Hứa An Hoa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hứa An Hoa
Director Ann Hui @ Broadway Cinematheque.JPG
Đạo diễn Hứa An Hoa năm 2008
Thông tin nghệ sĩ
Phồn thể許鞍華 (phồn thể)
Giản thể许鞍华 (giản thể)
Năm hoạt động1979 - nay
Giải thưởng
Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông
Đạo diễn xuất sắc nhất
1983 Thuyền nhân
1996 Nữ nhân tứ thập
2009 Ngày và đêm ở Thiên Thủy Vi
2012 "Đào Tỷ"
2015 "Hoàng Kim Thời Đại"
2018 "Minh Nguyệt Kỷ Thời Hữu"
Phim hay nhất
1983 Thuyền nhân
1996 Nữ nhân tứ thập
2000 Thiên ngôn vạn ngữ
Giải thưởng Kim Tử Kinh
Đạo diễn xuất sắc nhất
1996 Nữ nhân tứ thập
Giải thưởng Hiệp hội Phê bình Điện ảnh Hồng Kông
Đạo diễn xuất sắc nhất
2001 U linh nhân gian
2007 Di ma đích hậu hiện đại sinh hoạt
2008 Ngày và đêm ở Thiên Thủy Vi
Phim hay nhất
1995 Nữ nhân tứ thập
2007 Di ma đích hậu hiện đại sinh hoạt
2008 Ngày và đêm ở Thiên Thủy Vi
Giải Kim Mã
Đạo diễn xuất sắc nhất
1999 Thiên ngôn vạn ngữ
Phim hay nhất
1995 Nữ nhân tứ thập
1999 Thiên ngôn vạn ngữ

Hứa An Hoa (giản thể: 许鞍华; phồn thể: 許鞍華; bính âm: Xǔ Ānhuá; tiếng Anh: Ann Hui On-Wah; 23 tháng 5 năm 1947) là một nhà làm phim nữ của điện ảnh Hồng Kông. Bắt đầu tham gia điện ảnh từ năm 1979 trong vai trò đạo diễn, nhà sản xuất và biên kịch, Hứa An Hoa được coi là một trong những đại diện tiêu biểu nhất của trào lưu điện ảnh Làn sóng mới Hồng Kông, bà cũng là nữ đạo diễn nổi bật nhất của Hồng Kông từ thập niên 1980 cho tới nay với rất nhiều giải thưởng điện ảnh uy tín bao gồm 6 Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông cho Phim hay nhất cùng 6 giải khác cho Đạo diễn xuất sắc nhất. Hứa An Hoa vượt qua Đỗ Kỳ Phong và Phương Dục Bình giữ kỷ lục đạo diễn thắng giải nhiều nhất. Ngoài ra, bà còn có hai phim, Nữ Nhân Tứ Thập và Đào Tỷ, đạt giải ở 5 hạng mục chính: phim, đạo diễn, kịch bản, nữ chính và nam chính.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hứa An Hoa sinh năm 1947 tại An Sơn, Liêu Ninh, Trung Quốc, bà có bố là người Hoa và mẹ là người Nhật. Tuy sinh ở Trung Quốc nhưng ngay từ nhỏ bà đã được đưa sang Ma Cao rồi Hồng Kông. Tại đây Hứa An Hoa theo học phổ thông tại trường dòng danh tiếng St. Paul's Convent School rồi tiếp đó là Đại học Hồng Kông nơi bà lấy bằng thạc sĩ ngôn ngữ Anh và văn học đối chiếu trước khi sang Anh 2 năm để theo học về điện ảnh tại London Film School, một trong những trường đào tạo điện ảnh danh tiếng trên thế giới.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Trở về Hồng Kông năm 1975, Hứa An Hoa được hãng TVB mời về làm đạo diễn phim truyền hình và phim tài liệu và làm trợ lý cho đạo diễn nổi tiếng Hồ Kim Thuyên.

Năm 1978 bà thực hiện bộ phim ngắn đầu tiên có tựa đề Lai khách (來客) nói về một cậu bé thuyền nhân người Việt Nam, đây là bộ phim khởi đầu cho bộ ba phim về Việt Nam nổi tiếng của bà sau này. Năm 1979 Hứa An Hoa rời hãng TVB để đạo diễn bộ phim đầu tay, Phong kiếp (瘋劫) với sự tham gia của ngôi sao trẻ người Đài Loan Trương Ngải Gia. Tác phẩm này sau khi ra mắt đã ngay lập tức được đánh giá cao và đưa Hứa An Hoa vào nhóm dẫn đầu của trào lưu điện ảnh Làn sóng mới Hồng Kông cùng với các đạo diễn trẻ khác như Quan Cẩm Bằng, Đàm Gia Minh. Năm 1981 Hứa An Hoa thực hiện phần thứ hai của bộ ba phim Việt Nam với tựa đề Câu chuyện Hồ Việt (胡越的故事), bộ phim vẫn xuay quanh những vấn đề chính trị và xã hội nhạy cảm mà ít phim Hồng Kông nào trong giai đoạn này đề cập tới. Năm 1982 bà hoàn thành bộ ba phim Việt Nam với Thuyền nhân (投奔怒海). Đây được coi là tác phẩm thành công nhất trong bộ ba, nó đem lại cho Hứa An Hoa Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông ở cả ba hạng mục Phim hay nhất, Kịch bản hay nhất và Đạo diễn xuất sắc nhất.

Sau thành công lớn của Thuyền nhân, Hứa An Hoa tiếp tục cho ra đời những tác phẩm có chất lượng cao như Khuynh thành chi luyến (傾城之戀, 1984), chuyển thể từ tiểu thuyết của nữ nhà văn Trương Ái Linh và bộ hai phim võ hiệp chuyển thể từ tiểu thuyết Thư kiếm ân cừu lục của Kim DungThư kiếm ân cừu lục (書劍恩仇錄, 1987) và Hương Hương công chúa (香香公主, 1987). Năm 1990 Hứa An Hoa đạo diễn bộ phim mang nhiều chất tự sự Khách đồ thu hận (香香公主) trong đó nhân vật chính do Trương Mạn Ngọc thủ vai có nhiều điểm giống với cuộc đời của chính nữ đạo diễn. Khánh đồ thu hận đã được lựa chọn dự thi hạng mục Un Certain Regard tại Liên hoan phim Cannes 1990.

Sau 4 năm ngừng làm phim, năm 1995 Hứa An Hoa quay trở lại làng điện ảnh Hồng Kông với một tác phẩm gây tiếng vang lớn, Nữ nhân tứ thập (女人,四十。) đề cập tới những vấn đề của người phụ nữ ở tuổi trung niên. Đây là bộ phim giành nhiều chiến thắng nhất tại lễ trao Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông lần thứ 15 trong đó có giải Phim hay nhất và Đạo diễn xuất sắc nhất cho Hứa An Hoa cùng giải Biên kịch xuất sắc nhất, Vai nam chính và nam phụ xuất sắc nhất và Vai nữ chính xuất sắc nhất. Năm 1999 Hứa An Hoa có bộ phim thứ ba giành Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông cho Phim hay nhất, đó là Thiên ngôn vạn ngữ (千言萬語). Bộ phim tiếp theo của bà, U linh nhân gian (幽靈人間, 2001) đem lại cho Hứa An Hoa chiến thắng đầu tiên ở giải Đạo diễn xuất sắc nhất của Hội phê bình điện ảnh Hồng Kông. Năm 2006 bà tiếp tục quay trở lại đề tài về những người phụ nữ trung niên với Di ma đích hậu hiện đại sinh hoạt (姨媽的後現代生活), nữ diễn viên chính của phim là Tư Cầm Cao Oa giành Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông cho vai nữ chính nhờ tác phẩm này. Chu kì thành công của Hứa An Hoa vẫn tiếp tục với bộ phim năm 2008 Ngày và đêm ở Thiên Thủy Vi (天水圍的日與夜). Trong lễ trao Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông lần thứ 28, tác phẩm này đã đem lại cho Hứa An Hoa giải Đạo diễn xuất sắc nhất thứ 3, bà trở thành nữ đạo diễn Hồng Kông đầu tiên 3 lần chiến thắng ở hạng mục này ngang bằng với hai đạo diễn nam khác là Đỗ Kỳ PhongPhương Dục Bình.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa đề Tên gốc - Tên tiếng Anh Thể loại Vai trò Nội dung
1978 Sư Tử Sơn Hạ - Lai Khách 狮子山下 - 来客

Below the Lion Mountain

Phim truyền hình Đạo diễn
1979 Phong Kiếp The Secret Phim truyện Đạo diễn
1980 撞到正

The Spooky Bunch

Phim truyện Đạo diễn
1981 Hồ Việt Đích Cố Sự 胡越的故事

The Story of Woo Viet

Phim truyện Đạo diễn
1981 Đầu Bôn Nộ Hải 投奔怒海

Boat People

Phim truyện Đạo diễn
1984 Khuynh Thành Chi Luyến 倾城之恋

Love in a Fallen City

Phim truyện Đạo diễn
1986 Thư Kiếm Ân Cừu Lục 书剑恩仇绿

The Romance of Book and Sword

Phim truyện Đạo diễn

Biên kịch

1987 Hương Hương Công Chúa 香香公主

Princess Fragrance

Phim truyện Đạo diễn
1988 Kim Dạ Tinh Quang Xán Lạn 今夜星光线缆

Starry Is the Night

Phim truyện Đạo diễn
1990 Khách Đồ Thu Hận 客透秋恨

Song of the Exile

Phim truyện Đạo diễn
1990 Tiếu Ngạo Giang Hồ 笑傲江湖

The Swordsman

Đạo diễn

(uncredited)

1990 Thượng Hải Gia Kỳ 上海假期

My American Grandson

Phim truyện Đạo diễn
1991 Cực Đạo Truy Tung 极道追踪

Zodiac Killers

Phim truyện Đạo diễn
1993 Tiểu Nam Dữ Anh Hùng 小男与英雄

Boy and His Hero

Đạo diễn
1995 Nữ Nhân Tứ Thập 女人四十

Summer Snow

Phim truyện Đạo diễn
1996 A Kim Đích Cố Sự 阿金的故事

The Stunt Woman

Phim truyện Đạo diễn
1997 Bán Sinh Duyên 半生缘

Eighteen Springs

Phim truyện Đạo diễn
1997 Khứ Nhật Khổ Đa 去日苦多

As Time Goes By

Phim tài liệu Đạo diễn

Biên kịch

Giám chế

1999 Thiên Ngôn Vạn Ngữ 千言万语

Ordinary Heroes

Phim truyện Đạo diễn

Giám chế

2001 U Linh Nhân Gian 幽灵人间

Visible Secret

Phim truyện Đạo diễn

Giám chế

2002 Nam Nhân Tứ Thập 男人四十

July Rhapsody

Phim truyện Đạo diễn

Giám chế

2003 Ngọc Quan Âm 玉观音

Jade Goddess of Mercy

Phim truyện Đạo diễn
2006 Di Ma Đích Hậu Hiện Đại Sinh Hoạt 姨妈的后现代生活

The Postmodern Life of My Aunt

Phim truyện Đạo diễn

Biên kịch

2008 Thiên Thuỷ Vi Đích Nhật Dữ Dạ 天水围的日与夜

The Way We Are

Phim truyện Đạo diễn
2009 Thiên Thuỷ Vi Đích Dạ Dữ Vụ 天水围的夜与雾

Nigh and Fog

Phim truyện Đạo diễn

Giám chế

2010 Đắc Nhàn Sao Phạn 得闲炒饭

All About Love

Phim truyện Đạo diễn

Giám chế

2012 Đào Tỷ 桃姐

A Simple Life

Phim truyện Đạo diễn

Giám chế

2014 Hoàng Kim Thời Đại 黄金时代

The Golden Era

Phim truyện Đạo diễn
2017 Minh Nguyệt Kỷ Thời Hữu 明月几时有

Our Time Will Come

Phim truyện Đạo diễn

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]


Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]