Hổ phù

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hổ phù ở lăng mộ Triệu Văn vương.

Hổ phù[1] (chữ Hán: 虎符) là một tín vật của nhà binh.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hổ phù được hiểu nôm na là cái bùa hình con hổ, vì là tín vật của các thống soái nên còn có tên gọi khác là binh phù (兵符). Lịch sử của hổ phù khởi nguyên từ thời Tây Chu[2], đó là khối kim loại nhỏ bằng bàn tay tạo tác hình con hổ nằm phục[3], thường bằng đồng đen, hi hữu mới có vàng hoặc bạc, trên lưng hổ còn có thể khắc chữ. Thứ nghi trượng này được sử dụng như sau: Dọc sống lưng xẻ hổ làm đôi, nửa phải do vua giữ và nửa trái trao cho tướng lĩnh mệnh đi tham chiến[4]; nếu không có hổ phù thì thống soái không có quyền điều binh khiển tướng. Bởi phẩm chất quan trọng đó, đã có không ít trường hợp bại trận chỉ vì đánh mất hổ phù.

Dư âm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hổ phù được xác thực là nguồn gốc của chữ "phù hợp" (符合).
  • Quần thể lăng Thái sư Trần Thủ Độ ở thôn Ngừ[5][6] (nguyên danh: Phù Ngự / 符御村) có một pho tượng hổ bằng đá còn vẹn nguyên dù lăng đã hỏng nát.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • 《史记·魏公子列传》
  • 阳陵,秦代郡名,即今陕西高陵县。