Nhập nội phụ chính thái sư bình chương quân quốc trọng sự, Tuyên Trung vệ quốc đại vương, đeo lân phù vàng.

Năm 1399, Lê Quý Ly giết vua Trần Thuận Tông, lập thái tử An 3 tuổi lên thay, tức Trần Thiếu Đế. Tháng 6 âm lịch năm này, Quý Ly tự phong làm Quốc Tổ Chương Hoàng, mặc áo màu bồ hoàng, ra vào cung Nhân Thọ có 12 chiếc lọng vàng, theo lệ của thái tử. Quý Ly phong con trưởng là Nguyên Trừng làm Tư đồ, còn thứ là Hán Thương làm Nhiếp thái phó.

Mùa xuân năm 1400, dù vua Trần Thiếu Đế còn tại ngôi, Lê Quý Ly lập con thứ là Lê Hán Thương làm thái tử, đây là 1 bước quan trọng trong quá trình thâu tóm ngôi vua của Quý Ly. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, tuy Lê Nguyên Trừng là con cả nhưng mẹ không phải Huy Ninh công chúa, mà Hán Thương lại là con của công chúa, nên Quý Ly muốn chọn Hán Thương làm rhái tử, nhưng ý mãi chưa quyết, mới mượn cái nghiên đá mà nói rằng: "Thử nhất quyển kỳ thạch, hữu thì vi vân vũ dĩ nhuận sinh dân" (Hòn đá lạ bằng nắm tay này, có lúc làm mây làm mưa để nhuần thấm sinh dân), bảo con trưởng là Trừng đối lại để xem chí hướng ra sao.

Trừng đối lại rằng: "Giá tam thốn tiểu tùng, tha nhật tác đống tác lương dĩ phù xã tắc" (Cây thông nhỏ mới ba tấc kia, ngày sau làm rường cột để chống nâng xã tắc). Bấy giờ, Hồ Quý Ly ý mới quyết định.

Ngày 28 tháng 2 âm lịch năm 1400, Lê Quý Ly bức Trần Thiếu Đế nhường ngôi. Lê Quý Ly đổi sang họ Hồ, lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Thánh Nguyên, đổi tên nước thành Đại Ngu. Nhà Hồ thành lập. Không lâu sau, nhà vua phong Hồ Nguyên Trừng làm Tả tướng quốc (左相國), tước hiệu Vệ vương (衞王)[5].

Tháng 12 âm lịch năm 1407, Hồ Quý Ly nhường ngôi cho thái tử Hồ Hán Thương. Hán Thương lên ngôi Hoàng đế, tôn vua cha làm Thái thượng hoàng. Hồ Nguyên Trừng tiếp tục làm Tả tướng quốc, cùng chú là Hữu tướng quốc Hồ Quý Tỳ coi việc nước.

Theo Minh thực lục, toàn tước vị của Hồ Nguyên Trừng khi bị bắt là: Thôi Thành Thủ Chánh Dực Tán Hoằng Hóa công thần, Vân Truân Trấn Kiêm Quy Hóa Trấn Gia Hưng đẳng Trấn Chư quân sự Tiết Độ đại sứ, Thao Giang Quản nội Quan sát xử Trí đẳng sử, Sử Trì Tiết Vân Truân Quy Hóa Gia Hưng Đẳng Trấn Chư quân sự, Lĩnh Đông Lộ Thiên Trường Phủ Lộ Đại Đô đốc phủ, Đặc tiến, Khai phủ nghi đồng tam ti, Nhập nội Kiểm giáo, Tả tướng quốc, Bình chương quân quốc sự, Tứ Kim Ngư Đại, Thượng trụ quốc, Vệ Quốc Đại Vương[6][7].

Chiến tranh Minh-Đại Ngu[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khi nhà Hồ cai trị Đại Ngu, ở phương Bắc, đế quốc Minh-Trung Quốc đã phất lên rất mạnh dưới sự cai trị của Minh Thành Tổ. Minh Thành Tổ nhiều lần bộc lộ ý muốn xâm chiếm Đại Ngu, qua việc cử người do thám, ép vua Hồ Hán Thương phải cắt đất ở biên giới, và chi viện thủy quân cho Chiêm Thành ở phía Nam chống Đại Ngu. Tháng 9 âm lịch năm 1405, vua Hồ Hán Thương chấn chỉnh quân đội, xây dựng thành lũy, đóng cọc trên sông,... để đề phòng quân Minh. Nhà vua còn mời An phủ sứ các lộ về Tây Đô, cùng triều đình bàn nên đánh hay hòa. Trong cuộc thảo luận, có người nói đánh, có người như trấn thủ Bắc Giang Nguyễn Quân muốn tạm hòa, riêng Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng phát biểu:

Thượng hoàng Hồ Quý Ly nghe vậy, mới ban thưởng cho ông một hộp trầu bằng vàng. Sử quan đời Lê sơ Ngô Sĩ Liên trong bộ Đại Việt Sử ký Toàn thư đã nhận xét về lời phát biểu của Hồ Nguyên Trừng:[8].

Tháng 4 âm lịch năm 1406, Minh Thành Tổ viện cớ phục ngôi cho Trần Thiêm Bình (tên thật Nguyễn Khang, giả mạo làm con thứ 3 của Trần Nghệ Tông), sai Chinh Nam tướng quân Hữu quân đô đốc đồng tri Hàn Quan và Tham tướng đô đốc đồng tri Hoàng Trung mang 10 vạn quân từ Quảng Tây đánh Đại Ngu. Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng đem đại quân đón đánh ở ải Lãnh Kinh. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, quân Đại Ngu thấy địch ít quân nên khinh suất, để bị thảm bại. 4 đại tướng Đại Ngu là Phạm Nguyên Khôi (nhị vệ đại tướng), Chu Bỉnh Trung (chỉ huy quân Chấn Cương), Trần Huyên Huyên (chỉ huy quân Tam Phụ), Trần Thái Bộc (chỉ huy quân Tả Thần Dực) đều chết trận. Hồ Nguyên Trừng bỏ thuyền lên bờ, suýt bị quân Minh bắt, có người thấy vậy liền dìu ông xuống thuyền, nhờ vậy ông thoát. Sau tướng Hồ Vấn đem quân Tả Thánh Dực từ Vũ Cao tới đánh úp, phá được quân Minh. Hoàng Trung đợi đến trống canh hai nửa đêm thì bỏ chạy. Vua Hồ Hán Thương đã sai tướng Hồ Xạ chỉ huy quân Hữu Thánh Dực, tướng Trần Đĩnh chỉ huy quân Thánh Dực Bắc Giang khóa chân địch tại cửa ải Chi Lăng. Quân Minh đành giao nộp Trần Thiêm Bình cho Đại Ngu để được rút về nước. Sau vua Hồ xử lăng trì Trần Thiêm Bình.

Năm 1407, Minh Thành Tổ lại sai Chinh Di phó tướng quân Tân thành hầu Trương Phụ, Chinh Di tả phó tướng quân Tây bình hầu Mộc Thạnh mang 80 vạn quân xâm lược Đại Ngu. Đến tháng 11, quân Minh không gặp sự kháng cự nào đáng kể, hai đạo quân hội quân ở Bạch Hạc, bày doanh trại ở bờ bắc sông Cái, đến tận Trú Giang. Hồ Hán Thương sai đại quân đóng đối diện với doanh trại quân Minh, quân ở sông Cái do Hồ Nguyên Trừng chỉ huy, quân ở Trú Giang do Thiêm văn triều chính Hồ Đỗ chỉ huy. Phía ngoài liên kết chiến hạm của thủy quân, trên bờ thì quân bộ đóng. Việc ông lập một phòng tuyến chống giặc bắt đầu bằng cứ điểm then chốt Đa Bang (Ba Vì) kéo dài theo bờ Nam Sông Đà, sông Hồng cho đến sông Ninh (Nam Hà) rồi lại tiếp tục theo bờ sông Luộc, sông Thái Bình đến Bình Than dài trên 400 km. Hồ Nguyên Trừng cũng sáng tạo ra cách đánh độc đáo: ông cho đúc nhiều dây xích lớn chăng qua những khúc sông hiểm trở, kết hợp với quân mai phục trang bị bằng hỏa lực mạnh. Hồ Nguyên Trừng tổ chức những xưởng đúc súng lớn. Ông đã phát minh, chế tạo ra nhiều loại súng có sức công phá mạnh. Từ việc cải tiến súng, chế thuốc súng, hiểu rõ sức nổ của thuốc đạn Hồ Nguyên Trừng phát minh ra phương pháp đúc súng mới gọi là súng "thần cơ".[2]

Ngày 20 tháng 2 âm lịch năm 1407, Hồ Nguyên Trừng đem quân phản công ở sông Lô, quân Minh từ 2 bên bờ sông đánh kẹp lại, Hồ Nguyên Trừng thất trận, chạy về giữ cửa Muộn. Hai vua Hồ đều lui về Thanh Hóa. Các tướng Hồ Đỗ, Hồ Xạ tời Bình Than qua Thái Bình, Đại Toàn tới cửa Muộn giúp Hồ Nguyên Trừng dựng chiến lũy, chế tạ hỏa khí, thuyền chiến và kêu gọi dân góp tiền, ai làm theo sẽ được gả con gái tôn thất và được thưởng 10 mẫu ruộng.

Ngày 12 tháng 5 năm Đinh Hợi (tức 17 tháng 6 năm 1407), cả ba cha con ông và người cháu là Hồ Nhuế (con Hồ Hán Thương) đều bị quân nhà Minh bắt tại Kỳ La (Kỳ Anh, Hà Tĩnh), rồi bị áp giải về Kim Lăng (Nam Kinh, Trung Quốc). Kể từ đó, nhà Hồ mất, cả nước Việt rơi vào ách thống trị của nhà Minh. Minh Thành Tổ sau khi hỏi tội cha con Hồ Quý Ly trước triều, đã tha tội cho Hồ Nguyên Trừng và các con nhỏ trong gia đình.[9]

Năm 1426, đời Minh Tuyên Tông, Lê Trừng (tức Hồ Nguyên Trừng sau khi được tha tội) làm việc cho bộ Công của nhà Minh. Ông bị vạch tội lên vua Minh vì làm việc 9 năm mà không khai báo lý lịch. Vua Minh cho rằng ông đã được Minh Thành Tổ tha tội nên không truy cứu.[10] Năm 1428, ông được thăng tới chức Tả thị lang của bộ Công, được trả lương bằng gạo.[11]

Biết được Hồ Nguyên Trừng (và Hồ Nhuế) có tài năng, vua Minh Anh Tông cho ân xá, nhưng buộc phải đổi họ khác (vì không thừa nhận gia đình ông là dòng dõi Ngu Thuấn[12]). Vì vậy ở sách Nam Ông mộng lục, tác giả đề tên là Lê Trừng (黎澄, đổi lại họ Lê như cũ).

Sau, ông chế tạo được súng thần công [13], nên lại được làm quan ở bộ Công, thăng đến chức Tả thị lang như lời ông đề ở cuối bài Tựa trong quyển Nam Ông mộng lục. Trong Vân đài loại ngữ, Lê Quý Đôn nhắc đến một tình tiết: "quân Minh khi làm lễ tế súng đều phải tế Trừng".[2]

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Minh sử, thì Hồ Nguyên Trừng được thăng chức Công bộ Thượng thư (1445) được một năm thì mất, thọ 73 tuổi.

Nguyên văn trong sách như sau (dịch):

Năm thứ 10 (Chính Thống), Kỷ Sửu (đúng ra là Ất Sửu, 1445), Lê Trừng, vương tử An Nam, nhậm chức (Công bộ thượng thư) vào tháng 6, chuyên lo cung cấp các thứ đồ dùng cho nội phủ. Bính Dần (1446), năm thứ 11, tháng 7, Trừng chết [14].

Sau đó, triều Minh cho con ông là Lê Thúc Lâm (黎叔林; trước đó đang làm Chuyển vận sứ ở Diêm vận ty tỉnh Sơn Đông) làm Trung thư xá nhân, tiếp tục lo việc chế tạo quân khí.

Hiện mộ phần Lê Trừng (tức Hồ Nguyên Trừng), Lê Thúc Lâm và Lê Thế Ninh (黎世寧; con của Thúc Lâm, cũng làm quan cho triều Minh) đều ở tại thôn Nam An Hà, thuộc thành phố Bắc Kinh (Trung Quốc) ngày nay [15].

Đóng góp[sửa | sửa mã nguồn]

Khi sống cuộc đời lưu vong ở Trung Quốc, Hồ Nguyên Trừng đã soạn ra cuốn Nam Ông mộng lục (Chép lại những giấc mộng của Nam Ông), gồm 31 thiên, nhưng hiện chỉ còn 28 thiên. Đây là tập hồi ký chữ Hán đầu tiên và là tác phẩm đầu tiên mở đường cho khuynh hướng viết về "người thực, việc thực" trong văn xuôi tự sự Việt Nam [16].

Bên cạnh đó, ông còn là nhà kỹ thuật quân sự tài ba. Theo sử liệu, khi còn ở trong nước, do nhu cầu quân sự, ông đã sáng chế và chỉ đạo chế tác súng thần cơ (hỏa pháo cải tiến) và thuyền cổ lâu (thuyền chiến lớn có hai tầng)[17] Cho nên sau này ông được vua Minh thu dụng để lo việc chế tạo súng [18].

Ngoài ra, ông còn là người lo việc đắp những con đê lớn, đào một số kênh và vét lại một số con sông nhằm phục vụ các hoạt động về giao thông, thủy lợi và quân sự. Đặc biệt, những công trình kiến trúc ở thời nhà Hồ, chẳng hạn như thành Tây Đô đồ sộ… đều do ông chỉ huy xây dựng [19].

Tên Hồ Nguyên Trừng đã được đặt cho một con đường ở thị trấn Phong Điền (tỉnh Thừa Thiên-Huế)[20] và ở hai quận Hải Châu, Cẩm Lệ (thành phố Đà Nẵng).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ eoff Wade, translator, Southeast Asia in the Ming Shi-lu: an open access resource, Singapore: Asia Research Institute and the Singapore E-Press, National University of Singapore, http://epress.nus.edu.sg/msl/reign/xuan-de/year-1-month-3-day-17-1, accessed January 23, 2017
  2. ^ a ă â Hồ Nguyên Trừng (Ông tổ của nghề đúc súng thần công Việt Nam), http://kyluc.vn
  3. ^ Chép theo Từ điển văn học (bộ mới), tr. 638.
  4. ^ Nguyên văn: 澄太父之外祖曰阮公
  5. ^ Cứ theo 《Quốc các》 (國榷) của người Minh: 說胡元澄被俘時,其稱號是「偽衞王」,見卷十四,成祖永樂五年九月乙卯條,北京中華書局版,995頁。
  6. ^ Nguyên văn: 推誠守正翊贊弘化功臣、雲屯鎮兼歸化鎮嘉興等鎮諸軍事節度大使、洮江管內觀察處置等使、使持節雲屯歸化嘉興等鎮諸軍事、領東路天長府路大都督府、特進、開府儀同三司、入內檢校、左相國、平章軍國事、賜金魚袋、上柱國、衛國大王
  7. ^ 《明實錄‧太宗文皇帝實錄》卷七十一
  8. ^ Theo Đại Việt sử ký toàn thư (Bản kỷ, Quyển 8, tờ 49 b), tr. 212.
  9. ^ Geoff Wade, translator, Southeast Asia in the Ming Shi-lu: an open access resource, Singapore: Asia Research Institute and the Singapore E-Press, National University of Singapore, http://epress.nus.edu.sg/msl/reign/yong-le/year-5-month-9-day-5, accessed January 23, 2017
  10. ^ Geoff Wade, translator, Southeast Asia in the Ming Shi-lu: an open access resource, Singapore: Asia Research Institute and the Singapore E-Press, National University of Singapore, http://epress.nus.edu.sg/msl/reign/xuan-de/year-1-month-3-day-17-1, accessed January 23, 2017
  11. ^ Geoff Wade, translator, Southeast Asia in the Ming Shi-lu: an open access resource, Singapore: Asia Research Institute and the Singapore E-Press, National University of Singapore, http://epress.nus.edu.sg/msl/reign/xuan-de/year-3-month-1-day-2, accessed January 23, 2017
  12. ^ Chi tiết này căn cứ theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (tr. 277). Thông tin thêm: Lê Quý Ly sở dĩ đổi sang họ Hồ vì tự nhận mình là dòng dõi vua Thuấn. Xem chi tiết ở trang Hồ Quý Ly.
  13. ^ Việc Hồ Nguyên Trừng chế tạo ra súng thần công, chép theo Từ điển lịch sử Việt Nam (tr. 277).
  14. ^ Theo Minh sử tân hiệu (Academia Sinica, Đài Loan, Quyển 111, Biểu 12, Thất Khanh niên biểu, bảng 3418-3419: Công bộ Thượng thư). Suy ra, ông sinh năm 1373 hoặc 1374. Ở Wikipedia tiếng Trung Quốc ghi ông sinh năm 1374, mất năm 1446. Tuy nhiên, nhiều sách ở Việt Nam đều không ghi hoặc ghi là không rõ năm sinh và năm mất của ông. Riêng phần tước phong cuối cùng, theo GS. Nguyễn Huệ Chi thì sau khi ông mất, triều Minh mới cho truy phong hàm Thượng thư bộ Công cho ông (Từ điển văn học, bộ mới, tr. tr. 638).
  15. ^ Theo Minh Hiến Tông thực lục, Quyển 66, tờ 4.A, trang 1329. Trung ương nghiên cứu viện, Đài Loan, xuất bản năm 1985.
  16. ^ Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, mục từ "Nam Ông mộng lục" (bản điện tử) và Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại (Tập 1, tr. 137).
  17. ^ Sử thần Ngô Sĩ Liên đã mô tả loại thuyền này như sau: "Thuyền đinh sắt này có hiệu là Trung tàu tải lương, Cổ lâu thuyền tải lương, chỉ mượn tiếng chở lương thôi, nhưng bên trên có đường sàn đi lại để tiện việc chiến đấu. Bên dưới thì hai người chèo một mái chèo" (Sách ở mục tham khảo, tr. 209).
  18. ^ Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, mục từ "Hồ Nguyên Trừng" và Đại cương lịch sử Việt Nam (Tập 1, tr. 255).
  19. ^ Theo Nguyễn Huệ Chi, Từ điển văn học (bộ mới), tr. 638.
  20. ^ Nghị quyết số 21/NQ-HĐND ngày 10 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, khoá VI, kỳ họp thứ 5 về đặt tên đường thị trấn Phong Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế đợt I.

Sách tham khảo chính[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư (Tập II). Bản dịch do nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1985.
  • Nguyễn Huệ Chi, mục từ " Hồ Nguyên Trừng " trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
  • Nguyễn Q. Thắng-Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, mục từ "Hồ Nguyên Trừng". Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1992.
  • Trương Hữu Quýnh (Chủ biên)-Phan Đại Doãn-Nguyễn Cảnh Minh, Đại cương lịch sử Việt Nam (Tập I). Nhà xuất bản Giáo dục, 2007.