Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (tiếng Anh: Vietnam Women’s Union, viết tắt VWU) là một tổ chức chính trị, xã hội của phụ nữ Việt Nam, mục đích hoạt động vì sự bình đẳng, phát triển của phụ nữ.

Hội là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thành viên của Liên đoàn phụ nữ Dân chủ quốc tếLiên đoàn các tổ chức phụ nữ ASEAN.

Từ những tổ chức tiền thân cho đến ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội đoàn kết, vận động, tập hợp rộng rãi các tầng lớp phụ nữ, phát huy truyền thống yêu nước, anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Mục lục

Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm[sửa | sửa mã nguồn]

Hội có chức năng đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ, tham gia xây dựng Đảng, tham gia quản lý Nhà nước. Ngoài ra Hội còn đoàn kết, vận động phụ nữ thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vận động xã hội thực hiện bình đẳng giới.

Hội có các nhiệm vụ sau:

1. Tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, lý tưởng cách mạng, phẩm chất đạo đức, lối sống; đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước;
2. Vận động các tầng lớp phụ nữ chủ động, tích cực thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; vận động, hỗ trợ phụ nữ nâng cao năng lực, trình độ, xây dựng gia đình hạnh phúc; chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ;
3. Tham mưu đề xuất, tham gia xây dựng, phản biện xã hội và giám sát việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ, gia đình và trẻ em;
4. Xây dựng, phát triển tổ chức Hội vững mạnh;
5. Đoàn kết, hợp tác với phụ nữ các nước, các tổ chức, cá nhân tiến bộ trong khu vực và thế giới vì bình đẳng, phát triển và hòa bình.

Lịch sử hình thành và phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1930-1936: Tổ chức Phụ nữ Giải phóng dần hình thành, thu hút đông đảo phụ nữ tham gia vào cao trào đấu tranh cách mạng (điển hình là Xô viết Nghệ Tĩnh).Tổ chức đã tuyên truyền, vận động phụ nữ tham gia đấu tranh đòi quyền lợi kinh tế, đòi cải thiện đời sống, chống áp bức của đế quốc phong kiến.
  • 1936-1938: Trước yêu cầu của cách mạng, Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 8/1937 về công tác vận động phụ nữ đặt ra nhiệm vụ chống phát xít, chống chiến tranh bằng hình thức công khai, hợp pháp.

Vì vậy, tổ chức cách mạng của phụ nữ được đổi thành Hội phụ nữ Dân chủ.Hội đã tuyên truyền đường lối, quan điểm của Đảng về giải phóng phụ nữ, nam nữ bình đẳng và tổ chức các hoạt động gắn với tính chất ngành nghề của phụ nữ để đấu tranh đòi tự do dân chủ, đòi quyền lợi cho phụ nữ như: hội Ái hữu, hội Truyền bá quốc ngữ.

  • 1939-1941: Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Đảng chủ trương: "Vận động phụ nữ tổ chức các hội phụ nữ phản chiến, các hội cứu tế, bảo an, để giúp đỡ nhau... chống đế quốc chiến tranh, đòi hoà bình".Để phù hợp với tình hình, Hội lấy tên là Hội phụ nữ Phản đế. Hội đã vận động chị em tham gia mít tinh, biểu tình, lập các hội cứu tế, bảo an, tham gia chống bắt lính với khẩu hiệu chống đế quốc chiến tranh, đòi hoà bình, đòi bồi thường chiến tranh.
  • 1941-1945: Đoàn Phụ nữ Cứu quốc được thành lập. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đoàn Phụ nữ cứu quốc đã vận động các tầng lớp phụ nữ gia nhập Mặt trận Việt Minh, gia nhập các đoàn thể cứu quốc đánh Pháp, đuổi Nhật, xây dựng và bảo vệ cơ sở cách mạng. Phụ nữ là lực lượng hùng hậu, đóng góp lớn vào thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945.
  • Ngày 20 tháng 10 năm 1946, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam chính thức được thành lập gồm nhiều đoàn thể phụ nữ trong đó Đoàn Phụ nữ Cứu quốc là tổ chức trụ cột, lãnh đạo phong trào phụ nữ trong cả nước, góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Pháp (1946-1954).
  • Ngày 18-29/4/1950: Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ Nhất. Đoàn Phụ nữ Cứu quốc hợp nhất với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Bà Lê Thị Xuyến được bầu là Chủ tịch Hội. Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam là thành viên của Liên đoàn phụ nữ dân chủ quốc tế.
  • Ngày 8/3/1961, Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng miền Nam Việt Nam thành lập, là một tổ chức phân nhánh độc lập của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Bà Nguyễn Thị Định được bầu làm Chủ tịch.
  • Năm 1976, Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng miền Nam Việt Nam và Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam hợp nhất lại thành một tổ chức thống nhất là Hội Liên Hiệp Phụ nữ Việt Nam.
  • Từ 1976 đến nay, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam lớn mạnh không ngừng, là tổ chức chính trị- xã hội nòng cốt, đóng góp to lớn vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, Hội đã đạt được những bước tiến dài trên con đường tạo lập vị thế bình đẳng cho phụ nữ Việt Nam.

Các cuộc vận động và phong trào thi đua[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ giành chính quyền (1939-1945)[sửa | sửa mã nguồn]

Thời gian 1941- 1945, để gấp rút chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền, phụ nữ đã tích cực tham gia các phong trào đánh Pháp, đuổi Nhật, phá kho thóc giải quyết nạn đói... Hội phụ nữ vận động các hội viên bí mật xây dựng và bảo vệ cơ sở cách mạng. Nhờ vậy, phong trào phụ nữ lớn mạnh cùng cách mạng cả nước, góp phần vào thắng lợi Cách mạng tháng Tám.

Thời kỳ chống Pháp (1945-1954)[sửa | sửa mã nguồn]

Đoàn phụ nữ Cứu quốc đã vận động các tầng lớp phụ nữ thực hiện phong trào: Phụ nữ học cày bừa, tăng gia sản xuất đảm bảo cho bộ đội "ăn no đánh thắng", mua công phiếu kháng chiến, phong trào Đời sống mới, Hội mẹ chiến sỹ được tổ chức ở khắp nơi… Hoạt động của Hội đã góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam và xây dựng CNXH ở miền Bắc (1954- 1975)[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3/1961, Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ III họp tại Hà Nội đã phát động phong trào thi đua 5 tốt với các nội dung: Đoàn kết sản xuất, tiết kiệm tốt, chấp hành chính sách tốt, tham gia quản lý tốt, học tập chính trị, văn hoá, kỹ thuật tốt, xây dựng gia đình nuôi dạy con tốt. Tiếp đó, tháng 3/1965, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động phong trào Ba đảm đang với các nội dung: Đảm đang sản xuất và công tác, đảm đang gia đình, đảm đang phục vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu.

Ở miền Nam, tại Đại hội lần thứ nhất Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng miền Nam (3/1965), Hội đã phát động phong trào thi đua 5 tốt với nội dung: Đoàn kết đấu tranh chính trị, võ trang, binh vận tốt; Lao động sản xuất, tiết kiệm tốt; Chăm sóc, nuôi dưỡng thương bệnh binh; Học tập văn hoá, chính trị, chuyên môn tốt; Rèn luyện tư cách đạo đức tốt. Phụ nữ miền Nam đã anh dũng thi đua giết giặc, trong gian nan vẫn một lòng trung kiên, bất khuất.

Thời kỳ 1975-1985[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1976, các tổ chức Phụ nữ ở hai miền (6/1976) được hợp nhất thành Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội đã phát động phong trào giáo dục động viên phụ nữ cả nước tham gia cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Trong nhiệm kỳ Đại hội phụ nữ lần V (1982- 1987), Hội LHPN VN phát động hai cuộc vận động Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đìnhNuôi dạy con tốt, góp phần hạn chế trẻ em suy dinh dưỡng và bỏ học.

Thời kỳ Đổi mới (1986-nay)[sửa | sửa mã nguồn]

Hai cuộc vận động Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đìnhNuôi dạy con tốt, góp phần hạn chế trẻ em suy dinh dưỡng và bỏ học vẫn tiếp tục được duy trì gắn với các nhiệm vụ của phụ nữ trong thời kỳ Đổi mới.

Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ VIII (1997) quyết định điều chỉnh, phát triển 2 phong trào thi đua được phát động từ Đại hội V thành Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình hạnh phúcPhụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình, cần kiệm xây dựng đất nước; Phong trào Giỏi việc nước, đảm việc nhà tiếp tục được thực hiện trong nữ công nhân viên chức; Phong trào "Ngày tiết kiệm vì Phụ nữ nghèo" được phát triển thành "Hỗ trợ Phụ nữ tạo việc làm, tăng thu nhập".

Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ IX (năm 2002) đã phát động phong trào thi đua Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc. Đến Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ X (2007) phong trào này tiếp tục được duy trì gắn với thực hiện Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; vận động các tổ chức, cá nhân ủng hộ xây dựng "Mái ấm tình thương" cho phụ nữ nghèo.

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Lâm Đồng tại 31, đường Quang Trung, thành phố Đà Lạt.

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, liên hiệp, thống nhất hành động.

Cơ quan lãnh đạo Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp do bầu cử lập ra, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam gồm 4 cấp:

  • Trung ương;
  • Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và tương đương (gọi chung là cấp tỉnh);
  • Huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và tương đương (gọi chung là cấp huyện);
  • Xã, phường, thị trấn và tương đương (gọi chung là cấp cơ sở).

Cơ quan chuyên trách Hội cấp Trung ương, tỉnh, huyện là cơ quan tham mưu giúp việc cho Ban Chấp hành, Đoàn Chủ tịch hoặc Ban Thường vụ cùng cấp.

Cơ quan lãnh đạo các cấp[sửa | sửa mã nguồn]

1. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Hội là Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc.

2. Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là Đại hội đại biểu hoặc Đại hội toàn thể hội viên của cấp đó.

3. Giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo mỗi cấp Hội là Ban Chấp hành cùng cấp.

4. Giữa hai kỳ họp Ban Chấp hành, cơ quan lãnh đạo là Đoàn Chủ tịch hoặc Ban Thường vụ cùng cấp.

Ban lãnh đạo đương nhiệm[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ tịch: Nguyễn Thị Thanh Hòa, Ủy viên BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

Phó Chủ tịch: Hoàng Thị Ái Nhiên, Phó Chủ tịch Thường trực

Nguyễn Thị Tuyết

Bùi Thị Hòa

Trần Thị Hương

Chủ tịch Trung ương Hội qua các thời kỳ:[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Lê Thị Xuyến, Chủ tịch khóa I
  2. Nguyễn Thị Thập, Chủ tịch khóa II, III, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ưong, Nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, Nguyên Trưởng ban Phụ vận Trung ương Đảng, người phụ nữ đầu tiên được tặng Huân chương Sao Vàng
  3. Hà Thị Quế, Chủ tịch khóa IV, Ủy viên BCH Trung ương Đảng khóa III, IV; Đại biểu Quốc hội khóa II, III, IV, V, VI; Phó Chủ tịch Liên đoàn Phụ nữ Quốc tế
  4. Nguyễn Thị Định, Chủ tịch khóa V, VI, Ủy viên BCH Trung ương Đảng khóa IV, V, VI; Đại biểu Quốc hội khóa VI, VII, VIII; Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Nước CHXH Chủ nghĩa Việt Nam, Nữ tướng đầu tiên của QĐND Việt Nam, Nguyên Phó Tư lệnh Quân giải phóng Miền Nam VIệt Nam
  5. Trương Mỹ Hoa, Chủ tịch khóa VII, Bí thư BCH Trung ương Đảng khóa IX, Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Nước CHXHCN Việt Nam
  6. Hà Thị Khiết, Chủ tịch khóa VIII, IX; Bí thư BCH Trung ương Đảng khóa X, XI; Ủy viên BCH Trung ương khóa VII, VIII, IX, Đại biểu Quốc hội , Nguyên Bí thư Tỉnh ủy Tuyên Quang, Trưởng ban Dân vận Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

2. Phó Chủ tịch Trung ương Hội[sửa | sửa mã nguồn]

Các kỳ đại hội đại biểu toàn quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Đại hội các cấp được tổ chức năm năm một lần. Trường hợp đặc biệt do Hội cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định theo quy định. Đại hội chỉ hợp lệ khi có ít nhất 2/3 số đại biểu được triệu tập tham dự.

Đại hội lần thứ I (nhiệm kỳ 1950-1956)[sửa | sửa mã nguồn]

Đại hội diễn ra từ ngày 14 đến ngày 19 tháng 4 năm 1950 tại Chiến khu Việt Bắc, Đại Từ, Thái Nguyên. Dự Đại hội có 168 đại biểu chính thức, đại diện cho 5 triệu hội viên và 10 triệu phụ nữ Việt Nam (có Việt kiều ở Pháp, Thái Lan tham dự).Đại hội vinh dự đón Chủ tịch Hồ Chí Minh và cụ Lê Đình Thám – chủ tịch Mặt trận Liên Việt đến dự.

Đại hội I có ý nghĩa lịch sử vì đã hợp nhất Đoàn phụ nữ Cứu quốc và Hội LHPN Việt Nam thành một tổ chức duy nhất của phụ nữ, lấy tên là Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam.

Nội dung:

  • Đánh giá thành tích, đề ra 10 nhiệm vụ mới.
  • Thông qua Báo cáo, các Quyết nghị về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Hội phụ nữ, thông qua Chương trình, Điều lệ của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tuyên ngôn, Hiệu triệu gửi toàn thể phụ nữ Việt Nam.
  • Đại hội bầu Ban chấp hành Trung ương Hội LHPN Việt Nam khóa I gồm 32 ủy viên.
Chủ tịch: bà Lê Thị Xuyến.
Các Phó chủ tịch: bà Hoàng Thị Ái, Lê Thu Trà và bà Nguyễn Thị Thục Viên.

Đại hội lần thứ II (nhiệm kỳ 1956-1961)[sửa | sửa mã nguồn]

Đại hội diễn ra từ ngày 26 đến ngày 31 tháng 5 năm 1956 tại thủ đô Hà Nội. Dự Đại hội có hơn 700 đại biểu phụ nữ trong nước và Việt kiều ở nước ngoài (trong đó có hơn 400 đại biểu chính thức). Tham dự Đại hội có 6 đoàn đại biểu phụ nữ quốc tế. Đồng chí Trường Chinh -Tổng Bí thư Ban chấp hành Đảng lao động Việt Nam, đồng chí Tôn Đức Thắng -Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng, Phó Thủ tướng Phan Kế Toại đã đến dự Đại hội.

Nội dung:

  • Nghe báo cáo của Hội và đoàn đại biểu miền Nam tập kết ra Bắc, đề ra 5 chương trình hoạt động.
  • Thảo luận và thông qua Báo cáo, Chương trình, Nghị quyết, Tuyên ngôn, Điều lệ sửa đổi.
  • Bầu 49 ủy viên và dành số lượng 8 ủy viên sẽ bổ sung sau (5 ủy viên cho đại biểu miền Nam, 3 ủy viên cho đại biểu kiều bào nước ngoài).
Chủ tịch: bà Nguyễn Thị Thập.
Các Phó chủ tịch: bà Lê Thị Xuyến, Nguyễn Thị Thục Viên, Hoàng Thị Ái, Bùi Thị Cẩm và bà Hà Thị Quế.

Đại hội lần thứ III (nhiệm kỳ 1961-1974)[sửa | sửa mã nguồn]

Đại hội diễn ra từ ngày 8 đến ngày 11 tháng 3 năm 1961 tại thủ đô Hà Nội. Tham dự có 450 đại biểu chính thức, đại diện cho gần 4,5 triệu hội viên trong cả nước và 19 đoàn đại biểu phụ nữ quốc tế. Chủ tịch Hồ Chí MinhThủ tướng Phạm Văn Đồng đã đến dự Đại hội.

Nội dung:

  • Đánh giá thành tích đã đạt được, đề ra 3 nhiệm vụ lớn.
  • Phát động phong trào thi đua 5 tốt.
  • Bầu Ban chấp hành Trung ương khoá III gồm 67 ủy viên.
Chủ tịch: bà Nguyễn Thị Thập được bầu lại.
Các Phó chủ tịch: bà Lê Thị Xuyến, Nguyễn Thị Thục Viên, Hoàng Thị Ái, Hà Thị Quế và bà Hà Giang.

Đại hội lần thứ IV (nhiệm kỳ 1974-1982)[sửa | sửa mã nguồn]

Đại hội diễn ra từ ngày 4 đến ngày 7 tháng 3 năm 1974 tại thủ đô Hà Nội. Tham dự đại hội có 596 đại biểu chính thức đại diện cho trên 5 triệu hội viên trên cả nước. Đoàn đại biểu Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng Miền Nam Việt Nam do đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam, Chủ tịch Hội dẫn đầu. Dự Đại hội còn có 26 đoàn đại biểu phụ nữ thế giới. Đại hội vinh dự đón Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng và đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đến dự và phát biểu chỉ đạo.

Nội dung:

  • Đánh giá thành tích đạt được, đề ra 6 nhiệm vụ cụ thể.
  • Quyết định lấy ngày 20/10/1930 là ngày thành lập Hội LHPN Việt Nam.
  • Đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh hạng Nhì do Nhà nước trao tặng cho toàn thể phụ nữ Việt Nam.
  • Bầu Ban chấp hành Trung ương khoá IV gồm 75 ủy viên.
Chủ tịch: bà Hà Thị Quế.
Các Phó chủ tịch: bà Lê Thị Xuyến, Hà Giang, Nguyễn Thị Minh Nhã và bà Vũ Thị Chín.

Đại hội lần thứ V (nhiệm kỳ 1982-1987)[sửa | sửa mã nguồn]

Diễn ra từ ngày 19 đến ngày 20 tháng 5 năm 1982 tại Thủ đô Hà Nội. Tham dự Đại hội có 800 đại biểu chính thức đại diện cho hơn 9 triệu hội viên và 25 triệu phụ nữ trong cả nước). Dự Đại hội có 9 đoàn đại biểu phụ nữ quốc tế. Đại hội vinh dự đón đồng chí Phạm Văn Đồng, ủy viên Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đến dự và phát biểu chỉ đạo.

Nội dung:

  • Đánh giá các thành tựu đạt được, đề ra nhiệm vụ mới.
  • Bầu Ban chấp hành Trung ương Hội khoá V gồm 109 ủy viên.
Chủ tịch: bà Nguyễn Thị Định.
Các Phó chủ tịch: bà Nguyễn Thị Như, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Thanh, và bà Ngô Bá Thành.

Đại hội lần thứ VI (nhiệm kỳ 1987-1992)[sửa | sửa mã nguồn]

Đại hội diễn ra từ ngày 19 đến ngày 20 tháng 5 năm 1987 tại Thủ đô Hà Nội. Tham dự Đại hội có 700 đại biểu chính thức đại diện cho hơn 10 triệu hội viên và 28 triệu phụ nữ trong cả nước. Đại hội vinh dự đón đồng chí Nguyễn Đức Tâm, Uỷ viên Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, đồng chí Trường Chinh, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước; đồng chí Phạm Văn Đồng, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đến dự.

Nội dung:

  • Đánh giá các tầng lớp phụ nữ đã thể hiện lòng yêu nước, tinh thần lao động trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
  • Nhấn mạnh 8 nội dung phụ nữ cần thực hiện trong công cuộc đổi mới.
  • Phát động hai cuộc vận động "Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình" và "Nuôi dạy con tốt, góp phần hạn chế trẻ em suy dinh dưỡng và bỏ học".
  • Bầu Ban chấp hành Trung ương Hội khoá VI gồm 98 ủy viên
Chủ tịch: bà Nguyễn Thị Định được bầu lại.
Các Phó chủ tịch: bà Nguyễn Thị Thân, Trần Thị Thanh Thanh, Trương Mỹ Hoa, Ngô Bá Thành, Hoàng Xuân Sính.

Đại hội lần thứ VII (nhiệm kỳ 1992-1997)[sửa | sửa mã nguồn]

Đại hội diễn ra từ ngày 18 đến 20-5-1992 tại Thủ đô Hà Nội. Dự Đại hội có 760 đại biểu chính thức đại diện cho hơn 10 triệu hội viên và 33 triệu phụ nữ cả nước. Đại hội vinh dự đón các đồng chí: Đỗ Mười, Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng; Võ Chí Công, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước; Võ Văn Kiệt, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng; Lê Quang Đạo, Chủ tịch Quốc hội đến dự.

Nội dung:

  • Khẳng định: các cấp Hội đã có những bước đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động, do đó phong trào phụ nữ đã góp phần quan trọng trong công cuộc đổi mới đất nước.
  • Đề ra các mục tiêu và phương hướng nhiệm vụ của phong trào phụ nữ những năm 1992-1997 và 5 chương trình công tác trọng tâm.
  • Phát động thực hiện hai phong trào thi đua "Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình", "Nuôi dạy con tốt, góp phần hạn chế trẻ em suy dinh dưỡng và bỏ học" và tiếp tục thực hiện phong trào "Ngày tiết kiệm vì phụ nữ nghèo"
  • Bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa VII gồm 96 ủy viên.
Chủ tịch danh dự: bà Nguyễn Thị Định.
Chủ tịch: bà Trương Mỹ Hoa.
Các Phó chủ tịch: bà Võ Thị Thắng, Vương Thị Hanh và bà Nguyễn Thị Phương Minh.

Đại hội lần thứ VIII (nhiệm kỳ 1997-2002)[sửa | sửa mã nguồn]

Đại hội diễn ra từ ngày 19 đến ngày 20 tháng 5 năm 1997 tại Thủ đô Hà Nội. Dự Đại hội có 900 đại biểu chính thức đại diện cho hơn 10 triệu hội viên và gần 24 triệu phụ nữ cả nước. Tham dự Đại hội còn có 25 đoàn đại biểu phụ nữ quốc tế của 22 nước và đại diện Liên đoàn phụ nữ dân chủ quốc tế, Liên đoàn Ủy ban vì tự do và Liên đoàn các tổ chức phụ nữ ASEAN.

Nội dung:

  • Khẳng định những thành tích đạt được của phong trào phụ nữ và hoạt động của Hội LHPN Việt Nam trong 5 năm (1992-1997).
  • Nhấn mạnh tiếp tục thực hiện 5 chương trình trọng tâm.
  • Phát động phong trào thi đua yêu nước: "Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình hạnh phúc","Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình, cần kiệm xây dựng đất nước".
  • Bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII gồm 130 ủy viên.
Chủ tịch: bà Hà Thị Khiết.
Các Phó chủ tịch: bà Lê Thị Thu, Trương Thị Khuê, Nguyễn Thị Oanh và bà Nguyễn Thị Phương Minh.

Đại hội lần thứ IX (nhiệm kỳ 2002-2007)[sửa | sửa mã nguồn]

Đại hội diễn ra tại Hội trường Ba Đình, Thủ đô Hà Nội từ ngày 22 đến ngày 23 tháng 2 năm 2002. Đại hội có 900 đại biểu chính thức đại diện cho hơn 11 triệu hội viên; các đồng chí: Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Trần Đức Lương, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải đến dự;cùng 19 đoàn, gần 100 đại biểu phụ nữ quốc tế các nước và đại diện Liên đoàn phụ nữ dân chủ quốc tế, Liên đoàn các tổ chức phụ nữ ASEAN...

Nội dung:

  • Khẳng định những thành tích đạt được của phong trào phụ nữ và hoạt động của Hội nhiệm kỳ 1997 - 2001.
  • Kêu gọi phụ nữ cả nước tích cực thực hiện phong trào thi đua yêu nước: "Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc".
  • Thực hiện 6 chương trình trọng tâm.
  • Bầu Ban chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam khoá IX gồm 132 ủy viên.
Chủ tịch: bà Hà Thị Khiết được bầu lại.
Các Phó chủ tịch: bà Lê Thị Thu, Trương Thị Khuê, Nguyễn Thị Oanh, Nguyễn Thị Phương Minh, Nguyễn Thị Thanh Hòa và bà Nguyễn Thị Kim Liên.

Đại hội lần thứ X (nhiệm kỳ 2007-2012)[sửa | sửa mã nguồn]

Đại hội đại biểu Phụ nữ Toàn quốc lần thứ X nhiệm kỳ 2007 - 2012 đã được tổ chức từ ngày 1 đến ngày 4 tháng 10 năm 2007 tại thủ đô Hà Nội. Tham dự Đại hội có gần1.193 đại biểu chính thức, đại diện cho hơn 14 triệu hội viên trong cả nước. Đại hội đã vinh dự được đón Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đến dự và phát biểu ý kiến.

Nội dung:

  • Đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ IX.
  • Đề ra mục tiêu, xác định nhiệm vụ, 8 chỉ tiêu cơ bản và 6 nhiệm vụ, giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động.
  • Thông qua Điều lệ Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam sửa đổi.
  • Tiếp tục phát động phong trào thi đua "Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc"; vận động các tầng lớp phụ nữ sôi nổi hưởng ứng thực hiện phong trào thi đua yêu nước "Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc’’ gắn với thực hiện Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh’’; vận động các tổ chức, cá nhân ủng hộ xây dựng "Mái ấm tình thương cho phụ nữ nghèo".
  • Bầu Ban chấp hành khoá X nhiệm kỳ 2007 - 2012 gồm 154 uỷ viên.
Chủ tịch: bà Nguyễn Thị Thanh Hòa.
Các Phó chủ tịch: bà Đặng Thị Ngọc Thịnh, Nguyễn Thị Kim Thuý, Hoàng Thị Ái Nhiên, H’ Ngăm Niê K Đăm.

Đại hội lần thứ XI (nhiệm kỳ 2012-2017)[sửa | sửa mã nguồn]

Đại hội Đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XI với chủ đề "Đoàn kết - Sáng tạo - Hội nhập - Phát triển" khai mạc ngày 11/3/2012 tại Thủ đô Hà Nội, đúng vào dịp kỷ niệm 102 năm Ngày Quốc tế phụ nữ (8/3/1910 - 8/3/2012) và 1972 năm Khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Dự Đại hội có 979 đại biểu chính thức, đại diện cho hàng chục triệu cán bộ, hội viên phụ nữ, tiêu biểu cho sức mạnh và ý chí vươn lên của các tầng lớp phụ nữ Việt Nam từ các vùng miền của Tổ quốc.

Nội dung:

  • Đánh giá, nhìn nhận về những thành tựu đã đạt được cũng như những hạn chế của nhiệm kỳ 2007 - 2012,
  • Đề ra các nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ mới
  • Thông qua Dự thảo toàn văn Điều lệ Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam sửa đổi bổ sung và Dự thảo nghị quyết đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ XI, các chỉ tiêu cơ bản nhiệm kỳ 2012-2017.
  • Bầu 163 đại biểu vào Ban chấp hành Trung ương Hội LHPN Việt Nam khóa XI
Chủ tịch: bà Nguyễn Thị Thanh Hòa được bầu lại.
Các Phó chủ tịch: bà Nguyễn Thị Kim Thuý, Hoàng Thị Ái Nhiên, Nguyễn Thị Tuyết, Trần Thanh Bình, Nguyễn Thị Thu Hà, Bùi Thị Hòa và bà Trần Thị Hương.

Phụ nữ nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

1. Thời kỳ phong kiến[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Âu Cơ, tổ mẫu người Việt, người sinh ra 100 người con, những vị tổ tiên của người Việt
  2. Hai Bà Trưng, gọi tắt của Trưng Trắc và Trưng Nhị, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống quân xâm lược Đông Hán-cuộc khởi nghĩa đầu tiên trong 1000 năm Bắc thuộc, lập ra Nhà nước độc lập
  3. Bà Triệu, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống quân xâm lược nhà Ngô.
  4. Thái hậu Dương Vân Nga
  5. Nguyên phi Ỷ Lan, người phụ nữ tài năng của nhà Lý, đã hai lần nhiếp chính, lãnh đạo đất nước hưng thịnh.
  6. Huyền Trân công chúa, kết hôn với vua Champa, mở mang hai châu Ô, Lý cho người Việt
  7. Công chúa An Tư, con gái vua Trần Thánh Tông, lấy Thoát Hoan nhằm trì hoãn cuộc tấn công của quân địch
  8. Công chúa Lê Ngọc Hân, con gái vua Lê, tài sắc vẹn toàn, giúp vua Quang Trung trị nước
  9. Công chúa Ngọc Vạn, có công mở đường cho cuộc Nam tiến của người Việt
  10. Nữ tướng Bùi Thị Xuân, tướng giỏi của triều Tây Sơn
  11. Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm
  12. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương
  13. Bà Huyện Thanh Quan
  14. Nguyễn Thị Duệ, nữ Tiến sĩ đầu tiên

2. Thời kỳ hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

1. Nữ chính khách, anh hùng trong chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Nguyễn Thị Minh Khai, vợ của Tổng Bí thư Lê Hồng Phong, người chiến sĩ cách mạng lỗi lạc, đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương tại Đại hội V Quốc tế Cộng sản
  2. Võ Thị Sáu, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, một nữ chiến sĩ anh hùng, chiến đấu và hy sinh cho độc lập, thống nhất của Tổ quốc khi mới 19 tuổi với tinh thần hiên ngang, bất khuất, không chịu đầu hàng trước kẻ thù.
  3. Hoàng Ngân, Bí thư Trung ương Hội Phụ nữ Cứu quốc Việt Nam đầu tiên, người đi đầu trong phong trào phụ nữ Việt Nam
  4. Mạc Thị Bưởi, người được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân trong đợt phong tặng đầu tiên năm 1955
  5. Nguyễn Thị Chiên, Trung tá Quân đội Nhân dân Việt Nam, Nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam
  6. Tạ Thị Kiều, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam
  7. Mẹ Suốt, tức Nguyễn Thị Suốt, Anh hùng lao động Việt Nam, đã chèo đò cho hàng trăm lượt bộ đội, thương binh, đạn dược qua sông Nhật Lệ
  8. Lê Thị Hồng Gấm, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ chống Mỹ cứu nước
  9. Nguyễn Thị Định, nữ tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Phó Tư lệnh Quân giải phóng Miền Nam Việt Nam, lãnh đạo phong trào Đồng KhởiBến Tre
  10. Nhất Chi Mai, người phụ nữ tự thiêu phản đối chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam
  11. Út Tịch, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân , có câu nói nổi tiếng "Còn cái lai quần cũng đánh"
  12. Hồ Kan Lịch, một trong những nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân đầu tiên trên dải Trường Sơn
  13. Đặng Thùy Trâm, liệt sĩ, bác sỹ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, tác giả của Nhật ký Đặng Thùy Trâm nổi tiếng
  14. Nguyễn Thị Bình, Nguyên Phó Chủ tịch Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Trưởng phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Pari, người phụ nữ duy nhất đặt bút ký vào Hiệp định Paris 1973
  15. Nguyễn Thị Xuân Mỹ, nữ Ủy viên Bộ Chính trị đầu tiên, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
  16. Trương Mỹ Hoa, Bí thư Trung ương Đảng khóa IX, Phó Chủ tịch Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Phó Chủ tịch Quốc hội Việt Nam khóa X, Chủ tịch Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
  17. Tòng Thị Phóng, Ủy viên Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, Phó Chủ tịch Quốc hội Việt Nam khóa XIII
  18. Nguyễn Thị Kim Ngân, Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Việt Nam khóa XIII
  19. Nguyễn Thị Doan, Giáo sư, Tiến sĩ, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Chủ tịch Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
  20. Hà Thị Khiết, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Dân vận Trung ương, Chủ tịch Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
  21. Nguyễn Thị Quang Thái, nhà Cách mạng Việt Nam
  22. Lê Thị Thu Ba, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Ban Chỉ đạo Cải cách Tư pháp Trung ương
  23. Võ Thị Thắng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII, IX; Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Việt Nam; người nổi tiếng với "Nụ cười chiến thắng"
  24. Đặng Thị Ngọc Thịnh, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, Đại biểu Quốc hội khóa XIII, Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
  25. Huỳnh Thị Nhân, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X, Phó Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Phó Văn phòng Trung ương
  26. Nguyễn Thị Hằng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam , Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
  27. Trần Thị Trung Chiến, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Y tế
  28. Trần Thị Thanh Thanh, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ trưởng Chăm sóc và bảo vệ Trẻ em
  29. Lê Thị Thu, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Gia đình và Trẻ em
  30. Nguyễn Thị Kim Tiến, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, Bộ trưởng Bộ Y tế
  31. Phạm Thị Hải Chuyền, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X, XI, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
  32. Bùi Thị Minh Hoài, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương
  33. Y Vêng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X, Bí thư Tỉnh ủy Kon Tum
  34. Trần Thị Kim Cúc, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X, Bí thư Tỉnh ủy Tiền Giang
  35. Lê Thị Bân, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Viêt Nam khóa X, Bí thư Tỉnh ủy Tây Ninh
  36. Trương Thị Mai, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề Xã hội của Quốc hội
  37. Nguyễn Thị Nương, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Trưởng ban Công tác Đại biểu Quốc hội, Phó trưởng ban Tổ chức Trung ương
  38. Nguyễn Thị Thanh Hòa, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
  39. Lò Mai Trinh, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bí thư TỈnh ủy Điện Biên
  40. Nguyễn Thị Kim Hồng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương
  41. Ngô Thị Doãn Thanh, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Trưởng ban Dân vận Trung ương
  42. Nguyễn Thị Thu Hà, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh
  43. Ngô Thị Thanh Hằng, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội
  44. Hoàng Thị Thúy Lan, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc
  45. Nguyễn Thị Thanh, Ủy viên Dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình
  46. Lê Thu Hà, Chính ủy Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Nữ Trung tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam
  47. Bùi Tuyết Minh, Giám đốc Công an tỉnh Kiên Giang, Nữ tướng đầu tiên của Công an Nhân dân Việt Nam
  48. Hồ Thủy, Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Giám đốc Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng
  49. Nguyễn Hồng Giang, Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Chính ủy Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
  50. Trần Thị Ngọc Đẹp, Thiếu tướng Công an Nhân dân Việt Nam, Giám đốc Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy thành phố Cần Thơ
  51. Tôn Nữ Thị Ninh, Đại sứ Việt Nam tại EU, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội
  52. Phan Thúy Thanh, người phát ngôn Bộ Ngoại giao, Đại sứ Việt Nam tại Bỉ
  53. Hồ Thể Lan, người phát ngôn Bộ Ngoại giao
  54. Nguyễn Phương Nga, người phát ngôn Bộ Ngoại giao, nữ Thứ trưởng đầu tiên của Bộ Ngoại giao Việt Nam, Đại sứ, Trưởng phái đoàn đại diện Việt Nam tại Liên hợp quốc
  55. Nguyễn Thị Hoàng Anh, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước CHXHCN Việt Nam tại CHLB Đức, Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao
  56. Hồ Đắc Minh Nguyệt, Đại sứ Việt Nam tại Ukraina

2. Nhà khoa học, doanh nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Giáo sư Hoàng Xuân Sính, nữ Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Toán đầu tiên của Việt Nam
  2. Giáo sư Lê Thị Luân, người tạo ra nhiều Vắc xin của Việt Nam
  3. Giáo sư Lưu Lệ Hằng, giáo sư thiên văn người Mỹ gốc Việt, đã phát hiện vật thể đầu tiên trong Vành đai Kuiper, hiện làm việc tại Phòng Thí nghiệp Lincoln tại Viện Công nghệ Massachusetts
  4. Nguyễn Ngọc Lưu Ly, Phó giáo sư đầu tiên của Việt Nam,  Phó Chủ nhiệm Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa tiếng Pháp, Đại học Ngoại ngữ-Đại học Quốc gia Hà Nội.
  5. Mai Kiều Liên, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII, Tổng Giám đốc Tổng Công ty Sữa Việt Nam (Vinamilk), 1 trong 50 nữ doanh nhân quyền lực nhất châu Á do tạp chí Forbes xếp hạng, 50 phụ nữ tiêu biểu châu Á
  6. Nguyễn Thị Mai Thanh, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Cơ điện lạnh (REE), 50 nữ doanh nhân quyền lực nhất châu Á 2014
  7. Phạm Thị Việt Nga, Chủ tịch Dược Hậu Giang, 1 trong 50 nữ doanh nhân quyền lực nhất châu Á do tạp chí Forbes xếp hạng
  8. Phạm Thị Thu Hương, người phụ nữ giàu nhất trên sàn
  9. Cao Thị Ngọc Dung, Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ)
  10. Nguyễn Hoàng Yến, Thành viên HĐQT Masan
  11. Thái Hương, Chủ tịch HĐQT TH True Milk
  12. Nguyễn Thị Nga (doanh nhân), Chủ tịch HĐQT SeABank
  13. Nguyễn Thị Nguyệt Hường, Đại biểu Quốc hội, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Đầu tư và Phát triển Việt Nam

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]