Hổ Khâu Thiệu Long

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search

Thiện Long(1077-1136) (紹隆) là một thiền sư thuộc Lâm Tế Tông, nối pháp Thiền Sư Viên Ngộ. Từ sư đã thành lập một chi nhánh gọi là Hổ Khâu Phái. Cơ phong của sư nhạy bén, Pháp thiền của sư cũng được truyền qua Nhật Bản và cũng hưng thịnh.Sư có đệ tử nối pháp là Ứng Am Đàm Hoa

Cơ duyên hành đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Sư vốn là người Hàm Sơm, Hào Châu (tỉnh An Huy), Trung Quốc. Năm 9 tuổi sư bắt đầu nghiên cứu kinh sách Luật tạng tại Viện Luật Tuệ. Sư từng tham vấn thiền với các thiền sư như Thiền Sư Tịnh chiếu Sùng tín ở Trường lô, rồi lần lượt tham vấn các Thiền Sư Trạm Đường Văn Chuẩn ở núi Bảo Phong và Tử Tâm Ngộ Tân núi Hoàng Long. Sau đến Giáp Sơn (tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc) tham học với Thiền Sư Viên Ngộ khoảng 20 năm và nối pháp của Viên Ngộ.Sự ngộ đạo của được ghi lại như sau:

Sau khi thiền sư Viên Ngộ tịch, sư cùng Sư Nhã Bình biên soạn ngữ lục về Thiền Sư Viên Ngộ.

Năm Kiến viêm thứ 4 (1130), sư trụ Vân nham thiền tự ở núi Hổ khâu tại Bình giang, mở rộng Thiền phong của ngài Viên ngộ, người đương thời gọi sư là Hổ khâu Thiệu long, lâu ngày bèn trở thành một phái, tức phái Hổ khâu.

Sư có để lại Tác phẩm Thiền: Hổ Khâu Thiệu Long Thiền Sư Ngữ Lục(虎丘紹隆禪師語錄) 1 quyển, do sư biên soạn ấn hành vào năm Vạn lịch 20 (1592), được thu vào Vạn tục tạng tập 120. Nội dung sách này gom chép các pháp ngữ ở Khai thánh thiền viện tại Hòa châu, Chương giáo thiền viện tại Tuyên châu, Hổ khâu Vân nham thiền viện tại phủ Bình giang; và các bài: Sơ tổ tán, Tống Lâm tế chính truyền Hổ khâu Long hòa thượng tháp minh, v.v

Năm Thiệu hưng thứ 6 (1136), sư thị tịch, thọ 60 tuổi (có thuyết nói 65 tuổi).

Hổ Khâu Phái[sửa | sửa mã nguồn]

Hổ Khâu phái do thiền sư Thiện Long thành lập và Phái Đại Huệ(do Thiền Sư Đại Huệ thành lập) vốn là 2 chi nhánh chính của Phái Dương Kỳ(Là một phái Thiền trong Lâm Tế Tông cùng với Phái Hoàng Long). Pháp thiền của sư thâm sâu bí mật nên chỉ có một đệ tử hội được đạo là Ứng Am Đàm Hoa. Sau thì phát triển, dưới Đàm Hoa có 8 vị đắc pháp. Nổi bật là 2 vị:

  • Mật Am Hàm Kiệt
  • Hòa Sơn Tâm Giám

Từ đời sau đạo pháp trở nên hưng thinh như dưới ngài Mật am có nhiều vị cao tăng xuất hiện như: Phá am Tổ tiên, Tùng nguyên Sùng nhạc, Tào nguyên Đạo sinh, v.v... 

Đến đời nhà Nguyên trở về sau, phái này được truyền sang Nhật Bản đến nay vẫn còn

Nguồn tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Dumoulin, Heinrich:
Geschichte des Zen-Buddhismus I. Indien und China, Bern & München 1985.
Geschichte des Zen-Buddhismus II. Japan, Bern & München 1986.
  • Cảnh Đức Truyền Đăng Lục(30 quyển, sa môn Đạo Nguyên đời Tống biên soạn).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]