Hội thề Đông Quan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Hội thề Đông Quan diễn ra ngày 22 tháng 11 năm Đinh Mùi, tức ngày 10, tháng 12, năm 1427, giữa thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn Lê Lợi và chủ tướng quân Minh là Vương Thông, kết thúc cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, giành lại độc lập cho Đại Việt.[1][2][3]

Hoàn cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1426, nghĩa quân Lam Sơn chiếm được vùng đất đai rộng lớn từ Thanh Hóa trở vào phía nam, bao vây, cô lập 2 thành lớn là thành Nghệ An và thành Tây Đô (Thanh Hóa). Tháng 8, năm 1426, Lê Lợi sai 3 cánh quân tiến ra bắc, 3 cánh quân này thắng trận liên tiếp. Viên tướng giữ thành Đông Quan là Trần Trí cầu viện binh, 2 tướng Lý An, Phương Chính từ Nghệ An đem quân về cứu Đông Quan.

Vua nhà Minh sai Vương Thông đem 5 vạn quân sang tiếp viện, hội quân ở Đông Quan hơn 10 vạn quân. Tháng 10, năm 1426 Vương Thông bị đánh bại ở trận Tốt Động Chúc Động, Vương Thông rút vào Đông Quan cố thủ. Vương Thông thế cùng, muốn hòa, sau đó lại thay đổi ý định, đào hào, đắp lũy, gọi thêm viện binh.

Năm 1427, vua nhà Minh sai Liễu Thăng đem 10 vạn quân, Mộc Thạnh 5 vạn quân chia làm 2 đường cứu viện Vương Thông. Cánh quân Liễu Thăng bị đánh bại, Mộc Thạnh sợ hãi bỏ chạy. Vương Thông thế cùng phải mang thư đến nghĩa quân Lam Sơn xin cầu hòa. Tổng binh Vương Thông và nội quan Sơn Thọ nhà Minh sai viên thiên hộ họ Hạ mang thư đến giảng hoà, xin mở cho đường về.Lê Lợi chấp nhận, lại gởi tặng thổ sản và hải sản.[4][5][6]

Vương Thông xin giảng hòa nhưng vẫn do dự chưa quyết, đem hết quân trong thành ra đánh. Nghĩa quân Lam Sơn đặt phục binh rồi vờ thua chạy, quân Minh đuổi theo, tới ở phục binh, bị đánh tan. Vương Thông ngã ngựa, suýt bị bắt, nghĩa quân tiến quân đến cửa Nam thành, đắp bờ lũy chống giữ. Lê Lợi thân đốc các tướng đem quân đắp lũy từ phường Yên Hoa thẳng tới cửa Bắc thành Đông Quan. Quân Minh chỉ dám ở trong thành không dám ra. [7][8]

Vương Thông và Sơn Thọ bị vây cùng quẫn, lại xin hòa. Quốc dân đã bị cực khổ về sự quân Minh cai trị tàn ngược, xin cho đánh gấp, giết cho bằng hết. Lê Lợi đáp:

[9]

Rồi Lê Lợi cho hòa giải, lệnh cho lộ Bắc Giang và Lạng Giang, tu sửa đường sá để quân Minh về nước, sai Nguyễn Trãi soạn tờ biểu, lấy lời Trần Cảo là dòng dõi vua Trần, xin được làm vua. [10]

Nghĩa quân đưa thư trả lời Vương Thông, dùng Lê Quốc Trinh và Lê Nhữ Trì làm con tin.

Thái giám nhà Minh là Sơn Thọ, Mã Kỳ đến dinh Bồ Đề làm con tin; Lê Lợi sai con trưởng Lê Tư Tề và Lưu Nhân Chú vào thành Đông Đô làm con tin.[11]

Hội thề Đông Quan[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 22 tháng 11 năm Đinh Mùi, tức 10 tháng 12 năm 1427, Lê Lợi cùng các tướng nhà Minh: Tổng binh Thành Sơn hầu Vương Thông, Tham tướng Mã Anh, Thái giám Sơn Thọ, Mã Kỳ, Vinh Xương hầu Trấn Trí, An bình hầu Lý An, Đô ty Phương Chính, Chưởng đô ty sự Trần Tuyền, Trần Hựu, Giám sát ngự sử Chu Kỳ Hậu,Cấp sự trung Quách Vĩnh Thanh, Hữu bố chính sứ Dặc Khiêm, Tả hữu tham chính là Hồng Bỉnh Lương, Lục Trinh và Lục Quảng Bình, Án sát sứ Dương Thời Tập và Thiêm sự Quách Đoan làm hội thề ở cửa Nam thành Đông Đô. [12]

Vương Thông hẹn rằng đến ngày 12 tháng 12 thì đem quân về nước và sai người đem tờ trình xin trả lại đất đai cho nghĩa quân. Lê Lợi sai giải vây thành Đông Quân, kéo quân lui về, lại sai giải vây cho 3 thành: Tây Đô, Cổ Lộng và Chí Linh; truyền cho nghĩa quân hộ tống các tướng trong 3 thành trên dẫn quân về thành Đông Quan, để cùng về Trung Quốc.[13]

Ngày 29, tháng 11 năm Đinh Mùi, Lê Lợi sai Lê Thiếu Dĩnh, Lê Cảnh Quang đem tờ biểu cầu phong của Trần Cảo, cùng các vật phẩm theo viên chỉ huy do Vương Thông sai, sang triều Minh.[14]

Các tướng sĩ, người dân căm tức sự tàn ngược của quân Minh, bảo vua đem giết đi, Lê Lợi đáp rằng:

[15] [16]

Tháng 12, năm Đinh Mùi, Lê Lợi ra lệnh Cánh đường thủy, cấp 500 chiếc thuyền, cho Phương Chính, Mã Kỳ lãnh nhận. Cánh đường bộ, cấp lương thảo, cho Sơn Thọ, Hoàng Phúc lãnh nhận. Còn hơn 2 vạn người bị bắt hoặc đầu hàng và 2 vạn con ngựa thì do Mã Anh lãnh nhận. Chinh man tướng quân Trần Tuấn đem quân trấn thủ đi theo. Tất cả đều tới dinh Bồ Đề lạy tạ mà về.[17]

Ngày 12, tháng 12, Phương Chính, Mã Kỳ tới dinh Bồ Đề cáo biệt Lê Lợi, ở lại suốt một buổi chiều, Lê Lợi sai sắm trâu ngựa, trướng vẽ và lễ phẩm hậu tặng. [18]

Ngày 17, Vương Thông nhà Minh dẫn quân bộ đi sau. Vương Thông cùng vua nói chuyện từ biệt suốt đêm rồi đi. Vua sai đưa trâu rượu, cờ thêu, trướng vẽ cùng các lễ vật tiễn chân rất hậu. Quân thủy, bộ của ba thành Tây Đô, Cổ Lộng, Chí Linh cùng lục tục rút tiếp. Từ đây, việc binh đao dập tắt, khắp thiên hạ thái bình.[19]

Diễn biến sau Hội thề Đông Quan[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Thông về đến Long Châu, vua Minh đã liệu trước bọn Vương Thông cùng quẫn, việc đã đến thế, không làm thế nào được nữa, đành sai bọn La Nhữ Kính mang thư sang phong Trần Cảo là An Nam Quốc Vương, bãi bỏ quân nam chinh, ra lệnh cho Thông trở về Bắc, trả lại đất cho An Nam, việc triều cống theo lệ cũ năm Hồng Vũ, cho sứ thần đi lại.[20]

Tổng cộng 10 vạn quân Minh đã được hồi hương an toàn. Tác phẩm Bình Ngô đại cáo viết rằng:

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

[21]

Bình luận về việc Minh Tuyên tông ra lệnh bãi binh ở Đại Việt, sử gia Trung Quốc là Cốc Vĩnh Thái viết trong Minh sử kỷ sự bản mạt:

Vương Thông lực yếu mà phải xin hoà, Liễu Thăng lại sang rồi bị thua chết. Sau đó lại xuống chiếu sai sứ sang giao hảo và rút quân về, nhục nhã thực bằng Tân, Trịnh hội thề dưới chân thành, hổ thẹn ngang với Kính Đường cắt đất giảng hòa vậy"[22]


Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Khoa Học Xã Hội - Hà Nội, 1993, Tác giả Ngô Sỹ Liên, Dịch giả, Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam, bản điện tử, trang 352
  2. ^ Đại Việt sử ký toàn thư[1]
  3. ^ Đại Việt thông sử, tác giả Lê Quí Đôn, Dịch giả Ngô Thế Long, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 83
  4. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, sách đã dẫn
  5. ^ Đại Việt thông sử, sách đã dẫn
  6. ^ Đoạn này chúng tôi tóm tắt theo 2 sử liệu kể trên
  7. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, sách đã dẫn, trang 351
  8. ^ Đại Việt thông sử, sách đã dẫn, trang 81
  9. ^ Đại Việt thông sử, sách đã dẫn, trang 82
  10. ^ Đại Việt thông sử, sách đã dẫn, trang 81
  11. ^ Đại Việt thông sử, sách đã dẫn, trang 81
  12. ^ Đại Việt thông sử, sách đã dẫn, trang 83
  13. ^ Đại Việt thông sử, sách đã dẫn, trang 83
  14. ^ Đại Việt thông sử, sách đã dẫn, trang 84
  15. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, trang 354
  16. ^ Đại Việt thông sử, sách đã dẫn, trang 84
  17. ^ Đại Việt thông sử, sách đã dẫn, trang 84
  18. ^ Đại Việt thông sử, sách đã dẫn, trang 84
  19. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, sách đã dẫn, trang 353, 354
  20. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, sách đã dẫn, trang 354
  21. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, trang 360, sách đã dẫn, bản điển tự
  22. ^ Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 276.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đại Việt sử ký toàn thư, Khoa Học Xã Hội - Hà Nội, 1993, Tác giả Ngô Sỹ Liên, Dịch giả, Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam[1]
  • Đại Việt thông sử, tác giả Lê Quí Đôn, Dịch giả Ngô Thế Long, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976
  • Viện Sử học (2007), Lịch sử Việt Nam, tập 3, NXB Khoa học xã hội
  • Lam Sơn thực lục, Nhà xuất bản Tân Việt, 1956, dịch giả Mạc Bảo Thần.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đại Việt sử ký toàn thư[2]