Hổ Sumatra

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Hổ Sumatra
Sumatran Tiger Berlin Tierpark.jpg
Một con hổ Sumatra được nuôi nhốt ở Đức
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Carnivora
Họ (familia) Felidae
Chi (genus) Panthera
Loài (species) P. tigris
Phân loài (subspecies) P. t. sumatrae
Danh pháp ba phần
Panthera tigris sumatrae
Pocock, 1929
Bản đồ phân bố
Bản đồ phân bố

Hổ Sumatra (danh pháp hai phần: Panthera tigris sumatrae) là một phân loài hổ nhỏ nhất còn sống sót, được tìm thấy ở đảo Sumatra (Indonesia). Quần thể hoang dã có khoảng 400 đến 500 con, nằm chủ yếu ở 5 vườn quốc gia trên đảo.

Tiến hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Phân tích ADN phù hợp với giả thuyết rằng loài hổ Sumatra đã bị phân lập từ các quần thể hổ khác sau khi mực nước biển dâng lên ở biên giới Pleistocen và Holocen khoảng 12.000-6.000 năm trước. Trong thỏa thuận với lịch sử tiến hóa này, loài hổ Sumatra bị cô lập về mặt di truyền từ tất cả các loài hổ sống trên đất liền, tạo thành một nhóm riêng biệt liên quan chặt chẽ với nhau.

Điểm đặc trưng[sửa | sửa mã nguồn]

Một con hổ Sumatra được nuôi nhốt ở Mỹ.

Hổ Sumatra có kích thước nhỏ nhất trong các loài hổ, kích thước của chúng chỉ nhỉnh hơn một con báo. Con đực có chiều dài 2.2-2.5 m và nặng từ 100–140 kg, chiều dài hộp sọ là từ 295–335 mm. Con cái nhỏ hơn, dài từ 215–230 cm và nặng từ 75–110 kg với chiều dài hộp sọ từ 263–294 mm.

Dù có kích thước nhỏ, hổ Sumatra đủ sức săn được những con mồi lớn như đồng loại của nó ở những nơi khác. Cú đánh từ chân trước của nó có thể làm gãy chân của những loài gia súc như trâu hay ngựa.

Phân bố và môi trường sống[sửa | sửa mã nguồn]

Loài hổ Sumatran tồn tại trong quần thể cô lập trên khắp đảo Sumatra. Chúng chiếm một phạm vi rộng của môi trường sống, từ rừng đất thấp ven biển của Vườn quốc gia Bukit Barisan Selatan ở mũi phía đông nam của tỉnh Lampung đến khu vực có độ cao 3.200 m so với mực nước biển (10.500 ft) trong rừng núi của Vườn quốc gia Gunung Leuser ở tỉnh Aceh. Chúng đã được chụp liên tục ở độ cao 2.600 m (8.500 ft) trong một khu vực gồ ghề của miền bắc Sumatra, và hiện diện trong 27 sinh cảnh khác nhau trên diẹn tích hơn 250 km2 (97 dặm vuông).

Năm 1978, số lượng hổ Sumatra được ước tính là 1.000 cá thể, dựa trên một cuộc khảo sát. Năm 1985, tổng cộng 26 khu bảo tồn trên khắp đảo Sumatra có khoảng 800 con hổ đã được xác định. Vào năm 1992, ước tính có 400-500 con hổ sống trong năm vườn quốc gia và hai khu bảo tồn.

Vào thời điểm đó, quần thể lớn nhất, bao gồm 110-180 cá thể, được báo cáo từ Vườn quốc gia Gunung Leuser. Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây cho thấy Vườn quốc gia Kerinci Seblat ở miền trung Sumatra có số lượng hổ cao nhất trên đảo, ước tính là 165-190 cá thể. Công viên cũng được chứng minh là có tỷ lệ lấp đầy cao nhất trong các khu bảo tồn, với 83% công viên có dấu vết của hổ. Nhiều loài hổ ở Vườn Quốc gia Kerinci Seblat hơn ở Nepal, và nhiều hơn ở Trung Quốc, Lào, Campuchia và Việt Nam cộng lại.

Tập tính[sửa | sửa mã nguồn]

Một con hổ Sumatra con
Một con hổ Sumatra

Như loài báo đốm Mỹ và tất cả các phân loài hổ, hổ Sumatra không sợ nước và bơi giỏi. Đặc biệt của loại này là nó có màng chân giữa các ngón chân. Hiện nay các nông dân đã nhận ra lợi ích của hổ Sumatra khi chúng săn những con heo rừng hay phá hoại mùa màng.

Dù có ngoại hình không lớn, hổ Sumatra vẫn là loài động vật ăn thịt đầu bảng trong môi trường sống của mình. Chúng thường săn hươu, nai, lợn rừng, heo vòi Malaysia, mang, khỉ Macaca, cheo cheo Nam Dương. Chúng sống ở các khu vực có nhiều sông, hồ, ẩm ướt và có nhiều bụi rậm.

Mối đe dọa[sửa | sửa mã nguồn]

Một nhóm người bẫy thành công một con hổ trong một cuộc săn hổ ở Sumatra năm 1895

Việc thử nghiệm gen gần đây đã phát hiện ra sự tồn tại của các dấu hiệu gen duy nhất, chỉ ra rằng nó có thể phát triển thành các loài riêng biệt, nếu nó không bị làm cho tuyệt chủng.[2] Điều này dẫn tới giả thiết là hổ Sumatran có tầm quan trọng lớn hơn trong việc bảo tồn hơn bất kỳ một nòi nào khác. Sự phá hủy môi trường sống là mối đe dọa chính tới sự tồn tại của quần thể này (việc săn bắt thậm chí còn diễn ra trong các vườn quốc gia nằm dưới sự bảo vệ), 66 con đã bị bắn giết trong những năm từ 1998 tới 2000 - gần 20% của tổng số hổ. Khoảng 400-5000 cá thể hổ Sumatra hoang dã được cho là tồn tại tại thời điểm năm 1998 nhưng số lượng liên tục sụt giảm.[3]
Hổ Sumatra thường bị mắc bẫy của người dân đặt để giết heo rừng và những cái bẫy của những tên săn trộm. Hổ Sumatra còn bị đánh độc và bắn giết tàn bạo.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Linkie, M., Wibisono, H. T., Martyr, D. J., Sunarto, S. (2008). “Panthera tigris ssp. sumatrae”. Sách Đỏ IUCN các loài bị đe dọa. Phiên bản 2011.2. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2014. 
  2. ^ Cracraft J., Feinstein J., Vaughn J., Helm-Bychowski K. (1998). “Sorting out tigers (Panthera tigris) Mitochondrial sequences, nuclear inserts, systematics, and conservation genetics”. Animal Conservation 1: 139–150. doi:10.1111/j.1469-1795.1998.tb00021.x. 
  3. ^ Save the Tiger Fund

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]